Wednesday, January 6, 2010

Chùa Minh Tịnh - Quy Nhơn

Từ trên dốc ngay cửa ngõ vào thành phố Quy Nhơn, nếu du khách phóng tâm nhìn phía bên phải hướng về khu sân bay cũ sẽ nhìn thấy có một chóp tháp cao màu vàng. Đó là ngọn tháp của chánh điện chùa Minh Tịnh.

Chùa tọa lạc tại số 35 đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Năm 1914 (Giáp Dần), Hòa thượng Thích Huệ Pháp (1887 - 1975), đời thứ 40 thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh (Tổ Minh Hải), từ Quảng Ngãi vào Bình Định để tham học với Quốc sư Phước Huệ và Pháp sư Phổ Tuệ. Tại Quy Nhơn, Hòa thượng được hai Phật tử Trừng Quế và Trừng Quy cúng cho một thảo am nằm ở đồi cát khu 3 (khu Trung tâm thành phố hiện nay) để làm nơi tu học. Năm 1918, Hòa thượng đã xây dựng ngôi Tam bảo Minh Tịnh trên mảnh đất này.

Năm Bảo Đại thứ 19 (1944), chùa được Triều đình Huế ban biển ngạch ‘Sắc tứ Minh Tịnh tự’, và nhân dịp này Hòa thượng Huệ Pháp – người khai sơn ngôi chùa cũng được sắc ban Đạo Điệp Tăng cang. Hai câu đối hiện treo tại Tổ đường do Hòa thượng khai sơn trước tác liên quan đến sự kiện này như sau:

Câu đối 1:

Minh tư đạo, giác tư dân, trực chỉ vân phi thiên nguyệt lãng

Tịnh bổn tâm, chương bổn Phật, viên âm lôi hưởng hải phong triều.

Câu đối 2:

Minh cảnh tuyệt thân, sơ khứ giả bất lưu, lai bất cự.

Tịnh tâm vong ký, ức lâm hề phi tịch, thị phi huyên.

Đến năm 1962, do chiến tranh bùng nổ và phi trường Quy Nhơn (khu Trung tâm thành phố hiện nay) được thiết lập quy mô lớn hơn nên Chùa Minh Tịnh được dời về vị trí mới (tức địa chỉ của chùa hiện nay).

Từ năm 1963 đến nay, Thượng tọa Thích Trí Giác, Trưởng tử của Hòa thượng khai sơn, thừa kế trú trì và lần lượt trùng tu các công trình như: Cổng Tam quan, Tổ đường, Trai đường, Chánh điện, Tăng xá và một số hạng mục kiến trúc khác.

Đặc điểm kiến trúc của chùa hiện nay là kết hợp hài hòa văn hóa phương đông xưa và nay, dùng vật liệu xây dựng giả làm gỗ, trang trí phù điêu với những nét rất độc đáo và tạo không gian rất trang nghiêm thanh tịnh.

Những sinh hoạt Phật sự của chùa:

Năm 1961 mở Đại Giới Đàn truyền giới cho hàng Phật tử xuất gia và tại gia.

Từ năm 1965 đến năm 1974 thành lập trường dạy văn hóa phổ thông cho các lớp từ tiểu học đến trung học. Công việc này phần lớn do chùa tài trợ nên đã tạo cơ hội thuận lợi cho chư Tăng và con em đồng bào có điều kiện học tập.

Từ năm 1974 đến nay mở phòng thuốc đông y chữa trị các bịnh về nội thương và đặc biệt là trật, gãy xương. Con số bịnh nhân đã được chữa trị rất đáng kể.

Hàng năm vào những ngày lễ lớn chư Tăng và Phật tử đi thăm viếng ủy lạo tại các bệnh viện như: Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Phong Quy Hòa, Bệnh viện Tâm thần, và những nơi nuôi dưỡng người khuyết tật, trẻ em nhiễm chất độc màu da cam, bệnh AIDS ...

Hiện nay, hàng tuần Chùa tổ chức khóa tu Bát Quan Trai cho hàng Phật tử tại gia tu tập .

Một số hình ảnh tiêu biểu:


Cổng Tam Quan




Những hình ảnh của Chánh Điện mới

Chân dung Hòa thượng Khai sơn Tổ đình Minh Tịnh

HT Thích Trí Giác - Trú trì Tổ đình Minh Tịnh

Tháp chuông



Cổng lên Chánh điện

Mặt hông trái Chánh điện

Cổng vào nội viện

Saturday, January 2, 2010

Chùa Khánh Vân, Bangkok, Thailand

Chùa Khánh Vân – Wat Upairadbamrung (thuộc tông Annam tại Thái Lan) tọa lại tại số 864 đường Charoenkrung, khu Taladnoi, quận Sampanthavong, thủ đô Bangkok. Theo tài liệu còn lưu lại, Chùa do Hòa thượng Thích Chân Hưng khai sơn vào thời vua Mongkut – Rama IV. Đến năm PL.2420 tức năm DL.1878, Chùa được vua Chulalongkorn – Rama V ban sắc tứ cho chùa với tên là ‘Sắc Tứ Trấn Quốc Khánh Vân Thiền Tự’. Từ đó đến nay, chùa đã trải qua 6 đời trụ trì là: HT Thích Chân Hưng, HT Thích Tịnh (Thanh) Khiết, HT Thích A Nan, HT Thích Phổ Sái (HT còn để lại nhục thân hiện được thờ tại Tổ đường), HT Thích Phong Điều và HT trụ trì hiện nay Thích Minh Ân (Theo tập Kỷ yếu Khánh Thành trùng tu Chùa Khánh Vân năm PL.2543, do HT Minh Ân soạn). Tuy nhiên, cũng theo lời Hòa thượng trụ trì hiện tại thì trước HT Chân Hưng, chùa đã có rồi và cũng đã có 3 vị sư người Việt từng lưu trú. Do vì không tìm được tiểu sử 3 vị sư này và do chưa có biển ngạch sắc tứ với tên ‘Khánh Vân Tự’ nên tạm chấp nhận chùa do HT Chân Hưng khai sơn. Riêng về tên tiếng Thái Upairadbamrung thì chữ Upai có nghĩa là ‘hai’. Lý do là chùa được hai vua Rama IV và Rama V ủng hộ thành lập và ban biển ngạch sắc tứ.

Dưới đây là một số hình ảnh của chùa hiện nay:

Chánh điện Chùa Khánh Vân

Giảng đường và Tăng Xá
Mặt tiền Tổ đường

Tượng Phật trong Chánh Điện


Chư Vị Tổ sư
Nhục Thân HT Phổ Sái
Tháp Chuông
Tháp Trống

Dưới đây là một số hình ảnh vừa được trang trí tại lầu hai,
nơi tôn trí nhục thân HT và chư vị tổ sư











Friday, January 1, 2010

Một Thứ Tình

Buồi vui là những tâm trạng ai cũng có trong cuộc đời. Nguyên nhân thì vô vàn không sao nói hết và chỉ có tự thân mỗi người mới có thể hiểu được chính mình một cách sâu nhất.

Trong cuộc sống có những thứ mà chúng ta không bao giờ mua được. Tình bạn - một thứ tình cảm rất đẹp là một trong những thứ đó.

Khi còn nhỏ tôi đã có những suy nghĩ thật xa xôi. Tôi nghĩ rằng khi còn nhỏ anh chị em thương yêu nhau, đùa giỡn rất vui và hạnh phúc. Thế nhưng, khi lớn lên, khi mỗi người tự tạo cho mình một mái ấm riêng thì bắt đầu tình cảm bị chia sẻ và có khi rạn nứt. Thậm chí có những gia đình anh chị em vì tranh giành nhau của cải hay quyền lợi mà dẫn đến đánh nhau và trở thành thù địch nhau. Nghĩ đến đó tôi cảm thấy có một cái gì đó thật vô lý và cảm thấy cuộc sống thật buồn tẻ.

Thế rồi khi lớn lên, tôi chứng kiến một cảnh tượng hai người bạn rất thân nhau và lúc nào cũng bên nhau. Nhưng sau đó, một sự kiện gì đó xảy ra tôi không rõ lắm đã làm cho tình bạn ấy không còn nữa. Những hình ảnh vui vẻ thân nhau giờ đây không còn thấy. Họ không đi chung với nhau nữa và cũng không muốn gặp nhau nữa.

Một câu chuyện khác tôi cũng chứng kiến. Đó là tình pháp lữ của thầy tôi và một người thầy khác. Cũng một thời gian khá dài, họ luôn giúp đỡ nhau và cộng tác với nhau. Nhưng khi danh vọng xuất hiện thì tình pháp lữ ấy không còn nữa. Sự thật ấy đáng buồn và cũng không biết nói sao đây. Tôi không biết nguyên nhân gì và tại sao không thể khắc phục được. Sự chia rẻ ấy dẫn theo một lọt các hậu quả không tốt cho bản thân những người trong cuộc và cả những người liên hệ.

Tôi có dịp học từ Sư ông Nhất Hạnh pháp “thương yêu và hiểu biết” và tôi cảm thấy hay quá. Thế nhưng khi áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể thật không dễ chút nào nhất là khi không có môi trường giáo dục tốt. Điều Sư ông dạy sẽ rất thuận lợi khi có sự hợp tác với nhau giữa đôi bên và nó sẽ rất khó khăn khi chỉ có một bên thực tập.

Những khi áp dụng pháp môn ấy không thành công, tôi phát hiện ra rằng cuộc đời không đơn giản như mình hiểu. Nhưng cũng chính những trải nghiệm nho nhỏ ấy tôi có cơ hội nhìn lại mình nhiều hơn và nghĩ sâu hơn về nghiệp duyên. Tôi tự hỏi tại sao có những người được mọi người ưa thích và gần gũi, nhưng cũng có rất nhiều người lại không được như thế. Từ Kinh Thập Thiện và qua giáo lý nhân quả, tôi có thể lý giải được thắc mắc ấy. Tôi thấy rằng sự nổ lực chuyển hoá những cái xấu thành cái tốt là điều phải làm ngay. Tôi quán sát những gì mình đã làm và những gì đã xảy ra. Vâng, tôi phát hiện mình cần phải cố gắng nhiều hơn và thật khó vô cùng khi đối mặt với những nghiệp xấu.

Dẫu biết rằng cuộc đời là khổ đau, nhưng khổ đau ấy cũng chính do cuộc đời tạo ra. Chính do vọng tâm của mỗi người tạo nên cái khổ đau ấy. Tâm tạo nên sự thương yêu nhưng cũng tạo nên sự oán thù. Do vậy, huấn luyện cho tâm được thuần thục dễ thương thì cuộc sống sẽ bớt khổ đi rồi.