Monday, September 5, 2011

Hoạt động giáo dục Phật giáo: đôi điều suy nghĩ

Đã 30 năm trôi qua, kể từ khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, một khoảng thời gian không quá ngắn nhưng cũng không quá dài cho sự củng cố và phát triển PGVN nói chung và ngành giáo dục Phật giáo nói riêng. Nói là 30 năm nhưng thực chất chỉ hơn phân nửa thời gian ấy Phật giáo hoạt động tương đối chính thức. Do vậy, việc hoàn thiện hệ thống giáo dục Phật giáo là một thách thức lớn. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không phải nằm ở thời gian mà là chính sách phát triển và phương thức đổi mới giáo dục Phật giáo. Đến nay, ngành giáo dục Phật giáo vẫn chưa có mô hình giáo dục phù hợp với sự phát triển của thời đại. Đó là một trăn trở lớn của Giáo hội, của Ban giáo dục và cả những người học Phật. Những trở lực nào đã làm trì trệ nền giáo dục và hướng đi nào để đáp ứng sự đổi mới?

Tình hình chung và vai trò giới hạn

Sau khi đất nước thống nhất, nền chính trị nước nhà quy về một mối và chi phối mọi sinh hoạt trong xã hội. Phật giáo cũng không phải là ngoại lệ. Ngành giáo dục Phật giáo tạm thời ngừng nghỉ và những thành tựu của nó trước năm 1975 bị gác lại hay chuyển mục đích sử dụng. Đến khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập thì các ban ngành mới được chính thức hoạt động dưới sự quản lý của Ban tôn giáo và sự giám sát của các ban ngành khác. Nhiệm vụ của giáo dục Phật giáo được trao cho một ban gọi là Ban giáo dục tăng ni. Tên của ban này đã xác định rõ là đối tượng của giáo dục Phật giáo chỉ gồm tăng ni, tức là giới hạn vai trò vốn có của Phật giáo là giáo dục mọi đối tượng có nhu cầu học Phật. Cái tên của ban này cũng làm nhiều người hiểu là chỉ có tăng ni mới cần được giáo dục, còn những đối tượng khác thì đã hoàn thiện. Từ đó đến nay, ban này nỗ lực hoạt động trong giới hạn của mình nhằm cung cấp nhân sự tài đức để đưa con thuyền Giáo hội đi lên. Những nỗ lực ấy đã đem đến những kết quả đáng kể, nhất là con số trường lớp được thành lập và tăng ni tốt nghiệp ra trường. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo và nguồn nhân lực có thể sử dụng được sau khi đào tạo thì dường như chưa có số liệu thống kê đánh giá. Ta hãy nhìn lại hệ thống tổ chức giáo dục để suy luận thành quả của nó ra sao.

Những bất cập của hệ thống giáo dục

Hệ thống trường lớp

Ngành giáo dục Phật giáo nếu nhìn từ sơ đồ, cơ cấu tổ chức trường lớp thì ta thấy rất bài bản gồm các cấp bậc từ thấp đến cao. Thấp nhất là Lớp sơ cấp, đến Trường trung cấp (cơ bản), Lớp cao đẳng, và Học viện (hay đại học) Phật giáo. Tuy nhiên, khi đi sâu vào tìm hiểu, ta lại thấy có những điều bất ổn (nhưng lại phản ảnh sự linh hoạt của chư tôn đức ngành giáo dục nhằm đối phó với cơ chế). Theo quy định trên thì hệ thống trường lớp phải được áp dụng đồng bộ trên toàn quốc. Thế nhưng, thực tế thì chỉ có một số tỉnh thành có lớp sơ cấp được mở với lý do đào tạo như lớp gia giáo tại chùa nhằm bồi dưỡng kiến thức cho tăng ni trong khi chờ đợi vào trung cấp. Khi tốt nghiệp trung cấp, tăng ni muốn tiếp tục học cao hơn thì hoặc là thi tuyển vào Học viện hoặc vào thẳng Lớp cao đẳng. Nói là Lớp cao đẳng mà không phải là Trường cao đẳng vì nó thực chất là trung cấp nối dài, trực thuộc Trường trung cấp. Ý tưởng này là do chư tôn đức thương tưởng tạo điều kiện cho tăng ni có cơ hội trau dồi thêm kiến thức chuyên môn Phật pháp. Đến cấp cao nhất trong Phật giáo là đại học thì nó cũng bị giới hạn ở mức cử nhân. Hiện tại đại học Phật giáo mới bắt đầu đào tạo sau đại học nhưng mang tính chất nội bộ. Dẫu sao cũng đáng khích lệ.

Chương trình đào tạo

Vì hệ thống trường lớp không đồng bộ nên chương trình giảng dạy ắt hẳn là không thể thống nhất về nội dung. Mỗi trường đưa ra chương trình đào tạo riêng và sự phân chia nội dung tất nhiên theo quan điểm của bổn trường. Khi hết trung cấp, tăng ni muốn đậu trong kỳ thi tuyển vào đại học Phật giáo thì phải nắm bắt thông tin, và tìm hiểu nội dung ôn thi thì mới có hy vọng cao. Lý do là nội dung đề thi tuyển sinh có khi chẳng ăn nhập gì với nội dung đã từng học dưới các Trường trung cấp nhất là môn việt văn và ngoại ngữ.

Thời gian tuyển sinh đào tạo

Theo quy định hiện nay, thời gian học sơ cấp là 2 năm, trung cấp 4 năm, cao đẳng 3 năm, học viện 4 năm. Một tăng ni sinh muốn hoàn tất chương trình cử nhân phải mất 10 năm liên tục, và hoàn tất cao đẳng phải mất 9 năm. Nếu tăng ni là ấu niên xuất gia, sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học vào học ngay chương trình Phật học thì chí ít 28 tuổi mới có cử nhân Phật học. Trường hợp tăng ni vừa học hai chương trình Phật học và thế học thì thời gian hoàn tất cử nhân có thể ngắn hơn nhưng chắc chắn không bảo đảm chất lượng, phần lớn xem nhẹ Phật học. Nếu những vị xuất gia muộn thì cứ như thế tính ra sẽ biết tuổi tốt nghiệp.

Điều đáng nói là các trường Phật học không chiêu sinh hàng năm mà cách 2 hay 4 năm một lần, cụ thể là 2 năm đối với sơ cấp, 4 năm hay hiện tại có nơi 2, 3 năm đối với trung cấp, 4 năm hay hiện tại là 2 năm đối với đại học. Nếu tăng ni học xong sơ cấp mà trung cấp đã khai giảng rồi thì phải chờ 4 năm sau hay hiện tại là 2 năm; đại học cũng tương tự. Thế thì thời gian cho một tăng ni tốt nghiệp cử nhân Phật học theo quy định hiện nay chí ít cũng phải trên dưới 30 – một độ tuổi quá già đối với trình độ ấy so với sinh viên bên ngoài chỉ khoảng 22 – 23.

Nhân sự điều hành, giảng dạy

Do đặc thù của Phật giáo nên nhân sự Phật giáo thường kiêm nhiệm nhiều chức vụ. Tuy nhiên, một vị hiệu trưởng mà không làm việc toàn thời gian cho trường lớp là điều đáng quan ngại cho sự giáo dục. Nếu vì lý do tế nhị là cơ chế thì chí ít vị phó hiệu trưởng thường trực phải là người làm việc toàn thời gian cho trường lớp. Nhìn vào quỹ thời gian làm việc người ta có thể thấy được phần nào chất lượng giáo dục. Đối với giáo thọ, họ phải có giáo án và kinh nghiệm giảng dạy nhất định. Nên có hợp đồng và trả lương phù hợp cho họ thì họ mới làm tốt. Nếu áp dụng chế độ công quả thì rất khó điều hành hiệu quả trường lớp. Rất tiếc, đây là cách làm hiện nay của giáo dục Phật giáo.

Chỉ tiêu tuyển sinh

Một trong những điều trường lớp quan tâm là số lượng tăng ni đăng ký học. Chưa có một quy định nào về chỉ tiêu tuyển sinh của các trường Phật học. Những thành phố lớn thì sĩ số vài trăm tăng ni trong khi các tỉnh xa thì chỉ chưa đầy 30 vị. Một lớp học với sĩ số gần 200 cùng học chung tại giảng đường và một lớp học chỉ hơn 20 vị thì được cho là đủ tiêu chuẩn trường lớp không!? Một số tỉnh cũng thích mở trường nhưng tăng ni không đủ nên phải vận động mọi lứa tuổi cho đông. Đây thực sự là gánh nặng cho các vị giáo thọ và chất lượng giáo dục.

Tiêu chuẩn đánh giá

Nói về đánh giá học tập thì thật nhiêu khuê vì chưa có tiêu chí đánh giá nào được áp dụng chung. Hầu hết đều do trường và cụ thể là do chính vị giáo thọ đánh giá. Không ai dám chắc là sự đánh giá của các vị là chính xác là đáng tin cậy trừ những bậc giáo thọ có kinh nghiệm về sư phạm. Trình độ trung cấp mà kiểm tra đánh giá chỉ bằng bài luận cuối khóa thì e rằng chưa ổn bởi họ cần kiểm tra thường xuyên và với hình thức trắc nghiệm kiến thức nữa. Trình độ cử nhân mà làm tiểu luận trên 4000 từ hay trên 10 trang A4 là quá giỏi. Một học kỳ làm khoảng 5 tiểu luận là bằng luận văn cử nhân rồi. Sau 4 năm học, họ sẽ rất giỏi nếu như đó là sản phẩm thật sự của họ. Chúng ta thật khâm phục các vị giáo thọ đã chịu khó hướng dẫn và đọc hết bài của sinh viên!?

Quản lý giáo dục

Có thể nói quản lý giáo dục Phật giáo là thiếu chuyên nghiệp, thiếu tầm nhìn hợp tác. Ở xã hội, ngành giáo dục quản lý từ bộ, xuống sở, rồi phòng sau đó là các cơ sở trường lớp. Từ đó, các chức vụ được bổ nhiệm như bộ trưởng, giám đốc sở, trưởng phòng, hiệu trưởng…để quản lý hoạt động giáo dục. Ở cấp tỉnh, do có nhiều trường học từ thấp đến cao nên mới có sở quản lý và sở chịu sự quản lý cấp cao hơn. Nếu như trong một tỉnh chỉ có một trường hay không có trường nào liệu các chức vụ ấy được đưa ra không. Chắc chắn là không. Thế mà trong Phật giáo lại có. Có nhiều tỉnh không có trường lớp Phật giáo nhưng vẫn có trưởng ban giáo dục tăng ni. Những nơi có trường Phật học thì đúng ra hiệu trưởng phải kiêm trưởng ban giáo dục tăng ni nhưng một số tỉnh thì không như vậy. Không biết các vị trưởng ban giáo dục tăng ni nơi không có trường Phật học và nơi có trường nhưng đã có hiệu trưởng, tiến hành giáo dục tăng ni bằng cách nào. Có cần cơ cấu đầy đủ các ban ngành cho tất cả các tỉnh thành không và cơ cấu để làm gì!?

Việc quản lý và lưu trữ hồ sơ của các trường Phật học cũng là điều đáng quan tâm. Ngoại trừ các trường đại học quản lý hồ sơ sinh viên tương đối tốt nhưng chưa có mã số sinh viên hay chỉ cấp cho các khóa học mới đây, hồ sơ tăng ni sinh ở các Lớp cao đẳng, và Trường trung cấp không ai biết được ngoại trừ chính trường ấy. Kết quả là tăng ni muốn chuyển trường khó mà chuyển được và bằng thật học giả là điều có thể đoán được. Hơn nữa, trong khi Giáo hội quy định tăng ni trụ trì phải đủ các điều kiện trong đó có yêu cầu văn bằng Phật học thì việc tiêu cực xảy ra là rất dễ hiểu. Muốn truy nguồn gốc bằng thật giả thì khó mà tìm được bởi cơ quan quản lý đâu có nắm hồ sơ lưu trữ.

Quan hệ hợp tác

Về nội bộ Phật giáo thì các trường không có sự liên kết nhau nên không thể trao đổi sinh viên lẫu nhau hay sinh viên muốn chuyển trường cũng không được. Về đối ngoại thì các trường đại học bên ngoài không công nhận văn bằng của ta trong khi một số nước quanh ta thì họ chấp nhận. Đó là một nghịch lý và là một sự bất công mà Phật giáo cần phải tranh đấu đòi hỏi quyền lợi cho sinh viên của mình.

Đổi mới hệ thống giáo dục

Củng cố hệ thống giáo dục

Giáo dục Phật giáo mạnh trước hết hệ thống trường lớp phải đồng bộ và thống nhất từ trên xuống dưới trong cả nước. Khi đã phân chia rõ ràng từng cấp bậc cụ thể thì sẽ dễ dàng định hướng nội dung chương trình cho từng cấp. Trong khi định hướng nội dung đào tạo, các nhà soạn thảo sẽ đưa ra mô hình đào tạo sao cho thích hợp theo nhu cầu của Phật giáo và xã hội. Có 2 mô hình phổ biến:

Một là đào tạo theo mô hình truyền thống khép kín mang tính chuyên môn Phật giáo dành cho những ai chuyên nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Thời gian 10 năm là đủ, sau đó tăng ni vừa nghiên cứu vừa trau dồi thêm tùy điều kiện riêng.

Hai là đào tạo theo mô hình tương đương với đại học thế tục. Những ai đáp ứng đủ những điều kiện về tuyển sinh thì đều được tham gia thi tuyển. Thời gian đào tạo như các đại học thế tục. Mô hình này đang còn trong giai đoạn tranh luận, chưa thống nhất.

Trong khi tăng ni tốt nghiệp phổ thông trung học có quyền thi tuyển vào các trường đại học thế tục thì đại học Phật giáo lại không chấp nhận. Làm như thế, vô hình trung, giáo dục Phật giáo đẩy con em mình ra ngoài để họ hòa mình vào thế tục. Lý luận rằng họ chưa đủ trình độ Phật học thì cứ đánh giá trình độ họ một cách công bằng và khoa học. Còn cho rằng họ chưa trải qua thời gian học tập cấp dưới nên bản chất người tu chưa thuần, dễ ngã mạn thì không thuyết phục bởi đâu phải ai cũng như vậy và cũng chưa có nghiên cứu nào chứng minh như thế. Vả lại, để tăng ni học ở các đại học thế tục thì họ không ngã mạn và thuần thục sao!?

Khi đã xác định mô hình đào tạo rồi thì bước tiếp theo là quy định về điều kiện thành lập trường lớp, quy chế đào tạo. Nếu ta không đủ quyền quy hoạch trường lớp thành các cụm thì ta đưa ra các quy định về tiêu chí trường lớp, chỉ tiêu chiêu sinh. Tỉnh thành nào đáp ứng điều kiện thì mở trường lớp, không thì tự giải thể hay sáp nhập vào các tỉnh thành lân cận để tạo thành cụm.

Về chiêu sinh hay tuyển sinh, nên mạnh dạn thực hiện hàng năm. Có thể ta giảm chỉ tiêu tuyển sinh thấp xuống nhưng tuyển sinh hàng năm thì vẫn đảm bảo số lượng sinh viên. Ví dụ: thay vì Học viện 2 năm tuyển sinh một lần lấy số lượng 600 sinh viên thì cứ mỗi năm tuyển sinh 1 lần lấy 300 sinh viên. Làm như vậy vừa giúp tăng ni bớt chán ngán chờ đợi, giữ được đà hứng thú học tập; vừa tạo cơ hội cho sinh viên nợ môn học có thể trả nợ sớm bằng cách theo học với khóa mới. Các trường trung cấp cũng phải tương tự như vậy. Điều này sẽ rất khó khăn cho các trường trung cấp vì đụng chạm tới lợi ích riêng của họ nên khó thực hiện nhưng đó là con đường phải đi nếu muốn đổi mới.

Để quản lý và tạo điều kiện cho tăng ni học tập thật sự thì các trường phải lưu trữ hồ sơ và trình lên ban giáo dục quản lý. Mỗi sinh viên phải có mã số, khóa học. Khi cần thiết tra cứu thì chỉ cần gõ vào địa chỉ của ban giáo dục là có thể biết thông tin cần thiết. Quản lý tốt sẽ hạn chế tình trạng không đáng có trong ngành giáo dục.

Biên soạn chương trình đào tạo khung

Sau khi đã có mô hình thì việc tiếp theo là biên soạn giáo án theo mô hình ấy. Điều này đã có nhiều ý kiến cụ thể rồi nên ở đây không bàn thêm.

Một điều cần lưu tâm khi soạn thảo là phải có chương trình thực hành bắt buộc với chuyên ngành đào tạo thường gọi là thực tập, khảo sát thực tế…Học lý thuyết mà không hướng dẫn thực hành thì trái với tôn chỉ Phật giáo là ‘tri hành hợp nhất’.

Chọn lựa nhân sự điều hành, giảng dạy

Nhân sự là nhân tố quyết định sự thất bại hay thành công của mọi tổ chức và trường lớp Phật giáo cũng không ngoài quy luật ấy. Nhân sự điều hành trường lớp phải là những người trực tiếp làm việc toàn thời gian cho giáo dục và có khả năng chuyên môn. Nếu nhân sự không chuyên môn và chỉ làm việc bán thời gian cho giáo dục thì sự thành công của trường lớp khó có hy vọng. Thành công ở đây là thực sự chứ không phải hình thức.

Về giáo thọ giảng dạy, Phật giáo chưa có cơ chế biên chế như nhà nước nên ta cứ hợp đồng rõ ràng, thời gian phục vụ và mức lương cụ thể. Có như thế mới đủ pháp lý để ràng buộc trách nhiệm các vị giáo thọ đối với sự nghiệp giáo dục, và tạo điều kiện cho họ nghiên cứu.

Mở rộng đào tạo

Như trên đã đề cập, trong khi tăng ni được phép học tại các trường thế tục thì người cư sĩ lại không được cho phép vào học tại các trường Phật học. Một số trường thế tục có khoa tôn giáo, khoa Phật học và mọi công dân đều có quyền theo học thì tại sao họ không được quyền học Phật học hay các ngành khác tại trường Phật học. Chúng ta phải kiên trì đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình để mở rộng, phát triển đại học Phật giáo. Đồng thời, chúng ta cũng phải đòi quyền lợi chính đáng về sự tôn trọng công bằng với các đại học thế tục vì hiện tại các đại học thế tục không chấp nhận bằng cấp của ta trong khi ta thì chấp nhận của họ. Muốn vậy, đại học Phật giáo phải đáp ứng các quy định của bộ giáo dục và không ngừng củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo. Tất cả phụ thuộc vào chính chúng ta.

Kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN là dịp chúng ta ôn lại chặng đường đã đi qua với những thành công và tồn tại. Từ đó, xây dựng chính sách mới phù hợp với thời đại nhằm khắc phục những bất cập và phát huy các giá trị thành công. Đây là cách thức xã hội đang làm. Liệu rằng sau khi kỷ niệm GHPGVN nói chung và giáo dục Phật giáo sẽ đổi mới! Thành quả tương lai sẽ trả lời thắc mắc ấy!

Saturday, September 3, 2011

Mối liên hệ giữa Nhà sư và Phật tử

Ngay khi còn tại thế, đức Phật đã xác lập vai trò của bốn chúng hay gọn hơn là hai chúng gồm xuất gia và tại gia. Chúng xuất gia (thường gọi là nhà sư) và chúng tại gia (thường gọi là Phật tử) được ví như đôi cánh không thể thiếu để nhấc đạo Phật bay lên, tiến lên, lan rộng ra vì sự lợi ích của số đông. Nếu một trong hai giới (chúng) bất an hay không có sự phối hợp nhịp nhàng và hỗ trợ nhau thì Phật giáo khó có thể vững mạnh và lan tỏa rộng khắp. Do vậy, xây dựng mối liên hệ tốt đẹp giữa hai giới ắt hẳn là điều những người con Phật chân chánh mong muốn và ủng hộ. Mối liên hệ ấy sẽ bền vững khi nó dựa trên những nguyên tắc Phật dạy và thích nghi với điều kiện văn hóa địa phương cụ thể.

Vai trò và bổn phận

Những nguyên tắc Phật chế về vai trò và bổn phận của mỗi giới được đề cập trong các bản kinh. Đối với hàng xuất gia hay nhà sư, vai trò của các vị ấy là hành trì lời Phật dạy để trở thành bậc đạo sư hướng dẫn Phật tử đi đúng con đường chân chánh. Để làm tốt vai trò ấy, nhà sư phải không ngừng trau dồi trí tuệ thông qua văn, tư, tu (tức nghe hay đọc rồi tư duy đúng đắn để áp dụng vào cuộc sống) và giới, định, tuệ (tức giữ giới, phát nguyện làm điều thiện, tu tập thiền định còn gọi là huấn luyện tâm thuần thục và phát triển trí tuệ); đồng thời, vun bồi phước đức thông qua việc dấn thân từ lời nói đến việc làm vì lợi ích cho tha nhân. Nhà sư thực hành hai đức tính trên một cách trọn vẹn thì xứng đáng là bậc đáng cung kính và nương theo.

Với hàng tại gia hay Phật tử, vai trò của các vị ấy là bảo vệ Phật pháp bằng cách hỗ trợ các nhà sư thông qua việc cúng dường thực phẩm; đồng thời, can ngăn hay không ủng hộ các nhà sư không hành đúng chánh pháp. Thực hiện vai trò ấy, Phật tử phải siêng năng trong công việc để tạo ra của cải vật chất nhằm xây dựng cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc và để thực hành cúng dường, bố thí. Ngoài bổn phận tự thân hộ trì, Phật tử còn phải tu tập và hướng các thành viên trong gia đình đi theo con đường chánh pháp, tạo nền tảng đạo đức vững chắc trong gia đình và cộng đồng.

Như vậy, vai trò và bổn phận của hàng xuất gia và tại gia được phân định rõ ràng, nhất là hàng xuất gia. Đức Phật chưa từng chủ trương hàng xuất gia trực tiếp hay gián tiếp làm ra của cải vật chất hay nói cách khác là làm kinh tế. Ngài chỉ khuyến khích các nhà sư trau dồi giới đức thông qua việc tu tập thiền định, phát triển đời sống giải thoát để trở thành bậc đạo sư tâm linh thực thụ, đáng được cung kính. Đời sống của đức Phật và thánh chúng thời Phật là sự minh chứng cho chủ trương này.

Theo dòng lịch sử, tuy có sự thay đổi về phương cách sinh hoạt của nhà sư do điều kiện lịch sử và phong tục tập quán địa phương khác nhau nhưng chủ trương của đức Phật vẫn là kim chỉ nam có giá trị. Điều đó có nghĩa là một khi nhà sư chưa phải là một bồ tát hay thánh tăng thực thụ thì vấn đề trực tiếp làm kinh tế dù với mục đích thiện vẫn là một thách thức lớn cho việc tu tập ‘vô ngã’, và nói theo thế gian là ‘lợi bất cập hại’. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng nếu nhà sư gián tiếp làm kinh tế thông qua vai trò cố vấn hay bậc thầy tư vấn cho hàng Phật tử thực hiện thì không phải là không chấp nhận được. Trong trường hợp như thế, hàng Phật tử cũng vẫn là người trực tiếp làm ra của cải và đóng vai trò quyết định đời sống vật chất của nhà sư. Nói cách khác, nhà sư hoàn toàn phụ thuộc vào hàng Phật tử về đời sống vật chất.

Việc xác định như thế có nhiều ý nghĩa và một trong những ý nghĩa quan trọng là buộc nhà sư phải luôn tiếp cận với Phật tử. Khi mà sự liên hệ với Phật tử được xem hay thực chất là sự sống còn của nhà sư thì nhà sư sẽ phải tinh tấn để làm tròn vai trò của mình.

Mối liên hệ giữa nhà sư và Phật tử

Có thể nói hình ảnh tăng đoàn đi khất thực hàng ngày, được đức Phật xác định là truyền thống ba đời của chư Phật, là một biểu tượng đẹp và cũng là biểu hiện dễ nhận thấy về sự liên hệ giữa nhà sư và Phật tử. Các nhà sư hàng ngày phải tiếp xúc với Phật tử để nhận phẩm vật cúng dường và chú nguyện cầu phước cho gia đình họ. Ngược lại, Phật tử phải chuẩn bị tâm thế tiếp đón nhà sư bằng việc chuẩn bị sẵn vật thực với lòng hoan hỉ và đầy trách nhiệm. Nói hoan hỉ và trách nhiệm bởi đây là việc làm tự nguyện, phát tâm và ý thức được giá trị cao đẹp của nó chứ không phải là sự ép buộc. Mối liên hệ này vẫn được duy trì ở các nước nam truyền.

Hình ảnh nhà sư khất thực và hình ảnh Phật tử dâng phẩm vật cúng dường đã trở thành nét văn hóa Phật giáo nam truyền. Nét văn hóa ấy phản ảnh sự gắn bó và hỗ tương giữa hai chúng. Chính sự gắn bó mật thiết này đã tạo nên sự ổn định trong cộng đồng Phật giáo nam truyền và cũng là biện pháp hữu hiệu nhất bảo vệ và phát triển cộng đồng Phật tử trước sự xâm nhập của các hình thái tôn giáo khác.

Bên cạnh sự liên hệ trực tiếp giữa nhà sư và Phật tử thông qua hình thức khất thực, họ còn sinh hoạt với nhau nơi ngôi chùa và thi thoảng tại tư gia. Ngôi chùa vừa là nơi nhà sư hướng dẫn Phật tử tu tập tâm linh, đạo đức; vừa là nơi diễn ra các lễ hội, nghi lễ cúng bái, đặc biệt là các lễ cầu phước và tang ma. Các nhu cầu này đã trở thành truyền thống không thể thiếu trong cuộc đời người Phật tử nên họ gắn bó với ngôi chùa, với các nhà sư một cách tự nhiên. Một khi đạo đức và văn hóa Phật giáo trở thành một phần cuộc sống không thể thiếu của người dân, hay nói rộng hơn, trở thành văn hóa dân tộc thì mối liên hệ hữu cơ giữa nhà sư và Phật tử được củng cố và có điều kiện phát triển bền vững. Sự lợi lạc của nó có thể nhìn thấy qua đời sống bình an của dân chúng. Đây là một bài học đáng lưu tâm.

Không như các nhà sư nam truyền, nhà sư thuộc Phật giáo bắc truyền do thích ứng với văn hóa bản địa nên không thể theo truyền thống khất thực và do đó, họ thiết lập mối liên hệ với Phật tử bằng những con đường mới. Để Phật tử đến chùa, các nhà sư phải đáp ứng những nhu cầu tu tập tâm linh và tín ngưỡng của Phật tử. Ngôi chùa – nơi các nhà sư ở trở thành trung tâm sinh hoạt vừa văn hóa, giáo dục, giải trí; vừa là nơi lễ bái, tín ngưỡng cầu nguyện.

Tuy nhiên, các vai trò văn hóa, giáo dục từng là thế mạnh của nhà chùa xem ra không còn phát huy hiệu quả do quá trình xã hội hóa và do tổ chức nhà chùa yếu kém. Điều mà nhà sư có thể và nên phát huy thế mạnh của mình là giáo dục đạo đức thông qua lời Phật dạy và đặc biệt là chính thân giáo của các nhà sư. Đây là yếu tố quan trọng tạo cơ duyên để nhà sư và Phật tử liên hệ, hỗ trợ lẫu nhau một cách chính đáng.

Ngược lại, các vai trò phục vụ tín ngưỡng, nghi lễ là phượng tiện lại trở nên thịnh hành nơi các ngôi chùa ở xứ Á đông. Đa số Phật tử ngày nay đến chùa và liên hệ với nhà sư đều có liên quan đến mục đích phục vụ nhu cầu này. Nhà sư dù muốn hay không cũng phải đáp ứng nhu cầu ấy trước khi nghĩ đến vấn đề chính là hướng dẫn tu tập tâm linh. Bằng sự thích nghi này, nhà sư và Phật tử có thể tạo mối liên hệ và hỗ tương nhau trong cuộc sống hằng ngày.

Từ sự khát quát trên, ta thấy rằng chủ yếu mối liên hệ giữa nhà sư và Phật tử hiện nay là dựa trên nhu cầu tu tập đạo đức, phước báo và lễ nghi, tín ngưỡng. Trong đó, nhu cầu cầu nguyện phước báo, tín ngưỡng trở nên phổ biến hơn hết. Do vậy, việc tìm các giải pháp thích hợp để làm mới, làm mạnh sinh hoạt Phật giáo để tạo sự liên hệ giữa nhà sư và Phật tử gần gũi hơn, gắn bó hơn là nỗi ưu tư chung của những người con Phật. Nhân đây, người viết đưa ra một số ý đề nghị để tham khảo như sau:

Tiếp tục củng cố vai trò của nhà sư và Phật tử như đã trình bày

Ngôi chùa và nhà sư cần thay đổi cách quản lý sinh hoạt cho hiệu quả, tránh tình trạng thao túng cá nhân, mạnh ai nấy sống.

Ngôi chùa nên hoạt động như là trung gian điều phối các vấn đề như từ thiện (tiếp nhận tài vật và chia sẻ cho người nghèo thiếu), giới thiệu công việc cho Phật tử (trong cộng đồng Phật tử nên tạo công việc cho nhau thông qua kênh tư vấn, giới thiệu là ngôi chùa), làm công tác hòa giải các bất hòa trong cộng đồng Phật tử, là nơi chia sẻ và an ủi những mất mát của Phật tử, và đặc biệt là nơi tạo điều kiện cho con em Phật tử học tập. Ngôi chùa và nhà sư chỉ cần làm một trong những này là đã xây dựng mối liên hệ trên rồi.

Tạo mối sự gắn bó giữa nhà sư và Phật tử thông qua các hình thức xây dựng cộng đồng Phật tử vững mạnh (mỗi ngôi chùa phải có một cộng đồng Phật tử ổn định), tổ chức sinh hoạt cộng đồng Phật tử thường niên, phân chia khu vực để thường xuyên quan tâm thăm hỏi và hỗ trợ lẫn nhau khi trong cộng đồng Phật tử có hữu sự.

Sự phát triển bền vững của một ngôi chùa (cơ sở Phật giáo) có thể được đánh giá qua mối liên hệ giữa nhà sư và Phật tử. Khi mối liên hệ ấy mạnh thì ngôi chùa sẽ mạnh, và do đó Phật giáo thịnh. Ngược lại, mọi người đều hiểu.

Friday, August 12, 2011

Gương xưa còn mãi muôn đời

Phật xưa từ bỏ hoàng cung

Xuất gia tầm đạo kiên cường chuyên tâm

Bao năm khổ hạnh sơn lâm

Đạo mầu giải thoát thậm thâm tỏ tường

Sau khi quán chiếu mười phương

Ngài dùng phương tiện lên đường độ sanh

Dạy cho dân chúng làm lành

Bớt đi điều ác, nhớ hành từ bi

Tham, sân, chấp ngã, lại si

Hành thiền, niệm Phật chuyên trì vượt qua

Chúng sanh sống cõi Ta Bà

Tinh cần tu tập chính là Lạc Bang

Sunday, July 31, 2011

Tiêu Chuẩn Đạo Đức Của Ký Giả Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ

Tiêu Chuẩn Đạo Đức Của Ký Giả Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ
hoặc: Lương Năng Chức Nghiệp của Ký Giả Hoa Kỳ
Society of Professional Journalists: Code of Ethics
I - Lời Mở Đầu (Preamble)
Hội viên của Hiệp Hội Ký Giả Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ tin rằng công luận sáng tỏ là điềm báo trước cho công lý và là nền tảng của dân chủ. Chức năng của các ký giả là xúc tiến những mục tiêu đó và cung ứng một bản tường trình công bằng, toàn diện về một biến cố hay một vấn đề. Ký giả có lương tâm của tất cả cơ quan truyền thông hoặc các nghành truyền thông chuyên biệt - nỗ lực phục vụ công chúng một cách hòan hảo và công bằng. Chính trực trong nghiệp vụ là trụ cột tạo uy tín cho ký giả. Các hội viên của Hội cùng chia xẻ, cống hiến vào tác phong đạo đức, đồng thời chấp thuận và công bố những những quy tắc của Hiệp Hội cùng những tiêu chuẩn hành nghề như sau:
II- Tìm Kiếm Sự Thực Và Tường Trình ( Seek Truth And Report It)
Ký giả phải chân thật, công bằng và can đảm trong việc thu lượm tin tức, tường trình và giải thích nguồn tin. Ký giả/phóng viên phải:
- Kiểm chứng lại tính xác thực của tin tức từ tất cả các nguồn gốc, tránh sơ xuất. Không bao giờ được bóp méo tin tức.
- Nỗ lực tìm cho ra chủ thể/nhân vật chính của bản tin để họ có cơ hội trả lời về những cáo buộc.
- Nhận ra các nguồn tin khi nào thấy đáng tin. Công chúng đòi hỏi sự xác tín càng nhiều càng tốt từ nhiều nguồn tin.
- Luôn luôn hỏi động cơ (motives) tức lý do tại sao trước khi ghi “anonymity” tức “người cho tin xin được phép dấu tên”.
- Phải bảo đảm rằng những tin hàng đầu, tin diễu cợt, tài liệu quảng cáo, hình ảnh, video, phát thanh, tranh vẽ/chữ, một đọan của diễn văn/ đọan văn ngắn, lời trích dẫn…không được trình bày sai lạc. Cũng không thể quá đơn giản hoặc “phóng đại tô màu” (highlight) thêm làm sai lạc nội dung.
- Không được bóp méo nội dung của tin lấy ra từ hình ảnh (news photos) hoặc video. (1) Luôn luôn phải xin phép khi dùng hình ảnh để làm phong phú thêm cho bản tin. Phải phụ chú các hình ảnh đính kèm theo tin.
- Tránh hướng dẫn sai lạc khi diễn lại các sự kiện xảy ra trong quá khứ (re-enactments) (2). Nếu sự diễn lại là cần thiết thì cần phải phụ chú.
- Tránh giả dạng hoặc dùng những phương pháp lén lút để thu lượm tin, ngọai trừ khi nào những phương thức công khai thường lệ không thể khai thác tin rất cần thiết cho công luận. Khi dùng tới phương thức này thì phải giải thích trong bản tường trình.
- Không bao giờ được ăn cắp tin (của người khác)
- Can đảm tường trình khi tin tức có tính cách đa chủng hoặc có tính cách nghiêm trọng cho dù có trái với ý muốn của công chúng đi nữa.
- Xem xét giá trị văn hóa của bản tin và tránh gán ghép những giá trị văn hóa đó cho người khác.(3)
- Tránh thiên kiến về chủng tộc, phái tính, tuổi tác, tôn giáo, chủng tộc, địa lý, khuynh hướng về dục tính, khuyết tật, hình dáng con người và địa vị xã hội. (4)
- Hỗ trợ cho việc đổi chất công khai các quan điểm, cho dù các quan điểm đó mình không thích (ghét).
- Cho người không có tiếng nói được cơ hội nói và những nguồn tin chính thức cũng như không chính thức đều có giá trị ngang nhau.
- Phải phân biệt rõ sự bênh vực (về phe) và tường trình khách quan. Khi có phân tích hoặc bình luận thêm thì phải nêu rõ và không được trình bày sai lạc sự kiện hay nội dung.
- Phải phân biệt rõ tin lấy ra từ các quảng cáo (5) và tránh lọai pha trộn làm mờ ranh giới giữa hai lọai.
- Phải ghi nhận một trách vụ đặc biệt – nếu là công việc chung (việc công) thì phải được điều hành một cách công khai và các tài liệu/hồ sơ phải được mở cho mọi người xem xét.
III- Giảm Thiểu Tại Hại (Minimize Harm)
Ký giả có lương tâm (đạo đức) phải đối xử với nguồn cung cấp tin tức, người bị đề cập tới (chủ thể của tin), đồng nghiệp như một con người và phải kính trọng họ. Ký giả/phóng viên phải:
- Bày tỏ sự bao dung (compassion) đối với những ai bị ảnh hưởng xấu hoặc bị thù ghét vì bản tin. Phải tế nhị trong khi tiếp xúc với trẻ em, các người cho tin hoặc chủ thể của bản tin thiếu kinh nghiệm. (6)
- Phải tế nhị khi lấy tin, phỏng vấn hoặc chụp hình những ai đang phải trải qua một thảm nạn hoặc tình cảm đớn đau. (7)
- Phải biết rằng khi săn tin rồi tường trình, bản tin đó có thể gây thiệt hại hoặc tạo buồn phiền cho người ta. Thu lượm tin tức không phải là cái bằng để kiêu ngạo (license for arrrogantce).
- Phải nhớ rằng công dân thường có nhiều quyền kiểm sóat các dữ kiện liên quan đến cuộc đời họ hơn là các viên chức chính quyền hoặc những người đang vận động tranh cử, hoặc đang tạo ảnh hưởng hoặc đang muốn gây sự chú ý của quần chúng. (8) Chỉ khi nào quyền lợi công cộng cao hơn thì mới có thể biện minh cho sự xâm phạm vào đời tư cá nhân.
- Hãy trình bày đúng mức (good taste). Tránh việc dẫn dắt tới những gì lạ lùng gớm ghiếc.
- Phải thận trọng khi nhận dạng (nêu danh tánh) những nghi can vị thành niên hay nạn nhân của những vụ hãm hiếp/xâm phạm tiết hạnh.
- Phải suy nghĩ chín chắn trong việc nói rõ danh tính những can phạm hình sự trước khi có hồ sơ truy tố chính thức.
- Phải quân bình giữa quyền nghi can được xét xử công bằng và quyền của công chúng được biết rõ nội vụ.
IV- Hành Động Độc Lập (Act Independently)
Ký giả/phóng viên không đặt một thứ quyền lợi nào khác hơn là quyền của công chúng được quyền biết sự thật. Ký giả/phóng viên phải:
- Tránh mâu thuẫn về quyền lợi (conflict of interest) trước mắt hay có thể cảm nhận thấy. (9)
- Không dính líu tới các hội đòan, các họat động để tránh gây tổn thương đến sự chính trực và uy tín của mình.
- Từ chối quà cáp, ưu đãi, chi phí, du lịch miễn phí, đặc quyền đặc lợi, tránh công việc phụ thêm, tham gia vào chính trị, cơ quan công quyền hoặc các dịch vụ của các tổ chức cộng đồng nếu nó làm tổn thương đến sự chính trực của ký giả.
- Công bố các đụng chạm/tranh chấp không thể tránh né được.
- Cảnh giác và can đảm giữ gìn những điều đó với tinh thần trách nhiệm.
- Từ chối đặc ân của các nhà quảng cáo, các nhóm quyền lợi và chống lại áp lực của họ muốn gây ảnh hưởng tới việc loan truyền tin tức.
- Cảnh giác với những người cung cấp tin khi đòi đặc ân hoặc tiền bạc, tránh trả giá để lấy tin.
V- Phải Có Tinh Thần Trách Nhiệm (Be accountable)
Phóng viên/ký giả phải có tinh thần trách nhiệm với độc giả, thính giả, khán giả và với nhau. Ký giả/phóng viên phải:
- Làm sáng tỏ và giải thích sự loan tải tin tức đồng thời mời đối thọai với công chúng về chức năng của ký giả.
- Khuyến khích công chúng không nên than phiền giới truyền thông.
- Thú nhận lỗi lầm và sửa chữa ngay.
- Phơi bày (không dấu diếm) lối hành xử thiếu đạo đức của ký giả và cơ quan truyền thông.
- Cam kết tôn trọng những tiêu chuẩn cao mà những tiêu chuẩn này ứng dụng cho người khác.
* * *
Tiêu Chuẩn Đạo Đức Của Ký Giả Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ được hằng chục ngàn ký giả tự nguyện tôn trọng không phân biệt nơi chốn hay chỗ đứng và được áp dụng rộng rãi trong phòng làm tin và lớp học như là một tiêu mẫu cho hành vi đạo đức. Bản tiêu chuẩn không phải là một lọat những” luật lệ”mà là nguồn tham khảo cho việc quyết định có tính cách đạo đức. Nó không phải – và không nằm dưới Tu Chính Án Số Một- có tính cưỡng hành pháp lý.
Bản sao của văn bản này được chấp thuận trong Đại Hội Tòan Quốc Của Ký Giả Hoa Kỳ năm 1996, sau nhiều tháng nghiên cứu và thảo luận giữa các hội viên. Tiêu Chuẩn Đạo Đức Đầu Tiên của Sigma Delta Chi (tên khác của Hiệp Hội Ký Giả Chuyên Nghiêp Hoa Kỳ) được vay mượn từ Hiệp Hội Các Nhà Biên Tập Báo Chí Hoa Kỳ năm 1926. Năm 1973, Sigma Delta Chi tự soạn lấy bản tiêu chuẩn đạo đức, sau đó bản này được duyệt lại vào các năm 1984, 1987 và 1996.
Trích từ phattuvietnam.net

Saturday, July 30, 2011

Thừa mà thiếu

Có lẽ cuộc đời thật trớ trêu khi hiện tượng ‘thừa mà thiếu’ luôn tồn tại. Trong tự nhiên, đó là sự mất cân bằng của thiên nhiên, thời thiết: nơi thì nóng như lửa đốt, chỗ thì lạnh giá buốt xương; vùng thì bão lũ ngập tràn, xứ thì đồng khô cỏ cháy… Trong xã hội, nó được biểu hiện qua nhiều mặt như mật độ dân số: nơi thì đông đúc không chỗ chen chân, chỗ thì thưa thớt không bóng người; hay sự phân chia vật chất: người thì giàu sang ăn không hết, kẻ thì nghèo cùng, đói khát, còi xương…Đây là vấn đề muôn thuở và con người luôn tìm cách cân bằng nó nhưng xem ra kết quả còn rất khiêm tốn. Nguyên nhân tạo nên hiện tượng trên có sự góp phần của con người và trong nhiều trường hợp chính con người gây ra hiện tượng đó. Chia sẻ về điều này, người viết đề cập đến hai vấn đề ‘thừa mà thiếu’ trong Phật giáo mà nguyên nhân và cách giải quyết phần lớn phụ thuộc ở những người con Phật. Đó là ‘thừa tăng ni mà thiếu sự phân bổ’ và ‘thừa gia tài Phật pháp mà thiếu sách giáo trình, giáo khoa, nhất là sách giáo lý cho người Phật tử tại gia’. Mục đích của bài viết là tìm hiểu một số khía cạnh về nguyên nhân, giải pháp cũng như mong mỏi sự quan tâm của tất cả mọi giới nhằm đóng góp khắc phục khiếm khuyết này.

Theo thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thì số lượng tăng ni cả nước khoảng 45 ngàn (trên tổng số dân hơn 85 triệu người) với số cơ sở tự viện khoảng 17 ngàn. So với chư tăng ở Thái Lan khoảng 400 ngàn (trên tổng số dân khoảng 65 triệu) thì tăng ni Việt Nam chỉ bằng 1/9. Theo sách trắng tôn giáo (xuất bản năm 2006) công bố thì vào năm 2005 tín đồ Phật giáo bao gồm tăng ni và Phật tử chỉ khoảng 10 triệu. Con số này ít hơn rất nhiều so với con số 45 triệu tín đồ đã quy y do Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống kê. Việc chênh lệch về con số như thế cho thấy sự thống kê tín đồ trong Phật giáo còn bất cập do sự quản lý hành chánh chưa đồng bộ và thống nhất. Giả sử số liệu thống kê của GHPGVN đúng thì trung bình mỗi tăng hay ni sẽ hướng dẫn 1000 Phật tử và mỗi cơ sở tự viện chăm lo cho khoảng 2650 Phật tử; còn số liệu của Ban tôn giáo đúng thì mỗi tăng hay ni chỉ hướng dẫn khoảng 222 Phật tử và mỗi cơ sở tự viện đảm trách khoảng 600 Phật tử. Với số tỉnh thành cả nước là 63 thì trung bình mỗi tỉnh thành có khoảng 270 cơ sở tự viện và trung bình mỗi cơ sở tự viện có khoảng 2,65 tăng ni. Nhìn vào con số từ phép tính bình quân thì có vẻ khá lý tưởng với con số của GHPGVN đưa ra và đáng lo ngại với con số của bên nhà nước. Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn không như vậy.

Hiện nay, cả nước có 63 tỉnh thành nhưng chỉ thành lập được 55 Ban trị sự Phật giáo. Các tỉnh chưa có Ban trị sự vì số lượng tăng ni và cơ sở tự viện chưa đủ hoặc chưa có. Trong 55 tỉnh thành còn lại, đa số tăng ni tập trung ở các thành phố lớn dẫn đến tình trạng ‘thừa mà thiếu’ về nhân sự. Nguyên nhân thì rất nhiều nhưng chủ yếu vẫn là phụ thuộc vào điều kiện sinh hoạt. Ở các đô thị, cuộc sống văn minh hơn, sự ủng hộ của Phật tử mạnh hơn, điều kiện tiến thân dễ hơn, đời sống đỡ vất vả hơn….

Ta thử hình dung, là con người có ai không mong muốn có đời sống tương đối đầy đủ, đỡ vất vả nhất là những người ở miền quê. Hiện tượng di cư từ nông thôn ra thành thị phản ảnh rõ ràng nhu cầu mong muốn ấy cho dù nhiều người không muốn bỏ quê và chán cảnh ngộp ngạt của thành phố. Ta cũng thử hình dung có bao nhiêu người bỏ gốc thành phố để về thôn quê sống cảnh thanh nhàn, đạm bạc. Có chăng chỉ là những người về an dưỡng, về đầu tư kinh doanh khi họ đã có cơ sở ở thành thị, về công tác do sự phân bổ theo thời hạn và được ưu đãi nhất định,… và hầu hết họ là những người xuất thân từ các tỉnh, nặng tình với quê hương.

Với trường hợp các tăng ni, họ cũng là con người nên không thể phủ nhận nhu cầu trên. Tuy nhiên, họ vượt trội hơn những người thế tục là nhờ vào đức tính dấn thân phụng sự xã hội, thực hành lý tưởng bồ tát vì lợi lạc số đông. Xem ra, để thực hiện tinh thần ấy sự thử thách không phải nhỏ nếu họ quyết định hành đạo các vùng quê nhất là tăng ni gốc thành thị. Ta thử khảo sát một số nguyên nhân để tìm hiểu sự bất cân bằng về nhân sự trong Phật giáo.

Xuất gia trở thành tăng ni là một hiện tượng đặt thù, khác hoàn toàn với sự phát triển dân số. Dân số thì phân tán khắp nơi, tỉnh nào cũng có và sự tăng giảm nhanh chậm tùy địa phương, trong khi sự xuất gia của tăng ni thì không theo nguyên lý như vậy. Có nơi thì người xuất gia rất đông nhưng có nơi thì đốt đuốc đi tìm cũng chẳng ra. Đây là nguyên nhân thứ nhất dẫn đến sự mất cân bằng nhân sự.

Thứ hai, sau khi xuất gia, tăng ni thường phải tìm đến các thành phố lớn, nơi có các trường Phật giáo để học tập, trau dồi tri thức. Sau khi hoàn tất chương trình, số tăng ni tìm cách trụ lại không phải là nhỏ dẫn đến thừa nhân sự nơi các thành phố lớn.

Tại sao nhân sự không được phân bổ cân bằng? Một số trường hợp tham khảo như sau:

Trường hợp trở về chùa tổ, nơi xuất gia:

Nếu thầy tổ có nhiều đệ tử thì tất cả họ về chùa sẽ làm gì khi mà Phật sự tại một ngôi chùa dù to lớn cũng không nhiều. Nếu thầy tổ quan tâm giới thiệu các cơ sở hiện còn ở địa phương cho đệ tử thì chắc chắn khả thi nhưng hiện tại nhiều tỉnh thành đâu còn chùa mà giới thiệu. Nếu họ chịu về quê lập cơ sở hành đạo thì việc xin phép xây dựng cơ sở mới là một điều vô cùng khó cả về hành chính lẫn tài chính. Xem ra, các tỉnh thành có tăng ni xuất gia nhiều thì dường như đã bão hòa nên sự có mặt của họ không đóng góp gì nhiều trừ phi họ là người xuất chúng. Do đó, nhiều người không muốn quay về, nhất là khi họ có điều kiện sống mới tốt hơn.

Trường hợp đến địa phương khác hành đạo:

Một số tăng ni được Phật tử quen biết, quý mến về đạo hạnh nên thỉnh về các chùa ở tỉnh để hướng dẫn họ tu tập. Trong trường hợp này, để được chấp nhận hành đạo nơi quê hương mới, vị ấy ít nhất phải hội đủ 3 điều kiện: Phật tử hay ban hộ tự tán thành ủng hộ, chính quyền ủng hộ, và đại diện Phật giáo địa phương thông qua. Để đáp ứng các điều kiện trên, bản thân tăng ni phải trải qua một giai đoạn thử thách bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần. Nếu vị nào vượt qua thử thách này thì xem như thành công để tiếp tục Phật sự nơi quê hương mới. Cần nói thêm rằng, hiếm có trường hợp đại diện địa phương giúp đỡ tận tình, vô tư cho những vị mới đến như tinh thần đạo Phật chỉ dạy.

Trường hợp tự lực cánh sinh:

Sau thời gian tu học tại chùa và trải qua quá trình đào tạo ở các trường, một số tăng ni đã trải qua nửa đời người và quyết định tìm hướng đi riêng cho mình. Lý do là họ không có thầy tổ quan tâm, hay thầy tổ không còn, hoặc họ thích tự lập nên tự nỗ lực tìm nơi an cư lạc nghiệp mà hành đạo. Có hai con đường lựa chọn: hoặc là tự đi đến nơi nào có nhu cầu làm Phật sự, nơi nào có chùa mà chưa có trụ trì bất kể xa gần để xin được ở phụng sự Phật pháp, hướng dẫn tín đồ; hoặc tự tìm cho mình một khu đất xây tịnh thất hay sang lại chùa tư gia nào đó rồi cải tạo lại để sinh hoạt. Con đường thứ nhất hiếm thấy xảy ra vì xác xuất thành công quá mơ hồ trong khi con đường thứ hai thì dễ dàng hơn nhiều nếu họ có một ít tài chánh.

Câu hỏi đặt ra là tại sao họ không đem vốn liếng ấy đến xây dựng ở những vùng xa có nhu cầu Phật sự?! Hỏi như thế cũng giống như hỏi tại sao các công ty, nhà máy không chọn đầu tư ở vùng xa mà chỉ chọn ở các thành phố lớn hay các tỉnh kề cận.

Thời đại ngày nay nếu không ‘thân, thế’ thì ai dám tin tưởng, chấp nhận cho một người lạ đến ở sinh hoạt nơi quê hương của mình. Liệu có tăng ni nào một thân một mình, tự lực cánh sinh đến ở một nơi xa lạ, không quen một ai, không một người hỗ trợ, và có thể bị mời làm việc vì di cư bất hợp pháp. Giữa sự lựa chọn còn mơ hồ và sự lựa chọn nắm chắc phần thành công thì bao giờ người ta cũng chọn phần dễ thành công. Tạo dựng tịnh thất hay chùa ở thành phố hay các nơi lân cận vừa tiện việc đi lại sinh hoạt, vừa tiện cho việc tiếp xúc gặp gỡ những Phật tử thân quen để được hỗ trợ qua lại. Họ tự lo cho họ như vậy là sai chăng?!

Nói như thế không có nghĩa là không có những vị phát nguyện dấn thân đến những nơi xa xôi, đem cả cuộc đời của mình phụng sự chúng sanh. Tiếc rằng con số ấy quá khiêm tốn. Điều đó cũng dễ hiểu bởi một thân một mình với ít vốn kiến thức và chút kinh nghiệm tu tập khó có thể tự lập nơi xa xôi không người thân thích. Muốn ý nguyện của họ thành hiện thực cần phải hội đủ điều kiện cần và đủ. Điều kiện cần là năng lực của mỗi vị tăng ni còn điều kiện đủ là nơi cư trú ổn định và đời sống vật chất tương đối chấp nhận được. Thời đại ngày nay đâu thể sống rày đây mai đó như thời đức Phật mà một khi đã trụ ở đâu thì coi như suốt đời ở đó rồi. Một lựa chọn quyết định cả đời đâu phải chuyện chơi, chuyện lý tưởng.

Thông thường, một người con ra ở riêng là được gia đình tạo kiện giúp đỡ trong thời gian đầu cho ổn định; hay một gia đình di cư đến vùng kinh tế mới cũng được nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ ban đầu. Cũng vậy, tăng ni phát nguyện dấn thân nơi xa xôi cũng cần sự trợ giúp về pháp lý lẫn vật chất trong thời gian đầu để họ ổn định. Tiếc thay, chương trình hỗ trợ vẫn chưa được xây dựng để khuyến khích và hỗ trợ Phật sự chính đáng này. Đây là một thiếu sót trong chính sách nhân sự và cũng chính là điều tăng ni và Phật giáo đang mong mỏi.

Trường hợp luân chuyển nhân sự:

Trường hợp bổ nhiệm, luân chuyển nhân sự trụ trì theo nhiệm kỳ như cách làm của đạo thiên chúa không được áp dụng trong Phật giáo Việt Nam hiện nay vì cơ cở tự viện được cho là tài sản của Giáo hội nhưng thực chất là của vị trụ trì hay tín đồ nơi đó. Do vậy nên hiện tượng rất nhiều chùa ở các tỉnh phía Bắc không có trụ trì hay một vị phải đảm trách nhiều ngôi nhưng không ai được quyền vào để gánh vác Phật sự là điều dễ hiểu. Hậu quả trước mắt của nó là nghịch lý: tăng ni thì có dư, nhưng chùa thì vẫn cứ thiếu nhân sự.

Giải pháp cụ thể nào để giải quyết vấn đề trên thật sự là chưa có ngoại trừ những lời kêu gọi tự giác dấn thân, nỗ lực tự thân thực hành hạnh bồ tát. Giải pháp mà chỉ bằng kêu gọi thì khó lòng có kết quả vì chẳng có sự tự giác nào lại không cần quy định luật pháp. Tự giác mà không cần luật pháp hay giới luật thì Phật đâu cần chế giới làm gì!

Thừa gia tài Phật pháp thiếu sách giáo trình, giáo lý

Đức Phật để lại cho nhân loại kho tàng kinh điển có giá trị tâm linh bậc nhất. Đó là niềm hạnh phúc của nhân loại nói chung và những người con Phật nói riêng. Tuy nhiên, vì giáo pháp bao hàm nhiều lĩnh vực và cấp độ khó dễ khác nhau nên không phải ai cũng có thể hiểu và hành trì đúng lời Phật dạy, chưa kể sự chứng đắc. Đứng trước rừng giáo lý, người học Phật sơ cơ nhất là Phật tử bình dân sẽ choáng ngộp, không biết lối nào để vào nếu không có người hướng dẫn. Do vậy, nhiều người Phật tử hết lời khen ngợi giáo pháp cao siêu nhưng hỏi ra thì không biết cốt yếu của đạo Phật là gì. Điều đó cũng giống như chúng ta chiêm ngưỡng kim cương nhưng không biết nó cấu tạo thế nào và công dụng để làm gì.

Hiện nay, mặc dù hệ thống giáo dục Phật giáo khá quy mô gồm nhiều cấp đào tạo nhưng chưa có bộ sách giáo khoa thống nhất nào cả. Mỗi trường làm theo mỗi kiểu và có khi chương trình sơ cấp còn cao hơn trung cấp. Lý do đơn giản là giáo thọ sư muốn dạy gì thì tùy ý mỗi vị. Kết quả là tăng ni sinh học nhiều mà hiệu quả lại không tương xướng.

Do đó, xây dựng một chương trình cụ thể và tạo một bộ sách giáo khoa thống nhất từ thấp đến cao là điều hết sức cần thiết bởi nó định hướng cho tăng ni sinh con đường đi đúng đắn trong khi đang học tại trường cũng như nghiên cứu về sau, và giúp tránh bớt tình trạng lý giải giáo lý mỗi người một kiểu không ai kiểm chứng. Công việc này đòi hỏi công sức của cả một tập thể chứ không thể một vài cá nhân. Vấn đề là ban nào thực hiện và khi nào thực hiện thì chưa có lời giải đáp.

Đối với Phật tử tại gia, Phật giáo dường như quên họ hay không quan tâm đến họ. Hầu hết Phật tử không được giảng dạy giáo lý Phật giáo trừ thời gian gần đây ở một số tỉnh thành đang thực hiện. Phật tử sau khi quy y chỉ được khuyên kính tam bảo, giữ năm giới và nhận phái quy y xem như phao cứu hộ. Ngoài ra, họ không nhận một quyển giáo lý Phật pháp căn bản hay băng đĩa nào trừ một số chùa mới thực hiện gần đây. Tuy nhiên, vẫn chưa có quyển sách giáo lý căn bản chung nào dành cho Phật tử được Giáo hội phát hành. Sách giáo lý thì không thiếu nhưng thiếu cái nhất quán từ Giáo hội. Nếu Giáo hội với tư cách là cơ quan Phật giáo duy nhất và cao nhất chọn bộ sách giáo lý căn bản chuẩn rồi phát hành rộng rãi cho tất cả Phật tử thì quý hóa biết mấy. Nó có thể được xem như là sách gối đầu giường của mỗi Phật tử, cũng giống như các tôn giáo bạn trang bị kinh thánh cho tất cả tín đồ của họ. Nhờ kinh thánh mà tín đồ của họ liên kết chặt chẽ thì lẽ nào chúng ta chẳng chịu học điều hay này ư! Thay vì kêu gọi ấn tống các bộ kinh chỉ để chưng trong tủ cho đẹp thì nên ấn tống sách giáo lý này để phân phát cho tất cả Phật tử và những người yêu mến tìm hiểu Phật giáo. Đó không phải là cách hoằng pháp hữu hiệu sao!

Chúng ta luôn kêu gọi bài trừ mê tín dị đoan nhưng lại thiếu sự giáo hóa bài bản, có hệ thống. Cứ cung cấp cho Phật tử những phương tiện để họ hiểu giáo lý Phật giáo thì dần dần họ sẽ tự bỏ dần mê tín thay vì chỉ kêu gọi suông, trong khi vẫn tồn tại tình trạng thầy thì bài xích, thầy thì thực hành dẫn đến Phật tử chẳng biết tin ai, ngoại trừ cái gì cũng theo với quan niệm hên xui may rủi, có làm hơn không. Đây là cách mà đức Phật của chúng ta đã làm cách đây 26 thế kỷ chứ có mới mẻ gì đâu.

Đã đến lúc chúng ta nhìn lại chính mình mà điều chỉnh nền giáo dục Phật giáo cho thích hợp theo tinh thần khế lý, khế cơ. Đừng bao giờ tự mãn rằng gia tài tâm linh cao siêu sẽ thu hút Phật tử như kim cương thu hút khách hàng mà hãy làm sao chuyển gia tài ấy từ trong tàng kinh các ra ngoài đời sống hiện thực. Nếu không làm được thì dù mong muốn giữ gìn Phật giáo, giữ chân Phật tử cũng chỉ là vô ích. Tinh thần bài pháp Tứ Diệu Đế cần áp dụng ngay tại đây.