Wednesday, April 14, 2010

Hình ảnh Tết SongKan ở Thái Lan


















Hình ảnh tại Trung tâm thiền, Phetchabun, Thái Lan

Theo chương trình bắt buộc, mỗi sinh viên theo hoc chương trình thạc sĩ thuộc trực thuộc international graduate school phải hành thiền 1 tháng. Năm 2008, lớp chúng tôi được sự hướng dẫn của các giáo sư và thiền sư đã trải qua một tháng hành thiền đầy thú vị. Dưới đây là vài hình ảnh ghi lại kỷ niệm:























Monday, April 12, 2010

Hòa thượng THÍCH HUỆ PHÁP (1887 – 1975)

Hòa thượng Thích Huệ Pháp, thế danh Nguyễn Lộ, sinh ngày 13 tháng 8 năm Đinh Hợi (1887), tại thôn Bồ Đề, xã Đức Quang, nay là xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Thân sinh là cụ Nguyễn Vĩnh, một bậc lão nho tinh thông cả Dịch lý, toán số, suốt đời mở lớp gia giáo phổ biến Nho học, cả vùng Mộ Đức – Đức Phổ có đến hàng trăm môn đệ của Người, người dân Quảng Ngãi đương thời không ai là không nghe đến tên cụ; Thân mẫu là cụ bà Lê Thị Long, con của một lão nho trong làng. Ngài là con trai thứ trong gia đình bốn anh chị em, trưởng huynh mất sớm, chị cả là thân mẫu Hòa thượng Khánh Anh, bậc cao Tăng lương đống của Phật giáo Việt Nam.

Thiếu thời Ngài học chữ nho của thân sinh. Ngài thường được cụ bà dắt đi chùa Cảnh Tiên gần nhà để lễ Phật và nghe Đại lão Hòa thượng Hoằng Thanh giảng đạo; Ngài cũng được cụ Nguyễn Vĩnh dắt về Tổ đình Thiên Ấn – Thạch Sơn học hỏi giáo lý của quý Đại lão Hòa thượng Hoằng Tịnh, Hoằng Thạc, Hoằng Đức. Từ môi trường này, Ngài được gặp và tham gia chống Pháp với nhóm cách mạng do nhà chí sĩ Trần Cao Vân và cụ Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo.

Năm Kỷ Dậu 1909, lúc 22 tuổi Ngài xin phép song thân cho xuất gia với Đại lão Hòa thượng Hoằng Thanh tại chùa Cảnh Tiên, được Bổn sư cho thọ giới Sa di và ban pháp danh là Chơn Phước. Ngài tinh cần chấp tác học tập qui tắc thiền môn, ngõ hầu làm long tượng Phật pháp cho tương lai.

Năm Tân Hợi 1911, Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Tổ đình Thiên Ấn và là Thủ Sa di tại giới đàn này. Năm ấy Ngài 24 tuổi, được truyền Tổ ấn với pháp tự là Đạo Thông. Sau khi đắc giới, Ngài tiếp tục tu học tại Tổ đình Thiên Ấn – Thạch Sơn.

Năm Giáp Dần 1914, Ngài đi vào Bình Định để tham học với Quốc sư Phước Huệ và Pháp sư Phổ Huệ. Duyên lành đã đến, Ngài gặp hai Phật tử Trừng Quế, Trừng Qui cúng cho Ngài một thảo am tại đồi cát ở khu 6, thành phố Qui Nhơn để tu học.

Năm Đinh Tỵ 1917, Ngài được chư Sơn thỉnh làm Đệ nhất Tôn chứng Giới đàn chùa Trường Giác, Tuy Phước, Bình Định. Uy tín và đạo hạnh của Ngài lan rộng, nhờ sự phát tâm của tín đồ nên từ một thảo am, Ngài đã xây dựng thành ngôi Tam bảo Minh Tịnh được trang nghiêm vào năm Mậu Ngọ 1918.

Năm Giáp Tý 1924, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A Xà Lê tại Giới đàn chùa Linh Phong, Phù Cát, Bình Định. Đến năm Bính Dần 1926, Giới đàn chùa Phước Quang, Quảng Ngãi cung thỉnh Ngài làm Yết Ma A Xà Lê.

Năm Đinh Mão 1927, Ngài được thỉnh làm Chánh Ký trường Hương chùa Long Khánh, Qui Nhơn, kiêm Giáo thọ Sư cùng quý Ngài : Trí Hải chùa Bích Liên; Như Phước chùa Liên Tôn; Hoằng Thông chùa Bạch Sa, dưới quyền Chủ giảng của Quốc sư Phước Huệ. Cùng năm này, Lưỡng Xuyên Phật học đường miền Nam thỉnh Ngài vào làm Chủ giảng, Ngài đã cho Pháp sư Khánh Anh là một học trò ưu tú nhất vào đó để thay Ngài.

Năm Nhâm Ngọ 1942, Ngài được chư Sơn thiền đức tỉnh Bình Định cung thỉnh vào ngôi Yết Ma A Xà Lê trong Đại giới đàn chùa Thiên Đức, huyện Tuy Phước.

Năm Giáp Thân 1944, tức năm Bảo Đại thứ 19, Ngài được triều đình Huế sắc chỉ khâm ban đạo điệp Tăng Cang và sắc tứ Biển Ngạch chùa Minh Tịnh.

Năm Ất Dậu 1945, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Ngài tham gia mặt trận kháng chiến và được bầu làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bình Định.

Năm Đinh Hợi 1947, Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh giới đàn chùa Thiên Bình, An Nhơn, Bình Định.

Năm Đinh Dậu 1957, tại Đại giới đàn chùa Nghĩa Phương – Nha Trang, Ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đường đầu truyền giới. Cùng năm, Hội Phật giáo Tịnh độ Tông thỉnh Ngài ngôi vị Chứng minh Đại Đạo sư Trung phần.

Năm Kỷ Hợi 1959, Hội Phật giáo Cổ truyền Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử thỉnh Ngài làm Chứng minh Đạo sư Trung phần.

Năm Nhâm Dần 1962, chư Sơn thiền đức tỉnh Bình Định tổ chức Đại giới đàn tại Tổ đình Minh Tịnh, cung thỉnh Ngài làm Hòa thượng Đường đầu truyền giới.

Ngài là vị Pháp sư, Tuyên Luật sư chuyên giảng kinh, luật, luận cho các trường Giới, trường Hạ, trường Hương và được cung thỉnh làm Giáo thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê và Đường đầu Hòa thượng cho nhiều giới đàn khắp nơi Trung, Nam phần.

Ngài đã khai sơn và chủ trương tái thiết, trùng tu hàng trăm tự viện. Đệ tử xuất gia hàng trăm vị, có nhiều vị xuất chúng là bậc long tượng Phật pháp, lãnh đạo Giáo hội. Đệ tử tại gia của Ngài có đến hàng vạn người.

Một phần ba cuộc đời của Ngài tuy có nhiều ảnh hưởng chính trị trong công cuộc chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng nhờ giáo lý Phật đà thấm sâu, Ngài đã hiến trọn vẹn cuộc đời phục vụ cho đạo pháp.

Công hạnh viên mãn, tâm ý hoan hỷ, thân không bệnh tật, Ngài viên tịch lúc 11 giờ ngày 11 tháng 11 năm Ất Mão 1975, thế thọ 89 năm, đạo thọ 65 Hạ lạp. Tháp tàng nhục cốt của Ngài ở hướng Nam chùa Minh Tịnh, thành phố Quy Nhơn.

Trích từ “TIỂU SỬ DANH TĂNG VIỆT NAM THẾ KỶ XX” Tập II

Thích Đồng Bổn Chủ biên

Chùa Long Khánh Quy Nhơn

Chùa LONG KHÁNH là một ngôi Tổ Đình danh lam thắng cảnh lịch sử của tỉnh Bình Định, được xây dựng năm 1700, do Tổ sư Đức Sơn người Trung Quốc khai sơn đến nay được 300 năm, truyền thừa được 14 đời chủ trì. Ngôi chùa nằm trên một khu đồi cao của TP Quy Nhơn. Diện tích trên 1 ha, toạ lạc tại số: 141 Trần Cao Vân, phường Trần Hưng Đạo, TP Quy Nhơn, hiện nay là Văn phòng Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Bình Định.

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, những biến thiên của thời đại và bao cuộc chiến tranh tàn phá, nên những bút ký, di tích ghi về sử liệu của chùa bị tiêu huỷ và thất lạc. Hôm nay ghi lại lịch sử của ngôi Tổ Đình này, chúng tôi dựa theo một số Tự Tích, Long vị còn lưu lại và xin được ghi vài nét lịch sử như sau:


Picture101.jpg

Tượng Phật A Di Đà lộ thiên trước chánh điện chùa Long Khánh

1. TỔ SƯ KHAI SƠN:

Chùa Long Khánh được khai sáng bởi Tổ sư Đức Sơn, Huý Hải Khiển, dòng pháp Lâm Tế đời thứ 35. Ngài là người Trung Hoa, sinh năm Kỷ Mùi (1679) và viên tịch ngày mồng 2 tháng 12 năm Tân Dậu (1741). Ngài sang Việt Nam đến thôn Vĩnh Khánh, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Ninh. Nơi đây Ngài đã dừng chân và kiến lập ngôi chùa này. Dựa trên năm sinh và năm viên tịch của Ngài, chúng ta có thể đoán được Ngài sang Việt Nam và lập cảnh chùa này, lúc Ngài khoảng 30 tuổi, tức thời vua Lê Dụ Tông đời Hậu Lê (1706 - 1729). Trong thời gian này, cũng có nhiều nhà sư Trung Quốc sang Việt nam và vào thẳng Miền Trung lập chùa truyền đạo như Tổ sư Nguyên Thiều, khai sáng chùa Thập Tháp (Bình Định), Ngài Minh Hoằng Tử Dung khai sáng chùa Ấn Tôn (Từ Đàm - Huế), Ngài Minh Hải Pháp Bảo chùa Chúc Thánh Hội An, Ngài Tế Viên chùa Hội Tôn Phú Yên...Sự nghiệp khai sáng ngôi chùa Long Khánh do Tổ sư Đức Sơn đã truyền bá đạo pháp trong quần chúng bằng đức độ và sức học thuyết uyên bác của Ngài. Sau khi Ngài viên tịch, sự nghiệp được truyền trao cho HT Tế Thành thừa kế.

2.HT TẾ THÀNH: (đời thứ 36, dòng Lâm Tế)

Ngài hiệu là Lộc Kỳ, đệ tử của Tổ sư Đức Sơn dòng pháp Lâm Tế đời thứ 36.

3.VỊ TRỤ TRÌ ĐỜI THỨ 3: (đời thứ 38, dòng Lâm Tế), hoàn toàn mất di tích, không rõ họ tên

4.HT TỊCH THỌ: (đời thứ 38, dòng Lâm Tế)

Ngài tên thật là Nguyễn Trinh Tường, thời Ngài làm trụ trì đã làm nhiều Phật sự đáng kể, như trùng tu chùa và đúc Đại Hồng Chung tên THÁI BÌNH HỒNG CHUNG vào năm Ất Sửu (1805) và từ năm Gia Long thứ 9 đến 14 (1811 - 1816), Ngài đã khia khẩn thêm 8 mẩu ruộng.

5.HT TÁNH TÔN: (đời thứ 39, dòng Lâm Tế)

Ngài hiệu Thiên Khánh, sinh năm 1768, thừa kế sự nghiệp Ngài Tịch Thọ, Ngài xây thêm Đông và Tây đường để dung nạp Tăng chúng thường trụ tu học.

6.HT HẢI HUỆ: (đời thứ 40, dòng Lâm Tế)

Ngài hiệu Ngài Chánh Đạo, thừa kế sự nghiệp của Ngài Thiên Khánh.

7.HT CHÁNH NGUYÊN: (đời thứ 40, dòng Lâm Tế)

Ngài thừa kế Ngài Chánh Đạo, Ngài đã có công tu bổ và giáo Tăng Tín đồ tu học.

8.HT CHÁNH NGUYÊN: (đời thứ 40, dòng Lâm Tế)

Ngài hiệu là Chí Thanh, Ngài cũng thuộc dòng pháp thứ 40, sanh năm 1818 và viên tịch năm 1886, trụ trì thừa kế sự nghiệp của HT Chánh Nguyên.

9.HT THANH CẦN: (đời thứ 41, dòng Lâm Tế)

Ngài hiệu Quảng Diễn, sinh năm 1849, uy tín và đạo đức của Ngài rất nổi tiếng, lúc HT Phước Huệ có Phật sự đi xa, Chư Sơn trong tỉnh công cử Ngài xử lý trụ trì trông coi Tổ Đình Thập Tháp trong 2 năm, Ngài đã tận tuỵ giáo dục Chư Tăng của 2 ngôi Tổ Đình đều viên mãn.

10.HT CHÁNH NHƠN: (đời thứ 42, dòng Lâm Tế)

Ngài huý Trừng Chấn, sinh năm 1874 và viên tịch năm 1948, thế thọ 74 tuổi, hạ lạp 54. Sự nghiệp của Ngài rất đáng kể và nổi tiếng như:

- Trùng tu Đông và Tây đường.

- Mở Trường hương 3 tháng vào năm 1920, giảng dạy cho Chư Tăng Ni và truyền trao giới pháp (Giới đàn). Lúc đó có HT Tuyên Linh (Khánh Hoà) và sư Thiện Chiếu, quý Ngài đều là người Miền Nam ra Bắc tu học, trên đường trở về các Ngài vận động và truyền bá tư tưởng Chấn hưng Phật Giáo theo đường hướng mới của Ngài Thái Hư Đại Sư.

- Năm 1934 - 1940, Hội An Nam Phật học ra đời, cơ quan diễn giảng và thi hành Phật sự của Hội được chọn tại chùa Long Khánh, Hội đã hướng dẫn và đào tạo quần chúng tu học đông đảo.

- 1939 - 1940, mở Phật học đường, cung thỉnh HT Phước Huệ, trụ trì chùa Thập Tháp làm chủ giảng. Chư Tăng ở Miền Nam, như HT Thiện Hoà, HT Huyền Tân, ở Phan Rang có HT Hành Trụ, HT Hành Long, Phú Yên có TT Phước Trí cùng về tu học. Các tỉnh lân cận, như Phú Yên, Khánh Hoà, Quảng Ngãi cũng đều đến tham học. Sau đó Ngài tiếp tục theo học Phật học đường tại Huế.

- Năm 1946, cuộc chiến ác liệt giữa Pháp Việt, Chư Tăng cả bản tự, cũng như đồng bào đều tản cư về thôn quê tạm lánh bom đạn. Đầu năm 1948, mới về hồi cư. Cũng rằm tháng 7 năm ấy, HT Chánh Nhơn viên tịch, Tăng Tín đồ chịu tang Ngài trong hoàn cảnh chiến tranh vô cùng đau đớn, chiến tranh lại tiếp diễn, lệnh tản cư được ban hành, chúng Tăng lại tiếp tục tản cư một lần nữa.

Trước cảnh ra đi, ai ai cũng bùi ngùi xót xa, vội vàng di tản mà chẳng mang theo vật gì, dù đó là Phật tượng pháp khí hay vật phòng thân.

11.TT HUỆ PHƯỚC: (đời thứ 43, dòng Lâm Tế)

Khi HT Chánh Nhơn viên tịch, thầy Huệ Phước hiệu Tâm Không kế vị trụ trì, được một thời gian, thầy truyền lại cho TT Tâm Luật.

12.TT TÂM LUẬT: (đời thứ 43, dòng Lâm Tế)

Ngài hiệu Huệ Lãng (thường gọi là Thầy Na), là vị kế tục trụ trì chùa Long Khánh từ năm 1952 - 1962, đình chiến chúng Tăng trở về thì cảnh chùa đã điêu tàn hoang phế, chỉ còn những đống gạch vụn, Phật tượng bị đập bể, tài sản pháp khí đều mất hết, đến nổi phải lượm chai để cắm hoa cúng Phật, dùng lon sữa thay lư hương, chén bát, lấy cành cây làm đũa và không một chiếc chiếu lót nằm, thật là tiêu điều cho cảnh người về.

13.HT TÂM HOÀN: (đời thứ 43, dòng Lâm Tế)

Ngài huý Tâm Hoàn hiệu Huệ Long tự Giải Qui, Người có công lớn trong việc kiến thiết trùng tu Tổ Đình và giáo dục Tăng Ni tỉnh nhà.

- Ngày 24.9.1957, HT Huệ Chiếu, trưởng Môn Phái hiệp cùng Bổn tự quyết trùng tu lại ngôi Tổ Đình bằng cách bán ruộng chùa (tất cả 10 mẫu 7 sào, 6 thước 3 tấc), cùng sự hoan hỷ đóng góp công đức của chư Thiện tín để sử dụng trong việc trùng tu này. Kể từ năm 1957 - 1976, tất cả quang cảnh Phật tượng Pháp khí đều hoàn toàn mới tạo lập, đó là công trình xây cất, kiến thiết liên tục trong vòng 20 năm qua. Công đức xây dựng này đều do HT Tâm Hoàn. Suốt 20 năm dài, ngoài việc lo giáo dục chúng Tăng tại bản tự, làm giáo thọ các Phật học viện trong tỉnh, lại thêm gánh nặng cùng Chư Tôn giáo phẩm lo chèo lái con thuyền Giáo Hội vững bền trong những thời điểm khó khăn của Phật giáo

- Chánh điện và toàn bộ các khu nhà hiện tại, các chuông trống đều do Ngài xây dựng. Tượng A DI ĐÀ lộ thiên cao 17 mét được xây dựng năm 1972, do công đức HT - trong thời gian xây dựng là lúc chiến tranh tại Miền Nam leo thang nặng nề, nhưng với sự quyết tâm và sự gia bị của 10 phương Chư Phật, Long Thiên Hộ Pháp đã thành tựu viên mãn. Cũng trong thời gian ấy Ngài đã vào Nha Trang đúc Đại Hồng Chung cao 1m6, nặng 700 kg, tên GIÁC THẾ MỘNG CHUNG. Với ý nghĩa như bài thơ chính Ngài đã cảm tác sau đây:

Thức tỉnh non sông một tiếng hoà,
Hồng chung vang dội khắp gần xa,
Ngân lên tiếng nói tình huynh đệ,
Gà gáy tin vui đến mọi nhà.

Suốt cuộc đời Ngài hiến dâng cho Đạo Pháp và dân tộc, cơ duyên giáo hoá đã mãn, Ngài đã viên tịch vào ngày 07.3 năm Tân Dậu (1981), trụ thế 58 tuổi, hạ lạp 38. Ngài ra đi để lại cho môn đồ Phật Tử sự thương tiếc khôn nguôi.

14.HT NGUYÊN PHƯỚC: (đời thứ 44, dòng Lâm Tế)

HT hiệu Minh Đức, năm 1981, đã thừa kế sự nghiệp của bổn sư truyền lại. HT đã cùng với TT Thích Nguyên Chơn hiệu Minh Quả cố gắng duy trì và tiếp tục xây dựng những công trình phụ còn dang dở.

Năm 1989 đến nay, đã xây dựng thêm các nhà Tăng ngõ hầu để phục vụ khách Tăng và làm nơi sinh hoạt tu học cho Tăng chúng. Tương lai còn dự định xây thêm nhà Đông - Đông đường, xây dựng quá lâu, nay đã xuống cấp nặng nề, nhưng cơ duyên chưa đủ, nên việc trùng tu chưa thực hiện. Quang cảnh chùa Long Khánh nay khác hẳn ngày xưa, nhưng vẫn còn những đường nét cơ bản để đánh dấu một ngôi Tổ Đình, đã trải qua những cơn thăng trầm thay đổi của thế cuộc. Ngày nay những di tích còn sót lại để chứng minh rằng chùa đã kiến tạo từ lâu.

- Những ngôi tháp của các HT viên tịch còn hiện diện với những nét cũ kỹ lâu đời qua thời gian: phía Tây có tháp Ngài Viên Khánh, HT Chí Thanh, HT Chánh Nhơn, phía Đông só tháp HT Quảng Diễn, Đông Bắc có tháp quý HT, TT trong bản tự từ các đời trước.

- Trong Tổ đường có các Linh vị của các HT nối tiếp trụ trì và chư Tăng trong bản tự viên tịch.

- Thái Bình Hồng Chung do Ngài Tịch Thọ kiến tạo năm 1805 còn đó.

- Tấm bản đề "LONG KHÁNH TỰ" năm Quý Dậu, đời Gia Khánh (1813).

- Tấm Khánh dùng để khai hiệu lệnh được đúc năm Kỷ Mùi (1739), thuộc đời Ngài Đức Sơn.

- Kỷ niệm Vua phong ban hiệu ngôi chùa là năm Bảo Đại thứ 16, có 2 tấm Liễng treo ở Tổ đường.

- Hai tấm biển kỷ niệm mở Trường hương và trùng tu ngôi chùa đời Ngài Chánh Nhơn.

Những câu đối tôn trí tại chùa Long Khánh:

Photobucket Photobucket

Photobucket Photobucket

TRỜI TRONG MUÔN SẮC, ĐÂU NGẠI CÓ KHÔNG, XE PHÁP MÃI QUAY ĐƯỜNG PHẬT ĐẠO.
NƯỚC BIẾC NON XANH CHẲNG HỀ ĐỘNG TỊNH, PHÁP MÔN VANG DỘI TIẾNG TRIỀU ÂM.

ĐỨC TỐT TỪ TÂM SANH, MUÔN LOẠI HÀM LINH, NƠI NƠI ĐỀU BỦA KHẮP.

MÂY LÀNH THEO PHƯỚC TRỤ, BA NGÀN THẾ GIỚI, CHỐN CHỐN THẢY MÂY CHE.

(Sưu tầm)

Monday, April 5, 2010

Nhà Sư Lái Xe Mướn Nuôi Trẻ Bất Hạnh

By Viên Hòa on 06 Aug 2009, 21:02

Lần mò theo sự chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm đến Nhà Tình thương An Lạc. Vượt qua hơn cây số đường đất đỏ sình lầy mới vào được tới nơi. Thấy chúng tôi đến, các em nhỏ chạy ùa ra sân chắp tay chào rất lễ phép. Đang cùng các em nhỏ dọn dẹp khu nhà ở, phủi vội lớp bụi trên hai ống tay áo, thầy Thích Hạnh Trung dẫn chúng tôi vào ngôi nhà mát bên ngoài vườn xoài rợp bóng. Tự tay rót nước mời khách, thầy Hạnh Trung chậm rãi nói về công việc từ thiện khá đặc biệt của mình.

Image
Ngày ngày, thầy Hạnh Trung vẫn tự mình chuẩn bị bữa ăn cho trẻ. Ảnh: TRẦN VĂN THI



Đại đức Thích Hạnh Trung quy y đã hơn 20 năm. Buổi ban đầu, thầy theo học đạo và tu dưỡng tại Tu viện Vĩnh Đức (Q2, TPHCM). Ngoài việc tu hành, thầy còn học thêm nghề lái xe và được ban quản lý giao trách nhiệm đưa đón các tăng ni phật tử của tu viện và các vị khách có liên quan mỗi khi có việc cần kíp.

Tận mắt chứng kiến hình ảnh đáng thương của trẻ em mồ côi, khuyết tật, cơ nhỡ trong những chuyến đi công tác cùng các đoàn cứu trợ, vị sư trẻ đã nuôi dưỡng ý tưởng xây dựng một ngôi nhà tình thương để cưu mang các em nhỏ có số phận kém may mắn.

Suốt 8 năm trời theo học trung cấp rồi cao đẳng phật học tại chùa Vĩnh Nghiêm (Q3,TPCHM) cũng là 8 năm thầy Thích Hạnh Trung trăn trở suy nghĩ tìm cách thực hiện ý tưởng cao đẹp này dù chỉ có hai bàn tay trắng.

“Mình đúng là cũng có cái duyên làm từ thiện”, đại đức Hạnh Trung cười nói. Năm 2000, lúc tốt nghiệp cao đẳng phật học thì một tin vui bất ngờ đến với vị sư trẻ đầy nhiệt huyết này. Một chị Việt kiều ở Đức khi nghe thầy tâm sự về ước nguyện của mình, đã dùng toàn bộ số tiền tiết kiệm mua hẳn khu đất rộng 8.000m2 bàn giao lại cho thầy. Khu đất tọa lạc tại ấp Bàu Lâm, xã Lộc An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Có đất, thầy lại tất tả ngược xuôi khắp nơi, trình bày ý định của mình với các nhà hảo tâm, nhiều người đã tự nguyện đóng góp tiền, vật chất giúp xây dựng cơ sở ban đầu với căn nhà lợp tôn hơn 100m². Cái tên “Nhà tình thương An Lạc” chính thức ra đời.

Không thể dựa mãi vào các nhà hảo tâm, sẵn có nghề lái xe, đại đức Hạnh Trung suy nghĩ và đi đến một quyết định táo bạo, nhờ một mạnh thường quân giúp vay vốn mua một chiếc xe làm phương tiện chở khách thuê, “kiếm cơm” nuôi trẻ. Suốt từ năm 2001 đến nay, thầy Thích Hạnh Trung miệt mài cầm vô lăng chỉ với một mục đích là có nguồn thu nhập để lo cho các em cơ nhỡ mà thầy “mắc nợ”. Đồng thời tằn tiện tiết kiệm xây thêm nhiều công trình khác như tường, cổng rào, nhà bếp, nhà nghỉ, nơi sinh hoạt cho trẻ. Hiện tại chi phí cho hoạt động của mái nhà tình thương này cộng với lãi suất ngân hàng mỗi tháng lên gần 20 triệu đồng, tất cả đều nhờ vào những cuốc xe của đại đức Hạnh Trung.

Nuôi hơn 30 trẻ em mồ côi, khuyết tật, lớn có, nhỏ có nhưng thầy Hạnh Trung lại không kêu gọi sự giúp đỡ hoặc thuê mướn ai. Hàng ngày, những lúc rảnh rỗi, không có hợp đồng chạy xe, thầy cùng với các em lớn tự tay nhặt rau, nấu cơm để vừa giáo dục ý thức thương yêu người đồng cảnh ngộ, vừa tập cho các em tính tự lực trong cuộc sống. Chia tay vị sư trẻ 37 tuổi này tâm sự: “Mình định sau này cho tổ chức hay cá nhân nào đó thuê lại chiếc xe để có thời gian ở nhà chăm sóc các em nhỏ, đi hoài bỏ tụi nhỏ ở nhà, mình thấy chưa làm tròn trách nhiệm…”.

Theo SGGP
Nguồn: (http://thanhnienphattu.net/forum/viewtopic.php?f=56&t=2753)

Tái Sinh Hoạt GĐPT Phú Thọ

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Nhân ngày vía Bồ Tát Quán Thế Âm (19-02), Ban huynh trưởng tổ chức Lễ ra mắt GĐPT Phú Thọ

Vào lúc 8h30 ngày 04 tháng 4 năm 2010 (nhằm ngày 20 tháng 02 năm Canh Dần)

Cung nghinh Chư Tôn Đức chứng minh :

- Hoà thượng Thích Trí Giác, Uỷ viên thường trực BTS Phật giáo tỉnh Bình Định, Chánh đại diện Phật giáo TP Quy Nhơn

- Đại đức Thích Quảng Thức, Uỷ viên thường trục BTS, Trưởng ban văn hoá Phật giáo Bình Định, Cố vấn giáo hạnh GĐPT Hương Mai

- Đại đức Thích Quảng Châu, Cố vấn giáo hạnh GĐPT Hiển Nam

-Đại đức Thích Quảng Long, Cố vấn giáo hạnh GĐPT Linh Sơn

-Đại đức Thích Thị Ân, Cố vấn giáo hạnh GĐPT Hoà Đồng

-Đại đức Thích Hạnh Viên, Cố vấn giáo hạnh GĐPT Huệ Khánh

- Đại đức Thích Thị Tấn, Cố vấn giáo hạnh GĐPT Phú Thọ

-Đại đức Thích Vạn Tín, Trú xứ chùa Phú Thọ

Tham dự có các đại diện:

-Ông Trần Thắng, Chủ tịch mặt trận tổ quốc phường Bùi Thị Xuân

-Bà Nguyễn thị tường Vi, Phó chủ tịch UBND phường Bùi Thị Xuân

- Cư sỹ Nguyên Hiệp-Nguyễn văn Đệ, Uỷ viên BHD phân ban GĐPT TW, Phó phân ban hướng dẫn GĐPT Bình Định

-Gia trưởng - BHT GĐPT Xá Vệ; Gia trưởng-BHT GĐPT Hiển Nam; Gia trưởng GĐPT Hoà Đồng; BHT và Đoàn sinh GĐPT Linh sơn; BHT và Đoàn sinh GĐPT Hương Mai; HT và Đoàn Ngành Thanh GĐPT Kỳ Hoàn; BHT GĐPT Phước Hưng ...

- Nhạc sỹ Tâm Niệm Châu Đức Khánh, Cựu HT GĐPT

- Đạo hữu chùa Minh Tịnh; Đạo hữu chùa Phú Thọ

Anh Quảng Thiên - Trần Hữu Thuận : Thông qua chương trình, tuyên bố lý do

Lễ Phật, Lễ Gia đình, Dâng hoa chào mừng

Đại đức Thích Thị Tấn trú trì chùa Phú Thọ, Cố vấn giáo hạnh GĐPT Phú Thọ đọc quyết định công nhận BHT:

*Trần Văn Thu - Quảng Lai, Gia trưởng

*Trần Văn Nhơn - Nguyên Thọ, Liên đoàn trưởng

*Trần Hữu Thuận - Quảng Thiên, Thư ký

*Phan Thị Ngọc Thuý - Đồng Thanh, Thủ quỹ

*Đinh Công Hoà - Đồng Thuận, Đoàn trưởng Thiếu nam

*Hà Thị Thu Thuỷ - Đồng Lưu, Đoàn trưởng Thiếu nữ

*Lê Thị PhươngVân - Đồng Văn, Đoàn trưởng Oanh vũ nữ

Trao chức vụ cho BHT

Huấn từ và công nhận của phân ban hướng dẫn GĐPT Bình Định

Bà Tường Vi- Phó chủ tịch UBND Phường phát biểu chúc mừng

Giáo từ của Hoà thượng Chánh đại diện

Chúc từ của Đại đức cố vấn giáo hạnh

Lời cảm tạ - Hồi hướng

Chương trình Lễ ra mắt tái sinh hoạt GĐPT Phú Thọ - Tổ 3 khu vực 7 Phường Bùi thị Xuân TP Quy Nhơn kết thúc vào lúc 10h30 trong ngày.

" LÝ TƯỞNG : CHỈ HƯỚNG CHO THUYỀN ĐỜI - NỞ HOA TRONG CUỘC SỐNG"

Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/nguyenbinhhiennam/article?mid=698&prev=-1&next=691