Wednesday, February 2, 2011

Cái Tết tuổi thơ

Tết trong tâm trí của tôi lúc còn tuổi thơ thật là trong trắng, ngây ngô và thơ mộng. Những tâm trạng chờ đợi, háo hức, mong mỏi cái Tết như ngự trị trong tâm khi những ngày mùa xuân sắp đến. Hình bóng của bộ quần áo mới, chiếc mũ, đôi dép và bao mừng tuổi của người lớn tặng cho hiển hiện trong đầu như là một giấc mơ bình dị. Âm thanh nổ giòn của những trái pháo năm nào cũng vang vọng bên tai nghe thật vui tươi và rộn rã. Và đặc biệt hơn, sự mong mỏi được về quê nội – một vùng quê nghèo sao mà da diết và mãnh liệt. Có lẽ, chính những điều giản đơn ấy làm cho Tết trở nên thiêng liêng và ấm cúng trong lòng thơ ấu của tôi.

Rồi năm tháng trôi qua, dòng đời như một thứ thuốc tẩy vô hình làm phai mờ đi bao tâm trạng của một thời đáng nhớ. Chúng đã cùng với thời gian cất cánh bay đi để nhường chỗ cho những tâm tư mới. Những suy niệm về thế sự đổi thay, về sự thăng trầm của kiếp sống, và ý niệm về văn hóa tổ tông đang ẩn hiện trong tôi như đóm than hồng trong bếp lửa. Do vậy, tôi đón Tết với một tâm trạng có một chút lạnh nhạt, nhưng vẫn giữ tâm thế bình yên quán sát những sự kiện xảy ra để hiểu thêm về cuộc sống, về lòng người xưa nay, và về truyền thống văn hóa Việt.

Ngày ấy, khi tôi còn nhỏ. Trước Tết cả tháng là chúng tôi đã nghĩ đến cái Tết và những món quà nho nhỏ. Chúng tôi nghĩ đến cái Tết cũng phải thôi vì đó là dịp hiếm có để chúng tôi có thêm một bộ đồ mới, một đôi dép và cái mũ mới. Ở vùng quê, ba mẹ quanh năm lam lũ làm ăn để nuôi mấy anh em chúng tôi được cắp sách đến trường đã vất vả lắm rồi. Tết đến, ba mẹ lại thêm gánh nặng lo âu về cái lễ nghĩa và cái ăn cái mặc cho con cái. Biết thế, chúng tôi có dám đòi hỏi gì đâu bởi có đòi cũng chắc gì đã có. Tôi còn nhớ năm ấy, mẹ tôi bảo đem cái quần của anh tôi may lại mà vận. Thế rồi, bà tháo chỉ ra và bảo tôi đem đến tiệm may nhờ họ cắt may lại theo số đo của tôi. Đợi gần cả tháng rồi cái quần ấy ấy cũng may xong. Nó không phải là thứ vải mới hoàn toàn nhưng nó lại mới mới tôi và tôi nhận nó, sử dụng một cách mãn nguyện. Cái hạnh phúc tuổi thơ sao mà đơn sơ quá.

Những ngày cận Tết, quê tôi có tục cúng tất niên để tạ ơn những người vô hình ẩn hiện đâu đó gia hộ cho gia đình bình yên. Không biết phong tục được truyền lại từ bao giờ mà cứ mỗi lần cúng như thế bà và mẹ tôi đều phải chuẩn bị ít nhất một con vịt để tế lễ. Những con vật tế lễ này có khi được nuôi trước đó vài tháng để chuẩn bị hay được mua từ chợ về. Đến khi bắt đầu cắt tiết canh (cắt cổ), bà và mẹ tôi đều miệng đọc lâm râm những lời đại khái: tôi vì cúng bái tế lễ nên mới sát sanh; đây là việc tôi không thể không làm, chỉ mong các vị tha thứ cho. Thế rồi, họ mới tiến hành. Có những lúc cắt tiết canh xong, con vịt vẫn vùng lên chạy thêm vài bước như thể là nó muốn thoát chết hay là vì đau đớn lắm chăng? Có lẽ chính nó mới biết được điều đó cụ thể nhất. Những lúc ấy, tôi thường có mặt để giúp bà và mẹ khi cần. Tôi đứng nhìn với tâm trạng thương hại của một đứa trẻ nhà quê ngây ngô. May là bà và mẹ tôi chưa bảo tôi làm việc đó nên tôi cũng chưa cắt cổ bao giờ. Lớn lên, tôi xa nhà nên tôi cũng không biết hàng năm mẹ tôi còn làm điều đó nữa không. Tôi biết rằng trong lòng bà và mẹ tôi vẫn luôn ẩn tạng tâm thiện ngay trong lúc sát sinh. Nhân gian mấy ai toàn thiện. Cái quý là khi làm việc gì mình biết nó thế nào cũng tốt lắm rồi. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ rằng mẹ tôi bây giờ không còn tế lễ theo phong tục ấy nữa.

Ngày 30 Tết cũng là ngày chạp mả quê nội tôi. Do vậy, con cháu tập trung về trước thăm viếng, thắp hương mồ mả ông bà để tưởng nhớ, sau là anh em bà con gặp nhau thăm hỏi sau những ngày dài làm ăn vất vả. Sau khi dâng cúng ông bà tổ tiên xong, bữa cơm ấm cúng của dòng họ được bày ra để cùng nhau thưởng thức. Ngày trước, việc đốt pháo còn chưa cấm. Quê nội tôi tuy nghèo nhưng thích đốt pháo cho vui nhà vui cửa và năm nào cũng ráng dành tiền để đem về vài ba dây pháo. Tôi thì mê pháo đến nổi năm nào cũng đòi về quê nội cho được để thưởng thức tiếng pháo và nhặt những viên pháo còn sót lại. Có lần, tôi nhặt được mấy viên pháo lớn và tôi thích lắm. Tôi đặt nó bên dưới rồi để tấm tole kê bên trên. Tôi bắt đầu châm ngòi nổ và một tiếng nổ lớn làm văng tấm tole lên cao rồi rơi xuống từng mảnh. Cái trò nghịch ngợm của tôi làm mọi người hú vía và tôi cũng không khỏi bị một trận ‘nổ giòn’ từ các anh bà con.

Từ ngày tôi xa nhà thì những kỷ niệm trên cũng dần đi vào dĩ vãng. Đã lâu lắm rồi tôi chưa có dịp để thưởng thức lại khung cảnh sum họp ấm cúng ngày xưa. Mà tôi nghĩ nếu bây giờ sum họp lại, có lẽ tâm trạng tôi cũng khác bởi sự thay đổi của thời gian và hoàn cảnh xung quanh. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng ý nghĩa về nguồn cội tổ tông sẽ không mất đi mà vẫn thiêng liêng và cần gìn giữ nó. Nó là sợi dây liên kết giữa chúng ta với tổ tiên và với thế hệ con cháu mai sau.

Bao mùa xuân trôi qua, tôi thấy mình cũng trưởng thành lên. Mỗi lần Tết đến tôi lại có cảm nhận khác nhau về cuộc sống. Với trẻ thơ, Tết là mùa an vui và hạnh phúc trong tà áo mới du xuân. Với người lớn, tâm trạng buồn vui lẫn lộn không sao miêu tả hết bởi cái vui của người này lại là cái buồn của người kia, cái được của vị này là nỗi âu lo của kẻ khác. Nhưng tôi thấy trong họ vẫn có cái chung là sự mong cầu cuộc sống tốt đẹp hơn, bình yên hơn và thịnh vượng hơn. Sự mong cầu là mẫu số chung nhưng con đường đi tới trăm ngả, ngàn phương.

Còn tôi thì chỉ mong ước mọi người có cuộc sống ấm no, sống thân thiện hơn, biết hưởng thụ vừa phải và biết chia sẻ với cộng đồng xung quanh. Sự sang trọng xa hoa của ta có ý nghĩa gì khi mà bao kẻ lầm than đói rách đang sống quanh ta. Tôi tự nghĩ, lẽ nào tâm hồn con người thời hiện đại cũng trở nên thờ ơ và chai lì, không còn rung động trước nổi khổ của nhân sinh. Tết đến rồi, mùa xuân an vui lại về. Cầu mong mọi người được sống an lạc.

Tuesday, December 14, 2010

Dấu ấn của Thầy (Lễ đại tường tưởng niệm cố HT Thích Quảng Tâm ngày 21/04/AL)




Vào những năm giữa thập niên 90, sau khi Trường trung cấp Phật học thành phố Hồ Chí Minh được dời về Vĩnh Nghiêm Q.3, chùa Thiên Minh tiếp tục sự nghiệp đào tạo tăng ni ở cấp thấp hơn – Sơ cấp Phật học. Lúc ấy, với tư cách là phó đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức kiêm chủ nhiệm lớp Sơ cấp, thầy đã vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm của thầy trong những năm tu học tại các Phật Học viện Hải Đức, Huệ Nghiêm,… vào sự nghiệp giáo dục. Kiến thức và kinh nghiệm ấy cộng với tầm nhìn và tâm quảng đại, thầy đã tận tâm, tận lực điều hành Phật sự đưa đến sự thành công được ghi nhận và đánh giá rất cao bởi chư tôn đức tăng ni huyện nhà. Trong thời gian hơn 10 năm gắn bó với lớp Sơ cấp các khóa, thầy đã để lại những dấu ấn khó phai trong lòng chư tôn đức tăng ni – những người cùng cam cộng khổ với thầy và nhất là hàng tăng ni trẻ - những người học trò của thầy. Những dấu ấn ấy có thể nói vẫn là bước đi tiên phong trên tinh thần tu học và cần được phát huy ở môi trường giáo dục Phật giáo. Những dấu ấn ấy là gì?
Khi tiếp nhận công tác Phật sự, thầy bắt tay vào công việc hoạch định chương trình giảng dạy, cung thỉnh chư giáo thọ sư, chiêu sinh học viên, v.v…Với niềm tin và sự tín nhiệm, thầy đã cung thỉnh các vị đồng sự vào các vị trí công tác điều hành và lớp học sớm đi vào hoạt động nề nếp, tạo sự phấn khởi lớn trong lòng tăng ni. Dấu ấn đầu tiên thầy để lại là tinh thần hy sinh, bất vụ lợi. Noi theo chư vị tổ đức, thầy chủ trương điều hành Phật sự bằng sự ủng hộ của chư tôn túc và sự trợ duyên của Phật tử xa gần, thay vì thu học phí. Để thực hiện điều đó, thầy phải lặn lội đi khắp các chùa chiền trong huyện để vận động, thuyết phục sự ủng hộ của chư tôn đức. Có lẽ, thấy được tấm lòng hy sinh và cách làm minh bạch của thầy, chư tôn đức tăng ni hết lòng ủng hộ và tán thán. Đó là nguồn động viên lớn lao cho những người làm công tác Phật sự như thầy. Nhờ vậy, không khí tu học của tăng ni sinh rất tốt và chư tôn đức tăng ni trong ban điều hành cũng như trong huyện rất hoan hỉ và đoàn kết.
Dấu ấn thứ hai thầy để lại là tổ chức các hội thi diễn giảng, làm báo tường. Với tầm nhìn sâu rộng, thầy không chỉ mong mỏi tăng ni sinh học tốt chương trình quy định mà còn tạo điều kiện tốt cho họ phát huy năng lực diễn giảng, viết bài. Một việc làm vừa để phát hiện mần non nhân tài vừa để xác định nhiệm vụ thiết yếu của một người tu – làm thầy đích thực. Mô hình sinh hoạt không mới nhưng cách tổ chức bài bản chu đáo và được áp dụng lần đầu tiên tại huyện nhà nên tạo được sự chú ý và thu hút sự ủng hộ của chư tôn đức và Phật tử. Sự thành công của hội thi đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng tăng ni và Phật tử, nhất là những tăng ni sinh. Nó như là một ngày hội cho tăng ni sinh để được hồi hộp, một chút lo âu, mừng vui theo nhịp đập của con tim, và tự tin học hỏi lẫn nhau qua những kỳ thi như thế. Nó mãi là những kỷ niệm đẹp trong lòng tăng ni sinh mà mỗi khi nhắc đến không ai khỏi bất chợt nuối tiếc, hoài niệm. Vâng, những tâm trạng rất thường ấy lại là những kỷ niệm tốt đẹp nhất đi suốt cuộc đời tăng ni sinh, động viên và sách tấn họ vượt qua khó khăn khi nghĩ đến những người đã tạo ra những giây phút thiêng liêng tốt đẹp ấy.
Không dừng lại ở chỗ cho tăng ni sinh chỉ sinh hoạt tại trú xứ, thầy hoạch định chương trình mỗi năm đưa tăng ni sinh tham quan, giao lưu với các tỉnh Phật giáo bạn. Phải nói rằng sự chu đáo của thầy làm cho các tăng ni sinh không khỏi ngạc nhiên. Các vị đâu ngờ rằng vị thầy bận rộn với bao công việc Phật sự lại quan tâm lo lắng tận tình như thế. Từ cái ăn chỗ ở từ lúc đi cho đến khi về đều chu đáo. Tuy nhiên, đó chưa phải là nội dung chính. Mục đích của những chuyến đi là tạo điều kiện cho tăng ni sinh tiếp cận thực tế, được có cơ hội tham quan các danh lam Phật giáo, được đảnh lễ học hỏi chư tôn đức các nơi và học hỏi lẫn nhau với các đồng môn tỉnh bạn. Vừa được tham quan và học tập từ thực tế, vừa có cơ hội để thư giản sau những ngày miệt mài kinh kệ thì niềm vui sướng biết dường nào. Phải nói những chuyến đi như thế thật là hạnh phúc, nhất là đối với tăng ni sinh trẻ tuổi chưa bao giờ có cơ hội tham quan học tập như thế. Thầy thật là tâm lý và tấm lòng thầy cũng thật bao la như đạo hiệu của thầy.
Con chỉ xin được nói ba dấu ấn mà thầy đã để lại trong lòng tăng ni sinh chúng con khi còn ngồi trên ghế lớp Sơ cấp Phật học. Nhớ lại những ngày tháng êm đềm hạnh phúc ấy là nhớ về tuổi thơ tươi đẹp, nhớ về công ơn giáo dưỡng của thầy. Những dấu ấn mà thầy đã để lại trong tâm trí đàn hậu học sẽ không bao giờ phai mờ và khi đủ duyên lành nó sẽ trổ những bông hoa tươi đẹp để đóng góp chút hương thơm cho cuộc đời vốn vô thường này. Xin kính cẩn dâng lên thầy đôi dòng tưởng niệm.

Saturday, October 30, 2010

Vai trò của Phật giáo trong việc giáo dục nhân cách con người ở Thái Lan

Thái Lan là một nước Phật giáo nam truyền có tín đồ chiếm khoảng 95% dân số. Do đó, từ lâu Phật giáo đã trở thành như là quốc giáo trên xứ sở được gọi là “xứ chùa tháp” này. Với vai trò như là quốc giáo, hẳn nhiên Phật giáo phải có những đóng góp xứng đáng cho nền văn hóa dân tộc và nhất là trong nền giáo dục đời sống tâm linh hay tinh thần cho tín đồ của mình. Vậy thì Phật giáo đã sinh hoạt như thế nào để có thể hòa nhập và phát triển trong lòng dân tộc Thái cũng như góp phần tạo nên nhân cách người Thái lịch sự, và hiền hòa đáng được ghi nhận như hiện nay.

Như chúng ta biết, nhân cách con người được hình thành ngoài yếu tố chính là tự thân của chủ thể thì yếu tố khách quan đóng vai trò không ít quan trọng. Có thể nói rằng yếu tố khách quan có ảnh hưởng rất lớn trong quá trình tạo nên nhân cách con người và nó được biết qua các mối quan hệ cơ bản là xã hội, nhà trường, và gia đình. Thông qua các mối quan hệ này, giáo lý Phật đà được áp dụng vào nhằm góp phần xây dựng một xã hội văn minh mang đậm nét đạo đức truyền thống Phật giáo nam truyền. Sự sáng suốt áp dụng Phật giáo vào các lãnh vực đời sống xã hội đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực trong việc giáo dục nhân cách con người và điều đó cũng khẳng định được vai trò cần thiết của đạo Phật trong đời sống tâm linh của con người. Sự đóng góp của Phật giáo trải rộng rất nhiều lãnh vực, do đó, ba yến tố nền tảng được chọn giới thiệu dưới đây như là sự tham khảo.

Ngôi chùa là biểu tượng cho nếp sống tâm linh chung của cộng đồng

Đối với dân Thái, ngôi chùa là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh chung của cộng đồng. Do đó, mọi người dân đều biết nghĩa vụ đóng góp xây dựng để cho ngôi chùa nơi họ sinh hoạt trang nghiêm và thanh tịnh. Điều này được chứng minh qua hình ảnh các ngôi chùa nguy nga, rộng lớn với những nét kiến trúc đặc trưng của Thái nhằm phục vụ nhu cầu của tín đồ Phật tử từ khi sinh ra cho đến khi mãn phần. Hầu như sự kiện quan trọng nào trong đời sống của người dân đều diễn ra tại ngôi chùa. Ngôi chùa lúc nào cũng được đặt lên hàng đầu cho dù khi cuộc sống gia đình của tín đồ gặp bận rộn.

Để cho ngôi chùa có hồn thì chư Tăng là thành phần không thể thiếu. Quý sư ở Thái sống hoàn toàn phụ thuộc vào sự cúng dường của tín đồ thông qua hình thức ‘dâng bát’ mỗi buổi sáng khi quý sư đi khất thực hay thỉnh thoảng dâng cúng ở chùa. Sự cúng dường này được tín đồ Phật tử xem như là bổn phận thiêng liêng và là việc làm được nhiều phước báo theo truyền thống nam truyền nói chung và Phật tử Thái nói riêng. Hơn nữa, những ngày lễ lớn của Phật giáo hay của dân tộc Thái đều có tổ chức ở chùa với sự tham dự của chư tăng và tín đồ. Thông qua những hình thức sinh hoạt này, giáo lý Phật giáo trở nên sống động và đi vào tâm trí tín đồ một cách có ý thức. Có lẽ đây là hình thức thân giáo hiệu quả và phát huy rõ ràng ở các nước nam truyền. Sự sinh hoạt mang tính cộng đồng được thực hiện ở nơi biểu trưng cho văn hóa tâm linh – ngôi chùa – có tác động tốt đến tư duy hành vi của tín đồ. Sinh hoạt này có ý nghĩa khuyến khích tín đồ biết giữ gìn văn hóa và nhắc nhở những ai vô tình hay cố ý đi lệch truyền thống văn hóa ấy.

Những hành động dường như rất bình thường nhưng phản ảnh ý thức giữ gìn văn hóa dân tộc rất cao. Ở Thái, Phật tử không được ngồi ăn chung với quý sư. Nếu như ai đó không biết hay cố ý vi phạm điều này thì sẽ có người đến nhắc nhở ngay. Một điều khác cũng rất thú vị nữa là người nữ không được chạm vào áo của quý sư. Nếu có người nữ nào đứng gần hay vô tình chạm đến thì tự động có người nhắc nhở cho dù người nữ đó là người ngoại quốc. Ở đây, nếu chúng ta nhìn ở góc độ ý thức bảo vệ văn hóa và khuyến khích người bảo vệ thì ta thấy được hiệu quả giáo dục khá cao mà Phật giáo đã đem lại cho người dân Thái. Từ đó, chúng ta có thể suy rộng ra những lĩnh vực khác có liên quan đến đời sống đạo đức của con người.

Trường học là nơi giáo dục đạo đức

Sự ý thức bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa một phần lớn bắt nguồn từ sự giáo dục mà học đường là nơi đóng góp đáng kể. Cho nên, trường học trở thành nơi vừa dạy văn hóa mà cũng là nơi rèn luyện đạo đức và ý thức xã hội cho các thế hệ. Với vai trò quan trọng mà xã hội đã giao phó, các trường học ắt phải được đưa vào dạy các chương trình đạo đức phù hợp và có tính lâu dài. Trường hợp ở Thái Lan, chương trình đạo đức Phật giáo được ưu tiên áp dụng vì tính khả thi và vượt trội của nó chứ không phải chỉ là áp đặt theo cảm tính.

Cũng như những nơi khác, hệ thống trường học được thành lập rải đều khắp nơi phù hợp với mật độ dân số. Điều đáng nói là các trường tiểu học và phổ thông hầu như được xây dựng bên cạnh những ngôi chùa thuộc công viên đất chùa, và được quản lý chặt chẽ bởi ngành giáo dục. Chủ đích này cho thấy rằng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ được đặt lên hàng đầu và đạo đức Phật giáo vốn từ bi và nhân bản được chọn làm môn học nền tảng để giảng dạy tại tất cả các trường này. Ngay từ cấp tiểu học, học sinh đã thấm nhuần tư tưởng từ bi, hiếu hòa qua những giáo lý cơ bản của đức Phật. Khi vào trường đại học, hạnh kiểm đạo đức là một trong những tiêu chuẩn quan trọng quyết định cho phép sinh viên được tiếp tục sự học vấn của họ. Nhờ sự giáo dục này mà tất cả Phật tử Thái đều thuộc danh hiệu đức Phật, biết những lời kinh hướng dẫn quay về nương tựa tam bảo, hiểu những giới căn bản của người cư sĩ tại gia và những lời kinh cầu phúc hằng ngày để có thể áp dụng những lời dạy ấy vào cuộc sống hằng ngày của họ. Từ đó, nhân cách con người từng bước cũng được hình thành và phát triển. Có thể nói đây là một thành công của nền giáo dục khi biết ứng dụng những lời dạy về đạo đức của đức Phật đưa vào học đường để giảng dạy cho con em họ.

Cũng cần nên nhắc lại rằng, hình thức giáo dục này đã từng tồn tại ở miền nam Việt Nam trước năm 1975. Với hệ thống ‘Tư Thục Bồ Đề’, do nhà chùa phụ trách đã đóng góp không nhỏ trong việc giáo dục thế hệ trẻ về đạo đức. Đáng tiếc là hình thức này sau đó không được thừa nhận và bị chìm vào quên lãng cho đến ngày nay.

Gia đình là nơi nuôi dưỡng đạo đức

Nếu như nhà trường là nơi giáo dục và rèn luyện đạo đức thì gia đình lại là nơi nuôi dưỡng đạo đức tốt nhất. Như một hạt giống được gieo trồng xuống đất, những điều kiện như chăm sóc, tới tẩm giúp cho cây phát triển tốt nhưng yếu tố trực tiếp nuôi dưỡng phải là đất. Cũng vậy, nhà trường và xã hội có thể giáo dục cho con người phương thức phát triển nhân cách nhưng chính gia đình mới đóng vai trò quan trọng để nuôi dưỡng nhân cách ấy tồn tại lâu dài. Thông qua hành vi của từng cá nhân trong gia đình, người ta có thể đánh giá được một gia đình có văn hóa và an lạc.

Với truyền thống gia đình Thái rất được chú trọng xưa nay, việc tôn kính kẻ trên người trước rất nghiêm khắc. Mỗi thành viên trong gia đình tùy theo địa vị lớn nhỏ đều được dạy rất cụ thể. Những cung cách cúi đầu xá mức độ cao thấp, cách thức quỳ gối khi lễ ông bà cha mẹ, cách cúi đầu khi đi ngang qua người lớn …được dạy rất kỹ ở nhà trường cũng như trong gia đình và gia đình là nơi để thực hành trọn vẹn nhất. Người lớn luôn là tấm gương cho thế hệ sau noi theo nên họ đóng vai trò rất quan trọng trong gia đình. Với những điều đạo đức học được từ Phật giáo và từ truyền thống tốt đẹp, các thành viên trong gia đình đã áp dụng và chỉ bảo nhau cùng thực hành nhằm bảo vệ tốt những giá trị ấy.

Mặc dù truyền thống gia đình Thái rất lễ nghi nhưng cá nhân luôn được coi trọng ngay từ khi còn nhỏ. Biểu hiện của sự coi trọng là người lớn luôn quan tâm và dạy các thế hệ con cháu được phép tham gia các sinh hoạt mà chúng nên biết để thực hành. Những hành vi này đôi khi chúng ta xem thường nhưng chúng lại có ảnh hưởng và góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách các thế hệ sau. Theo truyền thống Phật giáo thì Phật tử đều phải biết danh hiệu Phật và những giáo lý căn bản. Khi người lớn thực hành, họ thường dạy con cháu tập làm theo. Những việc làm như tập con biết chắp tay lễ Phật khi còn rất nhỏ, biết niệm danh hiệu đức Phật, biết chào các sư, chào các bậc lớn tuổi…được các bậc cha mẹ rất quan tâm chỉ dạy. Ở Thái, việc cúng dường thường xuyên được tổ chức. Khi cúng dường, nhận phước báo hay dâng hương … thì tất cả con cháu đều được tham gia như người lớn tức là cũng được trực tiếp cùng dâng phẩm vật, dâng hương, hay nhận ‘nước phước’ (nước sau khi đã tụng kinh mà ở Việt Nam hay gọi là nước cam lộ). Những việc làm trên là sự giáo dục thế hệ trẻ một cách cụ thể qua việc làm cụ thể. Sự giáo dục như thế sẽ có hiệu quả gấp nhiều lần so với sự giáo dục lý thuyết suông. Đó là lý do tại sao chúng ta thấy giới trẻ ở Thái Lan ngoan hơn nhiều nơi khác trong đó có Việt Nam.

Đạo Phật từ khi được khai sáng đến ngày nay đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân loại và được công nhận là tôn giáo của hòa bình và đạo đức tâm linh. Sự nhận xét ấy phản ảnh giá trị thiết thực của đạo Phật đã lan rộng khắp thế giới. Do đó, việc áp dụng đạo Phật vào cuộc sống của tín đồ sẽ đem lại nhiều lợi ích nhất là về mặt đạo đức và tâm linh. Thái Lan được may mắn thừa hưởng một nền đạo đức Phật giáo và biết áp dụng để xây dựng đất nước và con người hòa bình, hạnh phúc. Điều đó cũng nói lên được giá trị thiết thực cũng như vai trò cần thiết của đạo Phật trong cuộc sống nhân loại. Ở đâu đạo Phật được áp dụng ở đó sẽ có hạnh phúc và an lạc. Hy vọng trong thế kỷ 21 này khi mà những cuộc khủng hoảng về nhiều mặt đang diễn ra nghiêm trọng thì việc áp dụng Phật giáo vào cuộc sống càng được mọi người quan tâm nhiều hơn.

Friday, October 1, 2010

Sao lại háo danh

Trong thời đại nào, háo danh cũng trở thành một hiện tượng mà nhiều người theo đuổi nhưng cũng bị nhiều người chỉ trích, lên án. Dù rằng, xã hội luôn phê phán bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, mạnh mẽ hay tế nhị căn bịnh di căn này nhưng xem ra nó đâu dễ dàng thuyên giảm, lắm khi còn nhiễm nặng thêm. Thế thì, nhân tố nào làm chất liệu dinh dưỡng để nuôi nó, làm cho nó không thể bớt đi mà lại tăng thêm. Phải chăng là xã hội không có thuốc thích hợp cho ‘tật này’ hay là ngừơi ta không thích sử dụng hay thậm chí dại gì sử dụng. Vậy là, không phải là không có thuốc mà là vì thuốc có mà những đứa con ‘nhõng nhẽo’ không thích uống và cha mẹ chúng cũng không nỡ trách phạt chúng. Chỉ có những bạn bè chúng đôi khi vì ganh tỵ, khó chịu hay thương hại mà lên tiếng thôi. Chất liệu nuôi dưỡng nó là gì mà làm cho nó luôn lớn mạnh như thế và nó có tác hại gì đến môi trường xung quanh chăng?!

Bản năng con người luôn đòi hỏi thỏa mãn theo nhu cầu tự nhiên và xã hội của nó. Nhu cầu tự nhiên là cái có thể thấy được và hạn lượng được. Vì nó hữu hình nên người ta có thể biết được mức độ tối đa của nó. Ngược lại, nhu cầu mang tính xã hội lại là cái vô hình nên nó không tính đếm được dù rằng người ta vẫn có thể nhận ra nó. Mà ai cũng biết, hễ cái gì hư hư thật thật thì dễ làm người ta tham đắm vào nó. Huống chi cái hư hư thật thật này lại làm cho con người có cảm giác hân hoan và bay bỗng thì tham đắm là điều mấy ai tránh khỏi. Vậy thì háo danh làm người ta bay bỗng chăng?! Câu trả lời chắc ai cũng có thể đoán ra nhỉ! Vì rằng, có danh thì trước nhất và trên hết là được nhiều người khen ngợi và ca tụng cơ mà. Nhiều người không màn đến danh ấy là thật hay giả, là hữu ích hay là rỗng không, cứ hễ có danh thì nghiễm nhiên đòi hỏi phải được ca ngợi, kính trọng. Cái áo khoác ‘danh’ có phép thuật như thế thì làm sao mà không mê hoặc nhiều người nhất là trong một môi trường đa số thích khoác cái áo ấy. Trừ phi họ là những người chân chính thì may ra không bị ma thuật ‘danh’ mê ám.

Cái hấp dẫn cao hơn của danh là nó mang lại lợi cho người mê nó. Cái lợi không phải chỉ là vật chất mà nó ẩn hiện trong muôn hình vạn trạng. Cái lợi vật chất là dành cho những người thiếu nó và cần nó, trong khi cái lợi khác thì cao cấp hơn, tế nhị hơn nên chỉ dành cho những bậc dư ăn, dư mặc. Cái lợi ấy là được ăn trên ngồi trước, đi sau về trước, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng, và vô vàn hình thức khác. Cái lợi ấy không chỉ người mang danh thừa hưởng mà trong nhiều trường hợp cả gia đình, dòng họ cùng hưởng nữa chứ. Chính cái hấp lực ấy cũng góp phần tác động đến nhu cầu tìm danh của không ít người trong xã hội.

Hình trạng của ‘sự háo danh’ biểu hiện thế nào và có tác hại ra sao? Ta hãy quan sát những điều hiện thực xảy ra trong xã hội được phơi bày trên các phương tiện truyền thông, hay thông qua các hội nghị, đại hội, lễ nghi, và rất nhiều kênh khác nữa sẽ thấy bóng dáng của nó. Đời xưa, người ta mua chức, mua quan để bóc lột thiên hạ thì đời nay cũng không phải là hiếm thấy. Ngày xưa, người ta mua bằng cấp để khoe khoan thì ngày nay nguời ta mua bằng cốt không phải để khoe khoan mà quan trọng là để hợp thức hóa địa vị đang có hay tìm cơ hội thăng chức. Dẫu biết rằng đó là hành vi bất chánh, nhưng có mấy người thắng được lương tâm, thắng được sự áp lực của môi truờng xung quanh đầy khắc nghiệt. Sự khó khăn âu cũng tại môi trường!

Nhưng mà, bằng cấp chỉ là cơ hội để có địa vị và chức tước. Bằng cấp cao chức tước sẽ càng nhiều. Rất nhiều người có hàng chục chức danh, đọc cho hết cũng mất gần vài phút. Thì ra, họ xuất sắc vô cùng. Vừa là chủ tịch tỉnh, vừa kiêm hiệu trưởng; vừa làm giáo sư, vừa là nhà chính trị thiên tài? Bao chức tước họ sẵn sàng ôm ẵm hết, vì họ cho rằng không ai đủ khả năng. Thế rồi, khi có họp hay lễ lộc gì đó, họ được mời đến dự cho oai. Chức tước bao nhiêu cứ giới thiệu hết một lần, dẫu ai chờ ai đợi mặc người ta. Khổ nỗi, có những chức không hề cần trong buổi họp hay buổi lễ, mà sao phải bắt giới thiệu hoài cho tốn thời gian. Nhưng, nếu giới thiệu thiếu một chức là bề trên sẽ tỏ ra giận dữ, nặng thì ra tay ngay, mà nhẹ thì sẽ bị khiển trách, nhắc nhở lần sau xin chừa nhé. Vậy là, đố ai dám cắt ‘danh’ ông, thà rằng (giới thiệu) dư dã hơn là bị la và bị mất chức nữa là khác.

Vậy đấy, hành trạng của ‘sự háo danh’ ẩn hiện như thế. Như quy luật bất thành văn, nó nghiễm nhiên tồn tại, gây tốn thời gian và công sức của bao người để chỉ vì ca ngợi cái ‘danh’ của một số cá nhân. Mà sao xã hội bây giờ lại thích kính bạch, kính thưa dài dòng như thế. Cái nội dung chính cần làm thì thường bị xem nhẹ qua loa, trong khi cái lễ nghi phụ trợ thì đề cao quá mức. Đành rằng lễ nghi không thể thiếu nhưng đâu thể vì thế mà lạm dụng quá liều. Ôi! biết nói làm sao, thói quen như vậy dễ gì bỏ ngay. Vả lại, không tài thì được cái danh, chứ ai lại nỡ, lại đành tay không.

Tuy nhiên, điều quan trọng là không nên nhầm lẫn và đánh đồng giữa ‘háo danh’ với ‘hữu danh’. Hữu danh là cái mà người ta đổ mồ hôi nước mắt có được, là tài năng thực sự của người đó và được cộng đồng xã hội trân trọng đề cử, tôn vinh. Nó không xuất phát từ bất cứ ý niệm nào về chạy chức tước, địa vị, không vì tiếng khen lợi dưỡng…. Nó là kết quả của một chuỗi nhân duyên tốt đẹp mà người ấy đã cống hiến và đóng góp. Sự vinh danh những người như thế là một sự tôn vinh, khuyến khích học tập hơn là sự khoe khoan, nịnh hót. Những người hữu danh như thế sẽ rất khiêm tốn và biết làm gì với trách nhiệm mà xã hội trân trọng giao cho.

Cuộc sống thì muôn màu muôn vẻ, vàng thau lẫn lộn. Chỉ có điều nên tịnh tâm sáng suốt, dùng kính trí tuệ của mình để thấy rõ thật hư, để phân rõ trắng đen. Có như thế, dẫu vẫn còn trong danh lợi, ta gắng lòng sống với đạo thánh nhân.

Thursday, September 23, 2010

Chuyện vui ngụ ngôn

Chuyện kể: Có một cô bé dễ thương nhiều tài nhưng cũng lắm tật. Cô ta có nhiều bạn bè và bạn bè cô luôn khen ngợi cô hơn là nói về tật của cô. Khi đựơc khen, cô rất tự hào và lấy làm mãn nguyện, và vì thế cô sẵn lòng hào phóng những gì cô có. Cứ sau những dịp được khen như thế thì cô lại lo âu vì phải đối mặt với khó khăn cuộc sống do hậu quả của sự hào phóng của mình. Nhưng cô cũng dễ dàn vuợt qua vì niềm hạnh phúc được khen tặng luôn làm cô bay bỗng. Điều ngạc nhiên là trong đám bạn của cô có anh chàng mắc dịch không chịu khen cô mà hay chê tật xấu của cô. Cô rất tức nhưng không biết làm cách nào trả thù. Thế là cô thừơng tìm cách làm cho anh chàng này tức để hả dạ nhưng cũng không mấy thành công. Rồi một ngày kia, cô đánh liều tới hỏi lý do tại sao anh này vô duyên không khen mà hay chê bai mình. Nhân cơ hội này, anh chàng mới bộc bạch cùng cô.

Anh hỏi: Những lúc cô được khen cô có thấy trên mặt cô hiện lên gì không?

Cô đáp: thì nụ cười vui vẻ, tự hào chứ còn gì.

Anh nói: vâng, nhưng có cái gì đó khác nữa cơ.

Cô hỏi: cái gì?

Anh đáp: tui thấy 2 con mắt của cô to ra, 2 lỗ tai cô căng lên, 2 lỗ mũi của cô phồng thêm. Vì 2 con mắt to, 2 lỗ tai căng và 2 lỗ mũi bự lên nên chúng che lấp làm cho cô không nhìn thấy những kẻ nịnh bợ cô, không nghe những lời ngọt ngào nhưng đầy tính toán và không ngửi được mùi chân thật của bạn bè cô. Tui không khen cô nhiều vì tui sợ mặt cô bị xấu thêm. Trái lại, tui hay chê tật của cô và hay làm cô tức nhưng lúc đó 2 mắt cô nheo lại, 2 tai cô thon thon, 2 mũi cô nhỏ lại. Chính vì thế, mắt cô không bị che khuất và cô có thể thấy được kẻ nịnh người ngay, tai cô phân biệt được tiếng thật lòng và giả dối, mũi cô ngửi mùi biết đâu là bạn thân tình, xã giao.

Cô nghe xong trợn mắt nhìn anh ta một hồi trong cơn tức tức, thế rồi bỗng nhiên cô nở nụ cừơi nhìn anh ta rồi nhẹ nhẹ bứơc đi. Anh chàng thở phào nhẹ nhỏm cũng bước chân đi về.