Monday, September 26, 2011

GHPGVN - 30 năm thành lập, phát triển và đồng hành cùng dân tộc

Trong quá trình tồn tại và phát triển gần 2.000 năm trên đất nước Việt Nam thân yêu, Phật giáo Việt Nam đã sớm hài hòa, gắn bó với dân tộc xuyên suốt dòng lịch sử truyền bá tư tưởng giáo lý của đạo Phật.

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
30 NĂM THÀNH LẬP, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC

Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam

I. BỐI CẢNH CHUNG:
Trong quá trình tồn tại và phát triển gần 2.000 năm trên đất nước Việt Nam thân yêu, Phật giáo Việt Nam đã sớm hài hòa, gắn bó với dân tộc xuyên suốt dòng lịch sử truyền bá tư tưởng giáo lý của đạo Phật. Đặc biệt, trong những giai đoạn thăng trầm của dân tộc, Phật giáo Việt Nam đều tích cực đóng góp công sức, chống lại các thế lực của ngoại bang để đem lại an lạc, hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
Trong từng thời kỳ lịch sử dân tộc, danh xưng của Giáo hội dù có khác nhau, nhưng sự nghiệp chủ yếu của Phật giáo Việt Nam vẫn là hoằng dương chính pháp, lợi lạc quần sinh. Vì thế, trong những thập niên trước năm 1975, Phật giáo Việt Nam tuy đã có tổ chức và thực hiện các cuộc vận động thống nhất Phật giáo, nhưng nhìn chung chưa có cuộc vận động nào mang được trọn vẹn ý nghĩa của nó trước khi ra đời như Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay. Một phần do âm mưu chia để trị của chính quyền Thực dân cũ và mới trước kia trong mọi lĩnh vực, một phần do hoàn cảnh khách quan của đất nước còn bị chia cắt, một phần do những dị đồng chưa thể hóa giải để các đệ tử Phật cùng chung chăm lo Phật sự.
Vì vậy, các tổ chức Phật giáo trước đây tại Việt Nam chưa hội đủ các yếu tố để hợp thành một khối thống nhất đúng ý nghĩa, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết hòa hợp, yêu nước của toàn thể Tăng Ni, Phật tử Việt Nam.
Sau ngày 30/04/1975, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, giang san nối liền một cõi, Bắc Nam sum họp một nhà. Đất nước thống nhất là yếu tố hết sức mãnh liệt và là bối cảnh vô cùng thuận lợi, là động lực để chư Tôn Giáo phẩm, Tăng Ni, Phật tử các tổ chức Giáo hội, Hệ phái thực hiện nguyện vọng, tâm huyết thống nhất Phật giáo mà các thế hệ Tiền bối đã dày công tạo dựng. Đây chính là duyên khởi của sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
II. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN GHPGVN
Để thực hiện nguyện vọng, tâm huyết thống nhất Phật giáo của chư Tôn Giáo phẩm, Tăng Ni, Phật tử các tổ chức Giáo hội, Hệ phái cả nước, Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam đã được tổ chức từ ngày 04 đến ngày 07/11/1981 tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội. Đại hội quy tụ 09 tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo trong cả nước:
1. Hội thống nhất Phật giáo Việt Nam.
2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
3. Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam.
4. Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước Tp. Hồ Chí Minh.
5. Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam.
6. Giáo hội Phật giáo Thiên Thai Giáo Quán.
7. Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam.
8. Hội Sư sãi Yêu nước miền Tây Nam bộ.
9. Hội Phật học Nam Việt.
Kể từ đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước để thực hiện mọi hoạt động Phật sự theo hướng đi lên của thời đại, đến nay đã tròn 30 năm, trải qua 06 nhiệm kỳ.
+ Nhiệm kỳ I là thời kỳ xây dựng và củng cố cơ sở với 50 thành viên HĐCM, 50 thành viên Hội đồng Trị sự, thành lập 28 Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội, 06 Ban Ngành hoạt động.
+ Nhiệm kỳ II là giai đoạn phát triển các mặt hoạt động theo chương trình nội dung 6 điểm của Giáo hội trong thời kỳ đổi mới của xã hội và đất nước, với 60 thành viên HĐCM, 60 thành viên Hội đồng Trị sự, thành lập được 33 đơn vị Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội và 08 Ban Ngành hoạt động.
+ Nhiệm kỳ III là giai đoạn tiếp tục phát triển một cách toàn diện và hoàn chỉnh các mặt hoạt động của 10 Ban Ngành, Viện từ Trung ương đến địa phương trong thời kỳ tiếp tục đổi mới và mở cửa của đất nước, tiến tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thành lập 41 đơn vị Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội, với 75 thành viên HĐCM, 70 thành viên Hội đồng Trị sự.
+ Nhiệm kỳ IV thành lập 45 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo, với 65 thành viên HĐCM, 95 thành viên HĐTS. Đây là nhiệm kỳ tổng kết những thành quả của Giáo hội trong những năm cuối của thế kỷ 20 để vững vàng bước sang thế kỷ 21.
+ Nhiệm kỳ V là nhiệm kỳ đầu của thế kỷ 21, với 52 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo, 85 thành viên Hội đồng Chứng minh, 95 thành viên Hội đồng Trị sự chính thức và 24 thành viên Hội đồng Trị sự dự khuyết.
+ Nhiệm kỳ VI, kiện toàn cơ chế tổ chức, triển khai nội dung hạt động theo tinh thần Hiến chương đã tu chỉnh, gồm 03 cấp hành chánh Giáo hội, với 57 đơn vị Tỉnh, Thành hội Phật giáo, 97 thành viên HĐCM, 147 thành viên HĐTS chính thức và 48 thành viên dự khuyết HĐTS. Trong nhiệm kỳ này, Giáo hội đã công nhận 06 Hội Phật tử Việt Nam tại các nước Châu Âu như: Cộng hòa Liên Bang Nga, Đức, Séc, Hungary, Ba Lan và Ucraina.
Qua 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bằng những thuận lợi khách quan và chủ quan, qua các Nghị định 267, 26 của Chính phủ, nhất là Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo đã được Thường vụ Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước ký sắc lệnh công bố ngày 29.6.2004, Nghị định số 22/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01.3.2005 đã làm cơ sở cho hoạt động tôn giáo nói chung thêm thuận lợi và đạt kết quả hữu hiệu.
Qua đó, từng thành viên của Ban thường trực, Hội đồng Trị sự, các Ban, Viện Trung ương Giáo hội, các Tỉnh, Thành hội Phật giáo, Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước tích cực hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của mình, đạt được những thành quả khả quan từ phạm vi xây dựng và củng cố cơ sở Trung ương, địa phương cho đến hoạt động chuyên ngành như Tăng sự, Giáo dục Tăng Ni, Hướng dẫn Phật tử, Hoằng pháp, Nghi lễ, Văn hóa, Kinh tế Tài chính, Phật giáo quốc tế, Từ thiện xã hội, Nghiên cứu Phật học, làm cơ sở tổng kết công tác hoạt động Phật sự 30 năm qua của Giáo hội một cách phong phú và khởi sắc.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động vẫn còn những khó khăn, hạn chế và tồn đọng không sao tránh khỏi mà trong phần nhận xét đánh giá của bản báo cáo sẽ trình bày.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG PHẬT SỰ VÀ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA GHPGVN

A. VỀ MẶT TỔ CHỨC:
- Thực hiện Nghị quyết các kỳ Hội nghị Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, Nghị quyết Hội nghị Thường niên Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trung ương Giáo hội đã ban hành các Thông tư, Thông bạch và các văn kiện có liên quan như tổ chức Đại lễ Phật đản, An cư Kiết hạ, tổ chức Hội thảo chuyên ngành các Ban, Viện Trung ương Giáo hội; thông tư hướng dẫn tổ chức Đại hội Đại biểu Phật giáo cấp Quận, Huyện, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh và Đại hội Đại biểu Phật giáo cấp Tỉnh, Thành; Thông bạch tổ chức Đại lễ Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam; tổ chức Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; Đại lễ Kỷ niệm 700 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn; Lễ kỷ niệm 1000 năm Quốc sư Khuông Việt viên tịch; thông bạch cúng dường công đức phí, thông cáo tổ chức Đại lễ tưởng niệm kỳ siêu anh linh anh hùng liệt sĩ và đồng bào tử nạn trong các thời kỳ chiến tranh; Thông bạch kêu gọi Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước cảnh giác trước âm mưu chia rẽ của những thế lực thù địch; cùng nhiều văn bản có liên quan khác.
- Công tác khắc dấu tròn cho Ban Đại diện Phật giáo và cơ sở, đến nay đã khắc xong 280 khuôn dấu tròn cho Ban Đại diện Phật giáo cấp Quận, Huyện, Thị, Thành phố thuộc tỉnh; và 4.531 con dấu tròn cho các Tự Viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường trong cả nước.
- Công tác xây dựng Trụ sở Văn phòng 1 Trung ương Giáo hội – Chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội đã được xây dựng khang trang; Trụ sở Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội – Thiền viện Quảng Đức, Tp. Hồ Chí Minh đang thi công dãy nhà Tây Lang hạng mục C của công trình, đến nay đã đạt được 70%, dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong dịp Hội nghị thường niên kỳ V khóa VI cuối năm 2011.
- Trụ sở Văn phòng Tỉnh, Thành hội Phật giáo hầu hết đều được trùng tu, xây dựng khang trang, với trang thiết bị tiện nghi; một số Tỉnh hội đang tiến hành trùng tu, xây dựng mới.
- Công tác xây dựng và củng cố cơ sở các cấp Giáo hội tại địa phương:
Giáo hội đã có 57/63 Tỉnh, Thành hội Phật giáo được thành lập và hoạt động ổn định, đạt nhiều thành quả to lớn. Thành viên Ban Trị sự là đại diện của các Hệ phái Phật giáo, có phẩm chất đạo đức và năng lực để điều hành Phật sự.
- Công tác Phật giáo Nam tông Khmer:
+ Trung ương Giáo hội đã tổ chức 04 Hội nghị Chuyên đề Phật giáo Nam tông Khmer tại Sóc Trăng, Cần Thơ, Bạc Liêu và Kiên Giang.
+ Đã in 80 đầu Kinh sách Phật giáo bằng chữ Khmer, tổng cộng 385.388 cuốn và trao tặng cho 14 Tỉnh, Thành hội có Phật giáo Nam tông Khmer sinh hoạt.
+ Được sự hỗ trợ của Cơ quan chức năng các tỉnh, thành hỗ trợ kinh phí vận chuyển, chư Tôn đức đại diện Phật giáo Nam tông Khmer tại 14 đơn vị Tỉnh, Thành hội Phật giáo đã sang Vương quốc Campuchia thỉnh Đại Tạng Kinh nguyên bản bằng tiếng Khmer, để phân phối cho các chùa Phật giáo Nam tông Khmer có nhu cầu đọc tụng.
+ Được sự hỗ trợ kinh phí từ Ban Tôn giáo Chính phủ, Trung ương Giáo hội đã tổ chức 02 lần (năm 2005, 2010) cho 43 đại biểu là cấp cao của Phật giáo Nam tông Khmer tham quan thủ đô Hà Nội.
- Ban Truyền thông:
Ban Truyền thông trực thuộc Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa được thành lập theo Quyết định số 320 ngày 23/8/2011. Ban Truyền thông ra đời là một sự kiện để kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hướng đến Đại hội VII GHPGVN và Đại hội Đại biểu Tỉnh, Thành hội Phật giáo nhiệm kỳ 2012 – 2017; là điều kiện cần và đủ để chuẩn bị cho công tác quảng bá hình ảnh của Giáo hội đến với Tăng Ni, Phật tử, quần chúng qua phương thức truyền thông đa phương tiện, đặc biệt là chuẩn bị cho sự ra đời của các kênh truyền thanh, truyền hình về Phật giáo Việt Nam.
B. HOẠT ĐỘNG CHUYÊN NGÀNH:
1. Về Tăng sự:
Theo báo cáo sơ khởi của Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội Phật, số lượng Tăng Ni và cơ sở Tự viện trong cả nước được tóm tắt như sau:
- Về Tăng Ni, có 46.495 vị
- Về Tự viện có 14.778 cơ sở Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường.
- Về công tác cấp giấy Chứng nhận Tăng Ni, Ban Tăng sự Trung ương đã duyệt cấp 21.515 CNTN, đổi 2.871 CNTN, 8.431 Chứng nhận Tu sĩ.
- Về truyền giới cho Tăng Ni, các Tỉnh Thành hội Phật giáo đã tổ chức 258 Đại Giới đàn, truyền giới cho 37.040 giới tử; đã duyệt cấp 36.218 chứng điệp thọ giới.
- Tổ chức An cư Kiết hạ:
Mỗi năm, trung bình có khoảng 25.000 Tăng Ni an cư tập trung và gần 3000 Tăng Ni an cư tại chỗ; Có trên 8000 Chư Tăng Nam tông an cư theo truyền thống Hệ phái. Trung ương Giáo hội đã duyệt cấp 11.864 sổ Chứng điệp An cư Kiết hạ cho Tăng Ni An cư lần đầu.
- Tổ chức khóa Bồi dưỡng Trụ trì và tập huấn Hành chánh:
+ Tại Văn phòng Trung ương Giáo hội tổ chức 02 khóa Bồi dưỡng Hành chánh Giáo hội cho Tăng Ni, Cư sĩ Ban Viện Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội, Ban Đại diện Phật giáo v.v….
+ Tại Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo đã tổ chức thành công 70 Khóa Bồi dưỡng nghiệp vụ Trụ trì và tập huấn Hành chánh Giáo hội cho Tăng Ni, Cư sĩ thành viên Ban Trị sự, Ban Đại diện, Tăng Ni Trụ trì các cơ sở Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường, có 19.701 lượt Tăng Ni, Cư sĩ tham dự.
- Bổ nhiệm trụ trì, chuyển vùng tu học và sinh hoạt Phật sự:
Để điều hành sinh hoạt cơ sở tín ngưỡng đơn vị của Giáo hội, Ban Trị sự Phật giáo các Tỉnh, Thành đã bổ nhiệm gần 10 ngàn Tăng Ni trụ trì cơ sở và hợp thức hóa, công nhận hàng ngàn Tăng Ni là trụ trì cơ sở của Giáo hội, đồng thời đã chấp thuận cho hàng trăm cơ sở Tự viện được gia nhập và sinh hoạt hợp pháp trong Giáo hội.
Trung ương Giáo hội và Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo đã giới thiệu, thuyên chuyển hàng trăm Tăng Ni từ miền Nam ra miền Bắc và các Tỉnh, Thành hội Phật giáo phía Nam để tu học, sinh hoạt Phật sự và hướng dẫn Phật tử tu học tại cơ sở tự viện của Giáo hội tại địa phương.
- Phân ban đặc trách Ni giới thuộc Ban Tăng sự Trung ương:
Kể từ sau Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, Phân ban đặc trách Ni giới thuộc Ban Tăng Sự Trung ương GHPGVN nhiệm kỳ VI (2007 - 2012) được thành lập vào tháng 11 năm 2008, đến nay các hoạt động của Phân ban Đặc trách Ni giới đều ổn định, có 33 Tỉnh, Thành hội Phật giáo thành lập Phân ban đặc trách Ni giới. Theo thống kê, số lượng Ni chúng là 20.571 vị; cơ sở 8.101 cơ sở Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường do chư Ni quản lý và tham gia vào các Phật sự chung của Giáo hội như giảng dạy các Trường Phật học, Khóa An cư kiết hạ, thực hiện công tác từ thiện xã hội, đạt kết quả khả quan.
2. Công tác Giáo dục Tăng Ni:
Giáo dục và đào tạo Tăng Ni có trình độ Phật học căn bản và nâng cao là một trong những Phật sự trọng tâm của Giáo hội. Vì thế, từ khi GHPGVN được thành lập, công tác Giáo dục luôn được lãnh đạo các cấp Giáo hội quan tâm, chú trọng và tạo điều kiện để Giáo dục Phật giáo luôn được phát triển.
- Hội thảo giáo dục:
+Tổ chức thành công nhiều Hội nghị chuyên đề Giáo dục Phật giáo và Hội nghị của 04 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội để thống nhất chương trình Giáo dục tại các Học viện, các Trường Phật học, biên soạn lại Giáo trình giảng dạy của các cấp học, nhất là việc lập đề án trình và xin phép mở Hậu Đại học.
+ Tổ chức Hội thảo Giáo dục Phật giáo toàn quốc tại Hà Nội.
- Các cơ sở Giáo dục Phật giáo:
+ Học viện: Có 04 Học viện, gồm Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Huế, Tp. Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo Việt Nam Nam tông Khmer tại Tp. Cần Thơ. Đã đào tạo 4.826 Tăng Ni sinh tốt nghiệp Cử nhân Phật học; đang đào tạo trên 2000 Tăng Ni sinh. Hệ đào tạo từ xa của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh có 400 Học viên đăng ký theo học.
+ Cao đẳng Phật học: Có 08 Lớp Cao đẳng Phật học. Đã đào tạo 1.506 Tăng Ni sinh tốt nghiệp; đang đào tạo 690 Tăng Ni sinh.
+ Trung cấp Phật học: Có 31 Trường Trung cấp Phật học: Tp. Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Phú Thọ, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Gia Lai. Đã đào tạo 7.315 Tăng Ni sinh tốt nghiệp Trung cấp Phật học; đang đào tạo 2.611 Tăng Ni sinh.
+ Sơ cấp Phật học:
Có khoảng 50 Lớp Sơ cấp Phật học, có gần 1.500 Tăng Ni sinh đang theo học chương trình Sơ cấp Phật học.
- Các Trường lớp của Phật giáo Nam tông:
+ Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Tp. Cần Thơ, có 58 Tăng sinh tốt nghiệp Cử nhân Phật học khóa I; đang tiếp tục đào tạo Khóa II (2011 - 2015).
+ Về các Lớp Trung cấp Phật học, có 19 lớp, 1.534 Tăng sinh theo học; 26 Tăng sinh tốt nghiệp Trung cấp bổ túc văn hóa Pali Nam bộ; Có 36 Lớp Sơ cấp, 2.777 Tăng sinh theo học; có 785 Lớp Pali, Khmer ngữ tiểu học, 25.155 chư Tăng và con em dân tộc theo học, góp phần hoàn thiện chương trình giáo dục Phật học, phổ thông cho chư Tăng và con em đồng bào dân tộc theo Phật giáo Nam tông trong hệ thống giáo dục của Phật giáo Việt Nam.
+ Du học:
Được sự giúp đỡ của Chính phủ và các cơ quan chính quyền lãnh đạo địa phương, Giáo hội đã giới thiệu 376 Tăng Ni du học tại các nước: Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanka, Trung Quốc, Pháp, Thái Lan, Tích Lan, Myanma, Mỹ, Úc, Đài Loan….. Đã có gần 100 Tăng Ni tốt nghiệp Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành Phật học và các chuyên ngành khác như tâm lý học, triết học, xã hội học đã về nước, hiện đang tham gia các công tác của Ban Viện Trung ương Giáo hội, các Tỉnh, Thành hội Phật giáo, nhất là tham gia công tác giảng dạy tại các Học viện Phật giáo Việt Nam, các Lớp Cao đẳng Phật học và các Trường Trung cấp Phật học.
3. Công tác Hoằng pháp:
Được sự hỗ trợ của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự và các ngành chứng năng có liên quan, Ban Hoằng pháp Trung ương và địa phương đã tuần tự thực hiện có hiệu quả một số công tác trọng tâm như:
- Tổ chức thành công 04 khóa Hội thảo Hoằng pháp tại Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội; 03 khóa Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc tại Đà Nẵng, Kiên Giang, Bình Dương; 05 khóa Hội thảo Hoằng pháp tại các tỉnh phía Bắc; 01 khóa Hội thảo Hoằng pháp tại các tỉnh khu vực miền Trung và Tây nguyên.
- Công tác đào tạo Giảng sư: Đã đạo tạo thành công 4 khóa Cao cấp và Trung cấp Giảng sư, có 681 Tăng Ni Giảng sinh tốt nghiệp; khóa V (2009 - 2012), có 140 Tăng Ni giảng sinh Lớp Cao cấp giảng sư và 40 Tăng Ni giảng sinh Trung cấp giảng sư đang được đào tạo.
- Thăm viếng và thuyết giảng: Nhân mùa An cư Kiết hạ hằng năm, Ban Hoằng pháp Trung ương đều tổ chức thăm viếng, cúng dường, thuyết giảng tại Trường hạ các Tỉnh, Thành hội Phật giáo miền Tây, miền Đông, miền Trung, Tây nguyên và một số Tỉnh, Thành hội Phật giáo phía Bắc.
- Sinh hoạt tại các đạo tràng: Chương trình thuyết giảng, sinh hoạt giáo lý tại hơn 100 đơn vị đạo tràng như: Đạo tràng Pháp Hoa, Dược Sư, tu Bát Quan trai, tu Thiền, niệm Phật, Phật thất, khóa tu một an lạc v.v… được các thành viên Ban Hoằng pháp Trung ương, Ban Hoằng pháp các Tỉnh, Thành hội Phật giáo, Giảng sư đoàn Trung ương, Giảng sư đoàn cấp Tỉnh, Thành nỗ lực tham gia trong công đưa Phật pháp đến với đồng bào Phật tử các giới, nhất là đồng bào dân tộc các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo. Mỗi điểm giảng tại các giảng đường lớn, đạo tràng lớn có khoảng từ 200, 300 đến trên 1000, 1500 đồng bào Phật tử các giới tham dự.
- Hội thi giáo lý dành cho cư sĩ, Phật tử: Để tạo điều kiện cho Phật tử tìm hiểu giáo lý, Ban Hoằng pháp Trung ương và các Tỉnh, Thành hội Phật giáo đã tổ chức nhiều Hội thi giáo lý cho Phật tử tại Trung ương và một số Tỉnh, Thành. Nổi bật nhất là Hội thi giáo lý dành cho Phật tử tại khu vực Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây, khu vực các tỉnh Tây nguyên và miền Trung, khu vực các tỉnh, thành phía Bắc đã được tổ chức thành công rực rỡ. Mỗi hội thi có trên 1000 đến vài ngàn đồng bào Phật tử tham dự, gồm đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần, và có những người ngoại quốc yêu đạo Phật đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam cũng đăng ký tham dự Hội thi giáo lý.
Các thành quả hoạt động của công tác Hoằng pháp đã góp phần truyền bá giáo pháp Đức Phật đến mọi tầng lớp đồng bào Phật tử, tăng trưởng đạo tâm, phát huy chánh tín, tạo nguồn an lạc, giải thoát, ổn định trong cuộc sống và sự tu tập theo Chánh pháp của người Phật tử tại gia.
4. Công tác Hướng dẫn Phật tử:
Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương có 02 Phân ban Cư sĩ và Phân ban Gia đình Phật tử hoạt động đã triển khai các hoạt động Phật sự có kết quả theo chương trình đã đề ra như:
- Ban Thường trực Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương thường xuyên thăm viếng và trao đổi thông tin Phật sự với Ban Hướng dẫn Phật tử các Tỉnh, Thành hội Phật giáo.
- Tổ chức Hội nghị góp ý sửa đổi Nội quy hoạt động của Ban và Phân ban.
- Theo số lượng thống kê của Phân ban Gia đình Phật tử, hiện có 1003 đơn vị Gia đình Phật tử sinh hoạt trong Giáo hội; 8.560 Huynh trưởng và 65.650 Đoàn sinh.
- Về các Đạo tràng, hiện có 907 đạo tràng Tu Bát Quan trai, 81 đạo tràng Tu thiền, 487 đạo tràng Pháp hoa, 91 đạo tràng Đại Bi, Dược Sư, Niệm Phật, 10 đơn vị tổ chức khóa tu một ngày an lạc, và hàng trăm lớp giáo lý.
- Tổ chức thành công 02 cuộc Hội thảo Hướng dẫn Phật tử toàn quốc; 11 lần hội nghị Huynh trưởng toàn quốc; hằng năm đều tổ chức Hội nghị thường niên để tổng kết công tác hoạt động của Phân Ban Cư sĩ và Phân ban Gia đình Phật tử.
- Tổ chức các khóa Huấn luyện Kiên, Trì, Định, Lực; các trại huấn luyện Anoma, Ni Liên, Tuyết Sơn, Lộc Uyển, A Dục, trại Vạn Hạnh…; và hàng trăm Hội trại, Trại hè, với sự tham dự của các Huynh trưởng và đoàn sinh.
- Tổ chức cho 969 Huynh trưởng Thọ cấp Tấn, cấp Tập và cấp Tín.
- Tổ chức 04 Đại lễ Quy y cho đồng bào dân tộc tại tỉnh Kon Tum (4000 người), Đak lak (700 người), Cần Thơ (700 người), Bình Phước (5.311 người) và nhiều Lễ Quy y cho đồng bào Phật tử tại các cơ sở Tự Viện của Giáo hội, đã cấp gần 10.000 thẻ tín đồ Phật tử.
- Tổ chức Lễ Kỷ niệm 60 năm thành lập Gia đình Phật tử Việt Nam (1951 - 2011) quy mô và trọng thể; Lễ tưởng niệm Chư Tôn đức tiền bối hữu công, Cư sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám và các Huynh trưởng có công với Đạo pháp đã tạ thế.
- Tiểu ban Thanh Thiếu nhi Phật tử Trung ương phối hợp với Báo Giác Ngộ tổ chức 06 Hội trại tuổi trẻ Phật giáo. Có hàng chục ngàn lượt trại sinh từ 14 đến 30 tuổi tham dự.
Các sinh hoạt tín ngưỡng của các giới Nam Nữ Phật tử Trung, Lão niên như nghe pháp, tụng Kinh, Thọ Bát Quan trai, học hỏi Giáo Lý hàng tuần, hàng tháng, Tu thiền, Tu tịnh, Hội quy v.v….cũng được tổ chức ổn định và nhân rộng tại các cơ sở Tự Viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường trong toàn quốc.
Ngoài ra, tại các khóa Hội thảo, Hội nghị, hay tổ chức Đại lễ Quy y cho đồng bào Phật tử, nhất là Phật tử các vùng dân tộc, tây nguyên, Ban Hướng dẫn Phật tử đều kết hợp với Ban Hoằng pháp để thuyết giảng Phật pháp và Ban Từ thiện Xã hội để thực hiện các công tác từ thiện, thực hiện trọn vẹn tinh thần và bổn phận của người Phật tử tại gia đối với Đạo pháp và Xã hội.
5. Hoạt động Nghi lễ:
Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển suốt chiều dài 2.000 lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nghi lễ Phật giáo luôn là một trong những nhân tố tạo thành tính đặc trưng của văn hóa Phật giáo Việt Nam nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung. Nghi lễ luôn được xem là một trong những chính nhân để Phật pháp được xương minh, lợi lạc chúng hữu tình. Vì vậy, trong suốt chặng đường 30 năm, kể từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, Ban Nghi lễ Trung ương đã hết sức cố gắng hoàn thành trách nhiệm về nghi lễ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam như sau:
- Đại Lễ Phật Đản:
Hằng năm, Trung ương Giáo hội đều có thông bạch hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật đản một cách trang nghiêm trọng thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ sở Tự viện, với nhiều chương trình hoạt động phong phú như diễu hành xe hoa, thuyền hoa, rước kiệu hoa, phóng sanh đăng, thắp nến cầu nguyện hòa bình, chương trình văn nghệ, thuyết giảng ý nghĩa Phật đản sanh, lễ hội ẩm thực chay v.v… tất cả được tổ chức rất chu đáo, trật tự và đạt kết quả tốt đẹp.
Đại lễ Phật đản được Trung ương Giáo hội phối hợp với Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp. Hà Nội, tổ chức trọng thể tại Cung Văn hóa Thủ đô Hà Nội. Cùng với Thủ đô Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và các Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong cả nước đồng loạt cử hành Đại lễ Phật đản vào lúc 06 giờ ngày Rằm tháng tư âm lịch như Trung ương Giáo hội đã hướng dẫn. Đại lễ Phật đản tại Thủ đô Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, ngoài sự tham dự của chư Tôn đức Giáo phẩm lãnh đạo cấp cao của Giáo hội còn có sự tham dự của các vị Tổng lãnh sự, Lãnh sự quán các nước có trụ sở tại thành phố; các cơ quan nhà nước, Bộ, ngành, sở Trung ương và địa phươngtham dự. Tại các đơn vị Tỉnh, Thành khác tại Lễ đài tập trung đều có sự tham dự của Lãnh đạo chính quyền cấp tỉnh thành phố và các Sở, Ban Ngành đoàn thể đã cùng hàng ngàn Tăng Ni, đồng bào Phật tử tham dự.
- Đại lễ Vu Lan – Báo Hiếu:
Trên tình thần tri ân, báo ân của người con Phật gắn cùng với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, các Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong cả nước đã hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tổ chức Đại lễ Vu Lan báo hiếu báo ân được trang nghiêm, long trọng, đầy đủ ý nghĩa và ổn định trong tinh thần đền ơn đáp nghĩa đối với những người đã khuất và những người còn sống bằng các hoạt động cụ thể, thiết thực như thăm và tặng quà cho các chiến sĩ biên phòng, hải đảo, giúp đỡ gia đình có công với Cách mạng, gia đình Liệt sĩ, các bà Mẹ Việt Nam anh hùng, người nghèo khó, tàn tật, trại trẻ mồ côi, nhà dưỡng lão, trại tâm thần, trại phong v.v…
Nhân kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, ngoài việc đặt vòng hoa tưởng niệm tại nghĩa trang liệt sĩ, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thông bạch số 160 ngày 02/5/2011 hướng dẫn các cơ sở Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường trong toàn quốc của Giáo hội đồng loạt gióng lên 09 hồi chuông u minh vào lúc 06giờ ngày 27/7/2011 và hằng năm. Việc cử 09 hồi đại hồng chung vào ngày Thương binh Liệt sĩ là nghĩa cử cao đẹp về truyền thống tri ân, báo ân của dân tộc và của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tiếng đại hồng chung được gióng lên vào một thời khắc nhất định trong ngày Thương binh Liệt sĩ đã nói lên ý nghĩa tình người của dân tộc và Phật giáo Việt Nam.
- Lễ Tưởng niệm, Lễ tang:
Với lòng thành kính vô biên và tinh thần tri ân, báo ân của người con Phật, tại Văn phòng Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội và các cơ sở Tự viện liên hệ đã tổ chức những buổi lễ tưởng niệm rất trang nghiêm trọng thể như Lễ Kỷ niệm Bồ tát Quảng Đức và chư vị Thánh tử đạo, Đại lễ Kỷ niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt, Lễ Kỷ niệm 1000 năm Quốc sư Khuông Việt viên tịch, Lễ kỷ niệm Chư Sơn Thiền đức Hội đồng Trưởng lão của các tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ, Chư Tôn đức Giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã viên tịch; đồng thời tổ chức Tang lễ chư Tôn đức giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, chư Tôn đức giáo phẩm lãnh đạo các cấp Giáo hội trang nghiêm và trọng thể.
Qua tổng kết, trong 30 năm qua, Giáo hội đã tổ chức Lễ tang, Lễ tưởng niệm cho 238 Chư Tôn đức thành viên Hội đồng Chứng minh, 158 vị trong Hội đồng Trị sự viên tịch.
- Lễ hội Phật giáo :
Trong cuộc sống, ngoài nhu cầu vật chất, nhu cầu về đời sống tâm linh cũng không thể thiếu. Vì thế, Nghi lễ tôn giáo luôn được xem là một trong những giá trị văn hóa đạo đức quan trọng để xương minh Phật pháp, bảo tồn và phát huy văn hóa Phật giáo trong lòng dân tộc. Để đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Phật tử, ngoài các nghi lễ cầu an đầu xuân – tết Nguyên đán, lễ cúng Rằm tháng Giêng, Đại lễ Phật đản, Vu Lan Báo Hiếu ngày Rằm tháng Bảy – ngày xá tội vong nhân, ngày đền ơn đáp nghĩa, Lễ Phật xuất gia, Thành đạo, nhập Niết bàn, Lễ vía Bồ tát Quán Thế Âm, Lễ vía Đức Phật A Di Đà và các lễ hội truyền thống khác cũng được tổ chức theo từng địa phương tại các Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường đều mang đậm nét tinh thần Phật giáo hòa quyện với dân tộc. Để đạt được những điều này, Ban Nghi lễ Trung ương và Tỉnh, Thành hội Phật giáo đã trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ, hướng dẫn các Tự viện tổ chức các ngày lễ lớn của Phật giáo.
- Thực hiện Nghi lễ Quy Y Tam bảo cho 4000 tín đồ Phật giáo là người dân tộc tại tỉnh Kon Tum, Đak lak 700 người, Cần Thơ 700 người và 5311 đồng bào dân tộc tại tỉnh Bình Phước; Quy y cho hàng vạn tín đồ Phật tử tại các cơ sở Tự viện của Giáo hội.
- Với cuộc hành trình vòng quanh thế giới, mục đích nguyện cầu cho thế giới hoà bình, chúng sinh an lạc, tượng Phật ngọc lớn nhất thế giới cao 3,2m, nặng 4,6 tấn đã được cung nghinh đến Tp. Đà Nẵng, Bà Rịa Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và đưa về tỉnh Bắc Ninh để đồng bào và Phật tử chiêm bái. Trong suốt thời gian tượng Phật ngọc trụ tại Việt Nam, Ban Nghi lễ Trung ương và Ban Nghi lễ các Tỉnh, Thành hội Phật giáo đã kết hợp chặt chẽ với Ban Trị sự để tổ chức Đại lễ cung nghinh Phật ngọc thật trang nghiêm và trọng thể.
Đại Lễ cung nghinh 06 viên Xá lợi Phật và Xá lợi của các bậc Thánh Tăng từ chùa Giác Quang, quận 8, Tp. Hồ Chí Minh về tôn thờ vĩnh viễn tại Trụ sở Trung ương GHPGVN – chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội và tại chùa Bái Đính - Ninh Bình, đã được Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp. Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Ninh Bình và Chư Tăng Phật giáo Nam tông Kinh phối hợp tổ chức dưới sự tài trợ của Doanh nghiệp Xây dựng Xuân Trường – Hà Nội, sự ủng hộ của Tăng Ni, Phật tử. Ban Nghi Lễ Trung ương và Ban Nghi Lễ Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hà Nội, Ninh Bình đã tham gia Đại lễ cung nghinh Xá lợi Phật và Xá lợi Thánh tăng diễn ra vô cùng trang nghiêm và trọng thể với sự chứng minh, tham dự của Chư Tôn Giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo; Quý vị lãnh đạo cấp cao Nhà nước tại Tp. Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, tỉnh Ninh Bình cùng sự tham dự của hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử. Đây là sự kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc trong việc chiêm bái, tu tập của người Phật tử, nhằm tôn vinh giá trị văn hóa và sự trong sáng của giáo lý Đạo Phật trong cuộc sống nhân gian, xiển dương Phật pháp sâu rộng trong đời sống tu học của Tăng Ni, Phật tử.
Đại lễ tưởng niệm 700 năm ngày Đức Vua Trần Nhân Tông – Phật Hoàng Điều Ngự Giác Hoàng nhập Niết bàn, được sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Ủy ban Nhân dân Tỉnh Quảng Ninh và Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh Quảng Ninh long trọng tổ chức Đại lễ Tưởng niệm và Hội thảo khoa học tại Yên Tử Sơn phúc địa hùng vĩ. Ban Nghi lễ đã tham gia công tác nghi lễ tại buổi Đại lễ tưởng niệm nói trên thành tựu viên mãn;
Đại lễ kỷ niệm 701 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt, Trung ương Giáo hội và Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong toàn quốc đồng loạt cử hành Lễ tưởng niệm tại Trụ sở Văn phòng Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo với sự tham dự của đông đảo Tăng Ni và Phật tử. Ban Nghi lễ Trung ương và các Tỉnh, Thành đã thực hiện phần nghi thức cử hành Lễ tưởng niệm theo đúng nghi thức truyền thống của dân tộc và của Phật giáo. Đặc biệt, tại Chùa Trình, khu di tích Yên Tử, Quảng Ninh đã tổ chức lễ khởi công xây dựng Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên núi An Kỳ Sinh khu di tích danh thắng Yên Tử.
Ngoài ra, Ban Nghi lễ Trung ương đã kết hợp nhuần nhuyễn với Ban Nghi lễ địa phương trong việc thực hiện nghi thức khai mạc, bế mạc Đại giới đàn do các Tỉnh, Thành hội Phật giáo tổ chức trang nghiêm trọng thể, đúng luật và đúng pháp. Ước tính, Ban Nghi lễ đã tham gia thực hiện phần Nghi lễ Phật giáo cho trên 250 Đại Giới đàn; 02 Đại lễ Quy Y cho đồng bào dân tộc tại các tỉnh Tây nguyên, tổ chức tại Kon Tum và đồng bào dân tộc tại tỉnh Bình Phước; cùng nhiều Lễ Quy y, lễ cầu thọ, lễ cầu an, cầu siêu cho tín đồ Phật tử.
Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong cả nước đã tổ chức nhiều Đại lễ Tưởng niệm cầu siêu anh linh anh hùng liệt sĩ và đồng bào tử nạn trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc như: 03 lần tổ chức Đại lễ cầu siêu và an táng hài cốt của các anh hùng liệt sĩ hy sinh trên huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Đại Lễ cầu siêu và khánh thành 02 ngôi chùa trên đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hòa, Đại lễ cầu siêu tại đường 9 – Hồ Chí Minh, tỉnh Quảng Bình; Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn tỉnh Quảng Trị; nghĩa trang liệt sĩ các tỉnh Lạng Sơn, Điện Biên Phủ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nội, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Kon Tum, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Côn Đảo – Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bình Dương, Đak Lak, Lâm Đồng, Đak Nông v.v…, Đại lễ tưởng niệm các bậc tiền nhân có công trong việc mở mang bờ cõi Việt Nam đã thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam và tinh thần tri ân, báo ân của Đạo Phật, là một truyền thống văn hóa nhân văn tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
- Hội thảo Nghi lễ Phật giáo toàn quốc:
Được sự cho phép của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, Ban Tôn giáo Chính phủ và UBND Tỉnh Khánh Hòa cũng như được sự hỗ trợ tích cực của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa, Ban Nghi lễ Trung ương tiến hành tổ chức 02 Hội thảo Nghi lễ Phật giáo toàn quốc tại Nha Trang vào ngày 12 – 13.5.2004 và ngày 16 – 17/11/2010, với sự chứng minh của chư Tôn giáo phẩm Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, sự tham dự của lãnh đạo Chính quyền tỉnh Khánh Hòa, Tp. Nha Trang và chư Tôn dức, cư sĩ đại diện Ban Nghi lễ Tỉnh, Thành hội Phật giáo cả nước, cùng đông đảo Phật tử tham dự Lễ Khai mạc Hội thảo Nghi lễ Phật giáo toàn quốc. Ngoài chương trình Hội thảo chính về chủ đề “Nghi lễ trong đời sống văn hóa tâm linh”, tại cuộc Hội thảo còn tổ chức triển lãm, văn nghệ, tặng quà từ thiện cho đồng bào nghèo. Hội nghị Nghi lễ Phật giáo toàn quốc đã thành công tốt đẹp.
6. Văn hóa:
Với chức năng và nhiệm vụ được giao, bằng tinh thần và trách nhiệm, Ban Văn hóa Trung ương đã thực hiện một số công tác văn hóa trọng tâm như.
- Thăm viếng, hội thảo:
+ Tổ chức đoàn thăm viếng, làm việc với Ban Trị sự, Ban Văn hóa các Tỉnh, Thành hội Phật giáo miền Tây, miền Đông, các tỉnh Tây Nguyên, miền Trung đạt kết quả tốt.
+ Tổ chức thành công hội thảo Văn hóa Phật giáo toàn quốc và triển lãm Văn hóa Phật giáo tại Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Báo chí:
+ Tạp chí Văn hóa Phật giáo, tên gọi đầu tiên từ nhiệm kỳ I (1981) đến năm 2002 là Tập văn Ban Văn hóa Trung ương xuất bản được 58 số; sau đó đổi thành Tạp chí Văn hóa Phật giáo, đến nay xuất bản được 140 số, mỗi số 10.000 cuốn.
+ Tạp chí Nghiên cứu Phật học của Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản mỗi quý 02 số.
+ Tạp chí Nghiên cứu Phật học Khuông Việt, xuất bản đến số 22.
+ Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy, xuất bản được 13 số.
+ Ấn phẩm Văn hóa Phật giáo, 3 tháng 1 số, đến nay đã xuất bản đến số 11.
+ Báo Giác Ngộ, là cơ quan ngôn luận của Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh nhưng được xem là tờ báo chủ quản đăng tải tất cả tin tức, các hoạt động Phật sự của Giáo hội và các Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong cả nước. Tuần báo Giác ngộ xuất bản đến số 610, mỗi số 12 ngàn quyển; Nguyệt san Giác Ngộ xuất bản đến số 187, mỗi số 7 ngàn quyển.
+ Các trang báo điện tử (website) của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giác ngộ, Bình Dương, Kiên Giang, Bạc Liêu, Phú Yên, Trung tâm Liễu Quán, Phân ban đặc trách Ni giới thuộc Ban Tăng sự Trung ương, Gia đình Phật tử Việt Nam Net, Ban Hoằng pháp Trung ương, Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương, học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh v.v… đều hoạt động ổn định, ngày càng phát triển, nội dung phong phú.
Tờ Nội san Phật học của các Tỉnh, Thành như Nội san Hoa từ (Ninh Thuận), Hương sen (Bình Dương), Hương Từ Bi (Đak Nông), Nội san Vô Ưu (Đak Lak), Nội san Quảng Đức (Khánh Hòa), Đuốc sen (Tịnh xá Trung Tâm, quận Bình Thạnh), Nội san chùa Hòa Khánh (Q. Bình Thạnh), chùa Phổ Quang (Q. Phú Nhuận), Nội san Trung tâm Liễu Quán (Thừa Thiên Huế), Tập san Đạo Phật ngày nay, Du lịch Tâm linh v.v… thông thường mỗi năm 3 số vào dịp Lễ Phật đản, Vu lan và Phật Thành đạo cũng đã đăng tải những nội dung giáo lý Phật giáo và tình hình sinh hoạt Phật sự tại địa phương.
- Biên tập Lược sử Phật giáo và Tự viện cơ sở:
Để làm tư liệu lịch sử cho Tăng Ni, Phật tử, các nhà nghiên cứu, các học giả có cơ sở nghiên cứu về lịch sử Phật giáo và các cơ sở Tự Viện tại địa phương, thông qua Ban Văn hóa tại các tỉnh, thành đã tiến hành biên soạn hoàn tất quyển “Lược sử Phật giáo và các ngôi chùa trong tỉnh” như: Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Kiên Giang, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Cà Mau, Bạc Liêu, Lâm Đồng; một số tỉnh đang tiến hành biên soạn lược sử Phật giáo địa phương như Đak Lak, Quảng Nam, Trà Vinh v.v…
- In ấn và xuất bản, phát hành kinh sách, văn hóa phẩm Phật giáo:
Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội đã xuất bản các tác phẩm, tuyển tập nghiên cứu của HT. Thích Minh Châu, HT. Thích Trung Hậu, Tiến sĩ Trần Quang Thuận và nhiều tác giả khác, với khoảng gần 200 đầu Kinh sách.
Tổ in ấn Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh đã xuất bản 627 đầu kinh sách, thành phẩm là 3.601.000 quyển các loại, gồm Kinh, Luật, Luận, Sử Phật giáo Việt Nam và thế giới, truyện, các tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật, biên soạn của các dịch giả, học giả, Tăng Ni và Phật tử.
Tại các Tỉnh, Thành hội Phật giáo như Thừa Thiên Huế, Bình Dương, Đồng Nai, Đak Lak v.v… đã xuất bản trên 100 đầu sách các loại của nhiều tác giả.
- Triển lãm, văn nghệ và các phong trào văn hóa:
Nhân các sự kiện Đại lễ Phật đản, kỷ niệm 25 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2006), Hội thảo Văn hóa toàn quốc, tại các Kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc, Đại hội Đại biểu Phật giáo các Tỉnh, Thành, Ban Văn hóa Trung ương, Ban Văn hóa các Tỉnh, Thành đã phối hợp tổ chức triển lãm những hình ảnh hoạt động Phật sự chuyên ngành với nội dung phong phú, đa dạng thể hiện quá trình hình thành và phát triển Phật giáo của từng địa phương, các cổ vật, pháp khí như: Tp. Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Tây, Tiền Giang, Thanh Hóa, Gia Lai, Kiên Giang, Ninh Thuận, Đaklak v.v…
Đặc biệt, theo thư mời của tổ chức Phật giáo Sri Dalada Maligawakandy, được sự cho phép của Ban Tôn giáo Chính phủ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã cử đoàn Ban Văn hóa Trung ương khảo sát thực tế Bảo tàng Phật giáo Quốc tế tại đền thờ Xá Lợi Răng Phật ở Kandy, Srilanka từ ngày 06/3 đến 10/3/2011 và tiến hành trưng bày triển lãm Văn hóa Phật giáo Việt Nam tại đây. Việc trưng bày triển lãm tại Bảo tàng Phật giáo Quốc tế Srilanka nhằm giới thiệu Văn hóa Phật giáo đặc thù Việt Nam đã gắn bó với dân tộc suốt 20 thế kỷ, nhất là giới thiệu các hoạt động Phật sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với Phật giáo thế giới là điều rất cần thiết trong giai đoạn đất nước phát triển để hội nhập với cộng đồng Quốc tế hiện nay.
Văn nghệ được xem là một bộ phận hoạt động hữu hiệu và khởi sắc, nhất là các đoàn văn nghệ Phật giáo, Câu lạc bộ Ca nhạc, Cải lương Phật giáo, Gia đình Phật tử, với các nghệ sĩ Phật tử, chuyên và không chuyên đã tích cực thực hiện chương trình văn nghệ phục vụ quần chúng Tăng Ni, Phật tử vào những ngày lễ lớn trong năm của Phật giáo như Phật đản, Vu lan Báo hiếu, Thành đạo hay tại các lễ hội Phật giáo, các kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc, Đại hội Phật giáo các Tỉnh, Thành, các cuộc hội thảo .v.v… đã tạo thành phong trào văn nghệ quần chúng một cách rộng rãi mang tính nhân bản và đạo đức Phật giáo. Nhiều băng từ Vidéo, cassette, CD, VCD được thực hiện để làm phong phú văn hóa, văn nghệ Phật giáo.
Để chào mừng các sự kiện Phật giáo lớn như Đại lễ kỷ niệm 20, 25 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại lễ tưởng niệm 700 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt, Phật giáo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Đại lễ Phật đản Veska tại Việt Nam, Đại hội Phật giáo toàn quốc, Ban Văn hóa Trung ương, Báo Giác Ngộ đã tổ chức Hội thi nhiếp ảnh, hội thi sáng tác thơ, văn, truyện, ký v.v… được đông đảo Tăng Ni, Phật tử, sinh viên, học sinh, học giả, nhà nghiên cứu tham gia.
Ngoài ra, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo các tỉnh thành ở Tây Nam Bộ cũng tổ chức những lễ hội văn hóa Nam tông Khmer như: Lễ hội Chôl Chnăm Thmây tổ chức vào ngày 14, 15, 16/4 dương lịch: ngày 14: đón tết cổ truyền, ngày 15: tổ chức Lễ kỳ siêu cho ông bà; ngày 16 tổ chức Lễ Tắm Phật; Rằm tháng Giêng chùa Phật giáo Nam tông khmer và đồng bào Khmer tổ chức trọng thể kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói kinh Di Giáo, đây là một ngày lễ quan trọng đối với Phật giáo Nam truyền; tổ chức Lễ xuất gia truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer là tu trả hiếu.
- Xác lập kỷ lục:
Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã công nhận nhiều kỷ lục cho Phật giáo Việt Nam như:
+ Kỷ lục người dịch kinh nhiều nhất cho HT. Thích Trí Tịnh và HT. Thích Minh Châu.
+ Kỷ lục cung nghinh Xá Lợi Phật và Thánh Tăng tại Tp. Hà Nội và Tỉnh Bái Đính, có số lượng Tăng Ni, Phật tử đông nhất và trang trọng nhất.
+ Kỷ lục Hội nghị Nữ giới Phật giáo lớn nhất Việt Nam.
+- Kỷ lục Lễ cầu siêu trên đảo lớn nhất Việt Nam (huyện Côn Đảo, tỉnh BRVT).
+ Kỷ lục Lễ Quy y cho đồng bào Dân tộc lớn nhất Việt Nam, tổ chức tại tỉnh Kon Tum, Bình Phước.
+ Kỷ lục Lễ Khai mạc, Bế mạc Hội thảo Hoằng pháp có số lượng Tăng Ni, Phật tử tham dự nhiều nhất.
+ Nhiều kỷ lục liên quan đến công tác tôn tạo Kim thân Đức Phật, và các công trình văn hóa Phật giáo khác.
- Công tác trùng tu:
Được sự giúp đỡ của các cơ quan lãnh đạo Tỉnh, Thành Trung ương và địa phương có liên quan, công tác trùng tu, kiến tạo hàng nghìn cơ sở Tự viện Tổ đình, danh lam thắng cảnh của Phật giáo cả nước được tiến hành có kết quả, góp phần trang nghiêm cơ sở tại địa phương, tạo thêm vẻ mỹ quang cho xã hội. Có 257 Tự viện được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia, hàng trăm Tự viện được công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Tỉnh, Thành.
Nhiều con đường được mang tôn danh các vị Quốc sư, Thiền sư, các bậc danh tăng có nhiều cống hiến cho Đạo pháp và Dân tộc như: Thiền sư Vạn Hạnh, Quốc sư Khuông Việt, Sư Liễu Quán, Sư Thiện Chiếu, Thích Quảng Đức, Sư Minh Nguyệt, Ni sư Huỳnh Liên, Cư sĩ Lê Đình Thám, Nhất Chi Mai .v.v… Trung ương Giáo hội đang tiến hành thủ tục đề nghị Nhà nước đặt tên đường cho Chư Tôn đức Giáo phẩm cấp cao của Giáo hội như HT. Thích Đức Nhuận, HT. Thích Trí Thủ, HT. Thích Thế Long, HT. Thích Thiện Hào.
7. Hoạt động Kinh tế Tài chính:
Để công tác chuyên ngành kinh tế của Trung ương ngày càng phát triển, Ban Kinh tế tài chính Trung ương đã tổ chức đoàn thăm viếng, trao đổi với Ban Kinh tế Tài chính các Tỉnh, Thành hội Phật giáo để mở rộng hệ thống phòng phát hành kinh sách, cung cấp nguồn hàng văn hóa phẩm Phật giáo, phân phối lịch đến các cơ sở Tự viện.
Để các hoạt động chuyên ngành Kinh tế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được phát triển, theo đề nghị của Ban Kinh tế Tài chính Trung ương, Trung ương Giáo hội đã ký Quyết định chuẩn y nhân sự Ban Tư vấn Kinh tế tài chính gồm 04 thành viên là các doanh nghiệp đang hoạt động tại Tp. Hồ Chí Minh.
Ban Kinh tế Tài chính Trung ương đã liên kết với các doanh nghiệp, doanh nhân là Phật tử tín đồ Phật giáo thành lập Hệ thống Công ty Trách nhiệm Hữu hạn thuộc Ban Kinh tế Tài chính Trung ương. Trong nhiệm kỳ V (2002 - 2007) chỉ có duy nhất Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thiện Tài được thành lập và hoạt động, đến nhiệm kỳ VI (2007 - 2012), Công ty Cổ phần Lộc Tài, Công ty nước giải khát Hàng không Sasco của Tổng Công ty Hàng không miền Nam, Công ty Cổ phần đầu tư Ngọc Việt và chuỗi nhà hàng Chay, Trung tâm phim ảnh tư liệu Sen Việt, Công ty du lịch Hoa Thiền, Công ty Bách Lộc Thọ trực thuộc Ban Kinh tế Tài chính Trung ương được thành lập và đi vào hoạt động ổn định, phát triển.
- Hệ thống các phòng phát hành Kinh sách, văn hóa phẩm Phật giáo tại các Tỉnh, Thành hội Phật giáo, các cư sở Tự Viện của Giáo hội ngày càng phát triển, với nhiều thể loại kinh sách, văn hóa phẩm Phật giáo phong phú, mẫu mã đa dạng.
- Một số cơ sở Tự, Viện, Tịnh xá sản xuất truyền thống như tương, chao, nhang, đèn, các loại mứt tết, bánh trung thu, chuyên may y phục cho tu sĩ và Phật tử, xưởng mỹ nghệ Phật giáo v.v… làm cho nền kinh tế Phật giáo thêm phong phú.
- Hằng năm, Ban Kinh tế Tài chánh Trung ương đều có thông bạch vận động các Tỉnh, Thành hội Phật giáo, Tăng Ni, Phật tử cúng dường công đức phí cho các hoạt động của Trung ương Giáo hội và các Tỉnh, Thành hội Phật giáo.
Ngoài ra, Bộ phận Kinh tế tài chính phía Bắc phối hợp với Trung ương GHPGVN, Ban Phật giáo Quốc tế, Ban Hoằng pháp tổ chức chuyến đi “Hành trình về đất Phật” tại Myanmar và Ấn Độ từ ngày 06 – 09/4/2010; Hỗ trợ công tác hậu cần cho chư Tôn đức Trung ương Giáo hội, Ban Thường trực Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo phía Nam tham dự Đại lễ Phật giáo 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; tổ chức tiếp đón Hòa thượng Tinh Vân - Hội trưởng Hội Phật Quang Sơn Quốc tế Đài Bắc – Đài Loan thăm GHPGVN và nhiều chương trình, hoạt động khác.
8. Hoạt động Ban Từ thiện Xã hội
Từ thiện xã hội là một trong những công tác nổi bật nhất của Trung ương Giáo hội, các Tỉnh, Thành hội Phật giáo, Ban Đại diện Phật giáo các Quận, Huyện, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh và các cơ sở Tự, Viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường trong toàn Giáo hội.
- Về hoạt động khám và chữa bệnh, hiện có 65 Tuệ Tĩnh đường, 655 phòng chẩn trị Y học Dân tộc, 01 phòng khám Đa khoa đang hoạt động có hiệu quả, khám và phát thuốc miễn phí cho hàng chục ngàn lượt bệnh nhân, chi phí mỗi năm trên 5 tỷ đồng.
- Các Trường Mần non, trường nuôi dạy trẻ em, trường nuôi dạy trẻ em bất hạnh, khuyết tật, trẻ em bị ảnh hưởng chất độc màu da cam cũng được nhân rộng và phát triển đúng hướng, góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho gia đình các em và cho xã hội.
- Các phòng tư vấn HIV/AIDS trong cả nước, như tại Hà Nội, Huế, Tp. Hồ Chí Minh và một số tỉnh, đều hoạt động có hiệu quả, tham gia nhiều chương trình đặc biệt trong nước và nước ngoài do MTTQVN phát động.
- Công tác cứu trợ quốc tế như cứu trợ nhân dân các nước Đông Nam Á bị sóng thần năm 2005, cứu trợ đồng bào vùng Đông Bắc Nhật Bản bị thiệt hại tài sản và nhân mạng do động đất và sóng thần gây ra. Bên cạnh đó, Trung ương Giáo hội đã gửi thư chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và lãnh đạo Phật giáo Nhật Bản, Myanmar, Camphuchia về những thảm họa do thiên tai và sự cố tai nạn tại Lễ hội Té nước của đồng bào Campuchia tại đảo Kim Cương.
Ngoài những công tác từ thiện nêu trên, những công tác phúc lợi xã hội khác như: Xây cầu bê tông, đắp đường giao thông nông thôn, đóng giếng nước sạch, hiến máu nhân đạo, đóng góp các quỹ từ thiện vì người nghèo, học sinh hiếu học, giúp phụ nữ nghèo vượt khó, tặng xe đạp cho học sinh, xe lăn, xe lắc cho bệnh nhân nghèo, tặng xuồng ghe, hỗ trợ áo quan, hỗ trợ mổ mắt miễn phí cho bệnh nhân nghèo bị đục thủy tinh thể, bệnh tim nhi, phát quà tết, quà trung thu cho các cháu thiếu nhi, nồi cháo tình thương, bữa ăn từ thiện cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện, phòng khám đa khoa v.v… đều được các thành viên Ban Từ thiện xã hội Trung ương, các Tỉnh, Thành hội Phật giáo, Tăng Ni, Phật tử tích cực tham gia. Ngoài ra, tại tỉnh Đồng Tháp còn tổ chức lò hỏa táng miễn phí cho đồng bào Phật tử.
Theo báo cáo của các đơn vị, công tác từ thiện xã hội ngày càng được nhiều Tăng Ni, Phật tử, các doanh nghiệp, doanh nhân ủng hộ. Qua đó công tác từ thiện xã hội trong 30 năm qua đạt số liệu rất cao, ước tính khoảng 2.020 tỷ đồng.

9. Công tác Phật giáo Quốc tế:
Thế giới ngày càng biết nhiều đến Việt Nam, một Quốc gia độc lập, chủ quyền dân tộc và nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển như ngày nay, Phật giáo Việt Nam – Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Phật giáo duy nhất đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước cũng không ngừng phát triển về mọi mặt.
Qua đó Giáo hội đã liên kết thân hữu với các nước Phật giáo Lào, Cam puchia, Myanmar, Thái Lan, Triều Tiên, Mông Cổ, Tích Lan, Ấn Độ, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc, Đài Loan và một số nước Châu Âu, Tây Âu v.v… Chư Tôn đức lãnh đạo và Ban Phật giáo Quốc tế cũng đã đón tiếp và làm việc với hàng trăm phái đoàn Phật giáo đến thăm hữu nghị Việt Nam và Giáo hội tại trụ sở Trung ương Giáo hội ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Mặt khác, Giáo hội đã tổ chức đi thăm hữu nghị một số nước Phật giáo trong vùng Đông Nam Á và Tây Âu, Châu Âu cũng như thực hiện các cuộc hội thảo chuyên đề về văn hóa, đạo đức, giáo dục Phật giáo v.v… đạt được kết quả tốt đẹp, như sau:
- Tham dự 66 cuộc hội nghị Quốc tế tại Mông Cổ, Cộng Hòa Liên Bang Nga, Zech, Ấn Độ, Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Italia, Canada, Tích Lan, Hà Lan, Tân Gia Ba, Đài Loan, Nam Hàn v.v… với các chủ đề về Văn hóa, đạo đức, giáo dục Phật giáo, môi trường, hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, vũ khí hạt nhân v.v…
- Tham dự 06 lần Đại Lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan, 02 Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc tại New York.
- Tiếp đón hàng trăm phái đoàn Phật giáo Quốc tế, các tổ chức Phật giáo Quốc tế, phái đoàn Đại Sứ Quán các nước, tiếp đón quý phái đoàn Vua sãi Tép Vong, Bộ trưởng Bộ Nghi lễ Tôn giáo Chính phủ Hoàng gia Campuchia, phái đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước, phái đoàn tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới (Nhật bản), phái đoàn Hội quán Đạo đức Phật giáo Nhật Bản, phái đoàn Pakistan, phái đoàn Phật giáo Ấn Độ (Kim Cang Thừa), phái đoàn Phật giáo Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, phái đoàn Viện Nghiên cứu Tôn giáo Toàn cầu Hoa Kỳ, phái đoàn Nữ giới Hội Sakyadhita v.v… thăm viếng và trao đổi thông tin với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Văn phòng Trung ương Giáo hội Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và tại trụ sở Văn phòng Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Bình, Bà Rịa Vũng Tàu, Kon Tum, Khánh Hòa v.v…
- Tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc năm 2008 tại Việt Nam, do Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đăng cai, GHPGVN phối hợp với Ủy ban Tổ chức Quốc tế (IOC) tổ chức từ ngày 14 – 16/5/2008 thành công tốt đẹp.
- Tổ chức Hội nghị nữ giới Phật giáo Thế giới lần thứ XI tại Nhà Truyền thống Văn hóa Phật giáo – chùa Phổ Quang, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam từ ngày 28 tháng 12 năm 2009 đến ngày 03 tháng 01 năm 2010 thành công tốt đẹp.
- Tổ chức Đoàn Đại biểu cấp cao Giáo hội Phật giáo Việt Nam thăm hữu nghị Phật giáo Campuchia, Phật giáo Lào, Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Myanmar.
- Tổ chức nhiều Đoàn Hoằng pháp GHPGVN thăm viếng, thuyết giảng Phật pháp và tổ chức Lễ Cầu an đầu năm, Lễ thượng ngươn, Lễ Phật đản, Vu lan tại các trung tâm Văn hóa Phật giáo tại Châu âu cho Hội Phật tử Việt Nam yêu Đạo Phật tại Cộng hòa Séc, Ucraina, Liên bang Nga, Hungary, Ba Lan, Đức.
Hiện nay, Ban Phật giáo Quốc tế đang chuẩn bị nội dung tham dự Hội nghị Thành lập Tổ chức Liên minh Phật giáo Thế giới tại Ấn Độ vào tháng 11/2011 sắp đến, cũng như kỷ niệm 2.600 năm Phật Thành Đạo tại Ấn Độ (Bồ Đề Đạo Tràng và Srilanka).
Để giới thiệu về hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam với các đoàn Phật giáo cũng như các tổ chức Quốc tế đến thăm và làm việc Giáo hội, Ban Phật giáo Quốc tế đã biên soạn hoàn tất quyển “Tóm tắt cơ cấu hành chánh và các hoạt động của GHPGVN” bằng tiếng Anh.
Nhìn chung công tác Phật giáo giao lưu quốc tế trong thời gian qua tương đối đều đặn, tăng cường số lượng và chất lượng, đạt những thành quả rất khả quan. Với nhận thức đúng đắn, tư duy, hành động thiết thực trong tinh thần đoàn kêt, hợp tác hữu nghị với các nước Phật giáo bạn, công tác Phật giáo quốc tế đã từng bước vuợt qua các khó khăn trở ngại, hoàn thành nhiệm vụ được Giáo hội giao phó.
Đây chính là những thành tựu tốt đẹp của Ban Phật giáo quốc tế đáng được ghi nhận, góp phần tạo uy tín và sự hiểu biết nhiều hơn nữa cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong nước và thế giới. Điểm đáng chú ý, sự hợp tác quốc tế về việc hoằng dương chánh pháp, nghiên cứu thẩm thấu giáo lý Đức Phật khế hợp với thời đại phát triển khoa học kỹ thuật ngày nay của Ban Phật giáo quốc tế, phù hợp với thời đại mở cửa giao lưu văn hóa của Đảng và Nhà nước ta.
10. Nghiên cứu Phật học Việt Nam:
Kể từ khi thành lập đến nay, Viện và Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam đã tổ chức thực hiện các công tác như:
- Công tác in ấn, dịch thuật: Công tác in ấn Đại Tạng Kinh Việt Nam đã hoàn tất 5 Bộ Nikaya, 4 Bộ A Hàm và một số Kinh thuộc Tiểu Bộ. Tổng cộng 33 tập, trên dưới khoảng 200 ngàn trang, và đang hiệu đính các Bộ Đại Thừa thuộc Hán Tạng.
- In và phát hành hàng trăm đầu sách thuộc các thể loại như Kinh, Luật, Luận, Sử Phật giáo Việt Nam và Sử Phật giáo thế giới; các tác phẩm dịch thuật, biên soạn của chư Tôn đức, các nhà nghiên cứu, học giả.
- Trong thời gian tới, Viện Nghiên cứu sẽ tiếp tục biên soạn, phiên dịch các tác phẩm Phật giáo; dịch và biên sọan lịch sử Phật giáo Trung Quốc, Hàn Quốc và Campuchia…Ban Phật giáo Nam tông tiếp tục sưu tầm một số kinh sách do Cố Hòa thượng Giới Nghiêm dịch hoặc viết; sưu tầm, giới thiệu tiểu sử và hành trạng của chư vị tôn túc trưởng lão của Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam; giới thiệu quá trình thành lập và phát triển Phật giáo Nam tông Việt Nam và Phật giáo Nam tông Khmer.
- Hệ thống Thư viện Phật giáo tại Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội cũng như một số Tỉnh Thành hội Phật giáo được phát triển đồng bộ và nâng cao về một số đầu sách hiện có trong thư viện. Có trên dưới 15 bộ Đại Tạng bằng các ngoại ngữ khác nhau cũng như hàng chục ngàn đầu sách có giá trị trên các lĩnh vực nghiên cứu, học tập và đọc tụng đáp ứng yêu cầu của Tăng Ni, Phật tử đồng bào các giới.
- Tham dự nhiều hội thảo, hội nghị tại các nước như: Ấn Độ, Thái Lan, Srilanka, Trung Quốc, Đài Loan, Đức, Mỹ v.v… với những đóng góp tham luận có giá trị Quốc tế.
- Tổ chức nhiều cuộc Hội thảo khoa học như hội thảo Thiền uyển Tập Anh, Bồ tát Quảng Đức, Sư Thiện Chiếu, Phật giáo thời đại mới cơ hội và thách thức, Thiền sư Trần Thái Tôn, Phật hoàng Trần Nhân Tông – Phật giáo đời Trần, Quốc sư Khuông Việt, Hòa thượng Trí Hải, HT. Kim Cương Tử, Cư sĩ Thiều Chửu và những phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, về đạo dức Phật giáo, Giáo dục Phật giáo trong thời đại mới, Phật giáo hội nhập và văn hóa dân tộc, Thiền Phật giáo đời Trần, về Tôn giáo tính, Chúa – Bồ tát Nguyễn Phúc Chu với sự nghiệp mở mang bờ cõi v.v… Hội thảo thu hút được sự tham gia của chư Tôn đức Tăng Ni, nhiều nhà học giả, nghiên cứu trong và ngoài nước tham dự.
- Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội hoạt động theo chức năng chuyên môn và nhiệm vụ, phục vụ sự nghiệp Hoằng dương Phật pháp của Giáo hội. Tạp chí Nghiên cứu Phật học xuất bản đều đặn 02 tháng một kỳ, đã ra được 115 số, góp phần phát huy tinh thần trong sáng, tích cực của Đạo Phật, đáp ứng như cầu tu học Phật pháp của Tăng Ni, Phật tử cũng như các nhà Nghiên cứu Phật học.
- Để đào tạo nhân sự cho công tác dịch thuật từ Hán tạng ra Việt ngữ, Viện đã và đang giảng dạy năm thứ tư Lớp Hán văn nâng cao, các Tăng Ni sinh vừa học bổ sung kiến thức vừa phiên dịch các tác phẩm cho Viện.
C. Công tác xây dựng phát triển và bảo vệ tổ quốc:
Giáo hội luôn nỗ lực phát huy tinh thần phụng đạo yêu nước, quyết tâm giữ vững tinh thần độc lập dân tộc, đúng theo ý nghĩa phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật, trang nghiêm cho Thế gian tức là trang nghiêm Tịnh độ chư Phật tại thế gian. Với tư cách là thành viên trong khối Đại đoàn kết toàn dân, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam luôn luôn gắn liền với dân tộc trong mọi hoạt động xã hội, thực hiện đúng phương châm : “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”.
Các Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong toàn quốc đã thường xuyên động viên Tăng Ni, Phật tử tại địa phương hoàn thành tốt các phong trào ích nước lợi dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ môi trường, xây dựng nếp sống văn hóa văn minh trên địa bàn khu dân cư, góp ý xây dựng chính quyền vững mạnh, góp ý báo cáo chính trị của Đảng ở Trung ương và địa phương, tham gia các đoàn thể, các hoạt động xã hội, vì lợi ích của đất nước và dân tộc như tham gia ứng cử Đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, Mặt trận tổ quốc các cấp từ Trung ương đến địa phương.
Qua đó đã xuất hiện những tấm gương Người tốt việc tốt của Tăng Ni, Phật tử trong cả nước, được Nhà nước tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, Cố Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Cố Hòa thượng Thích Thiện Hào được tặng Huân chương Hồ Chí Minh; Quý Cố Hòa thượng Kim Cương Tử, Hòa thượng Thích Thuận Đức, HT. Thích Thiện Siêu được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập Hạng nhì; HT. Thích Phổ Tuệ, HT. Thích Trí Tịnh, HT. Thích Minh Châu, HT. Thích Thanh Tứ được Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh; HT. Thích Hiển Pháo Huân chương Vì sự Nghiệp Giao thông Vận tải; Cố HT. Thích Định Quang Huân chương kháng chiến hạng ba. HT. Thích Minh Châu được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng nhì; HT. Thích Thanh Tứ được Nhà nước trao tặng Kỷ Niệm chương và một số Tăng Ni, Phật tử, tự viện được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động Hạng ba như Báo Giác Ngộ, Chùa Kỳ Quang II, Tịnh xá Ngọc Phương v.v…
Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trung ương Giáo hội đã đề nghị Chính phủ Tặng nhiều Huân, huy chương và bằng khen cho Chư Tôn đức, Cư sĩ và tập thể Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo và đặt tên đường mang tôn danh các bậc Cao Tăng Việt Nam thời hiện đại có nhiều đóng góp về mọi mặt cho Giáo hội và cho xã hội.
Mặt khác, tinh thần hòa hợp đoàn kết là một sức mạnh vạn năng, xóa tan và đẩy lùi mọi thế lực đối nghịch nhằm chia rẽ Giáo hội và Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Có thể nói nhiệm kỳ II và III của Giáo hội là hai nhiệm kỳ có nhiều biến động nhất về mặt khách quan cũng như chủ quan, trong nước cũng như ngoài nước qua những hiện tượng “Dẫn lửa về quê hương”, “diễn biến hòa bình…” Từ đó, trong giới Phật giáo đã hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước đây và thành lập “Tăng đoàn Bảo vệ Chánh pháp” ở một số địa phương, có nhận tiền trợ cấp của nước ngoài nhằm gây bất ổn trong các phong trào từ thiện xã hội trong nước qua các đợt cứu trợ lũ lụt hằng năm.
Trên cơ sở đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni, Phật tử cả nước, nhất là các Tỉnh, Thành hội Phật giáo có nhiều biến động xảy ra đã bình tĩnh sáng suốt nhận định, càng tin và thấy rõ lý nhân quả của Đạo Phật, nên đã giữ lập trường kiên định về sự nghiệp thống nhất Phật giáo, phát triển Giáo hội ngày càng trang nghiêm và vững mạnh trong lòng dân tộc, tạo được niềm tin và sức mạnh tổng hợp của Phật giáo Việt Nam ở trong nước cũng như ngoài nước.
Hiện nay, trên các lĩnh vực hoạt động phụng sự Đạo pháp và Dân tộc của GHPGVN được mọi tầng lớp Tăng Ni, Phật tử trong nước cũng như thế giới càng tin tưởng và đặt trọn niềm tin vào vai trò của một tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước. Giáo hội ngày càng hòa nhập với cộng đồng Phật giáo thế giới, góp phần xây dựng nhân gian tịnh lạc, củng cố hòa bình an vui cho nhân loại trên hành tinh này.
III. KẾT LUẬN:
Giáo hội Phật giáo Việt Nam qua 30 năm thành lập và phát triển, với tinh thần đoàn kết hòa hợp của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam đã góp phần xây dựng và tăng cường các mục tiêu, tôn chỉ đúng đắn mà GHPGVN đã đề ra trong Hiến chương Giáo hội kể từ ngày thành lập. Những thành quả đạt được trong thời gian qua là do sự chung tay, góp sức nhất tâm đoàn kết của Tăng Ni, Phật tử không phân biệt tổ chức, hệ phái. Bộ máy lãnh đạo Phật giáo ngày càng được hoàn thiện, củng cố và mở rộng nhân sự, thể hiện trọn vẹn các nguyên tắc thống nhất đã đề ra. Chính vì thế những thành quả mà Giáo hội đạt được đã khẳng định một ưu điểm lớn, quyết định sự phát triển của GHPGVN, đó là tính đoàn kết hòa hợp cao độ, xem trọng sự nghiệp chung vì Đạo pháp và Dân tộc.
Hơn nữa truyền thống yêu nước, gắn bó với nhân dân, Tăng Ni cũng như Phật tử đã tiếp nối truyền thống của các bậc tiền bối, Tổ sư, tích cực tham gia vào sự nghiệp bảo vệ xây dựng tổ quốc thân yêu. Trong mọi lãnh vực của đời sống, chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa xã hội, quốc phòng …. đều có bóng dáng của Tăng Ni, Phật tử, trong số đó không hiếm những cống hiến xuất sắc cho tổ quốc nhân dân, rất xứng đáng với truyền thống yêu nước, hộ quốc an dân của các bậc tiền bối trong chiều dài lịch sử 2000 năm của Phật giáo Việt Nam.
Thành quả tốt đẹp của những hoạt động phụng đạo yêu nước của Phật giáo đã góp phần không nhỏ vào việc ổn định xã hội, xây dựng kinh tế đồng thời khẳng định niềm tin của Phật giáo Việt Nam vào chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Một niềm tin đã được khai nguồn bởi các bậc chân tu yêu nước tiền bối trong giai đoạn Cách mạng Việt Nam vừa mới ra đời đã được tôi luyện qua 2 cuộc chiến tranh giữ nước, và đã được thử thách trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước sau ngày chấm dứt chiến tranh và trong thời bình. Đây là một niềm tin sáng suốt, rất đáng tự hào bởi vì nó xuất phát từ lòng yêu nước, thấm nhuần tư tưởng từ bi và trí tuệ của Đạo Phật.
Mặt khác tinh thần “Khế lý, Khế cơ” của Giáo lý Đức Phật cũng là một trong những yếu tố quan trọng hướng dẫn chúng ta trong sự thành lập và điều hành của Giáo hội. Tinh thần “Khế lý” dạy chúng ta phải nắm vững chân lý, quy luật muôn đời của vũ trụ và nhân sinh. Tinh thần “Khế cơ” dạy chúng ta phải biết vận dụng chân lý ấy cho thích hợp với tâm lý, căn cơ, hoàn cảnh thời đại phát triển của đất nước Việt Nam.

Tiếp nối tinh thần đoàn kết hòa hợp trong lòng dân tộc và sự lãnh đạo sáng suốt có kỷ cương của Giáo hội, cùng sự tích cực phục vụ Đạo pháp của tất cả Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, cũng như sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng lãnh đạo Trung ương, Tỉnh, Thành và địa phương, Giáo hội chúng ta tiếp tục phát huy những thành quả, các tiền đề đã đạt được và thực hiện hữu hiệu lý tưởng bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc, kết thành những bông hoa tươi thắm trong tinh thần đoàn kết hòa hợp của người con Phật, để chào mừng Đại hội Phật giáo các Tỉnh, Thành và Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VII của Giáo hội Phật giáo Việt Nam - nhiệm kỳ của thế kỷ của hòa bình, thịnh vượng và phát triển toàn cầu.

Sunday, September 11, 2011

Nỗi đau và niềm an ủi

Ngày 11/9/2011, đài CNN của Mỹ đã truyền trình trực tiếp Lễ kỷ niệm 10 năm, ngày tòa tháp đôi - Trung tâm thương mại lớn nhất của Mỹ cũng như thế giới bị không tặc tấn công, phá hủy và cướp đi gần 3000 sinh mạng của công dân nhiều nước. Lần lượt, các thân nhân đến trước công chúng đọc tên của những nạn nhân trong vụ tấn công và bày tỏ lòng yêu thương và tiếc nhớ cũng như cầu nguyện Chúa phù hộ cho các nạn nhân và đất nước Mỹ.

Hầu như mọi người trên toàn thế giới, trừ những người khủng bố, bất kể là tôn giáo, màu da, sắc tộc, nam nữ…đều bày tỏ niềm cảm thông và chia sẻ nỗi đau mất mát đối với các nạn nhân và gia đình của họ. Đó là một thứ tình cảm thiêng liêng vượt qua mọi rào cản chủ nghĩa, giáo điều, rất cần thiết cho cuộc sống đầy bất ổn, chia rẽ ngày nay. Tình cảm thiêng liêng ấy có thể ví như là chất liệu an ủi cho con người nói chung và gia đình nạn nhân nói riêng.

Sự kiện thương tâm và chấn động thế giới xảy ra cách đây 10 năm, khi những đứa con ngỗ nghịch của Chúa vì lòng thù hận sâu nặng; vì ý chí trả thù bị nhồi sọ ngay từ khi còn thơ bé;…và đặc biệt vì lòng tin ngây ngô, mù quáng sẽ mau về với Chúa sau khi hoàn thành phi vụ thảm sát, đã không ngần ngại sát hại những người anh em cùng Cha – những đứa con của Chúa không thương tiếc.

Trong lịch sử, người Cha này đã đau khổ nhiều vì cảnh anh em chém giết lẫn nhau và ngày hôm ấy (11/9) mãi đến hôm nay lại tiếp tục chứng kiến nhiều ảnh tượng tương tự như thế. Tuy nhiên, có lẽ cảnh tượng ngày 11/9 là đau thương nhất trong thời hiện tại vì gần 3000 sinh mạng vô tội đã bị chết oan, chết mà không biết tại sao và cũng chưa kịp nói lời từ biệt với người thân. Trong khi những đứa con khóc lóc và cầu xin người Cha phù hộ, chắc chắn người Cha cũng đau khổ không kém nhưng không biết làm cách nào để ngăn cản những đứa con ngỗ nghịch mù quáng bớt gây thêm tội ác vì đã lỡ hứa.

Có nhiều người hỏi, nếu Cha đã là toàn năng có quyền quyết định tất cả thì tại sao Cha lại sinh ra những đứa con ngỗ nghịch làm gì để anh em tương tàn, tương sát. Đã có rất rất nhiều lời giải thích nhưng không sao lý giải thỏa đáng câu hỏi hóc búa ấy. Và có giải thích cách nào đi nữa thì sự thật vẫn cứ xảy ra, cảnh tang thương vẫn cứ tiếp tục, và chính các con của Cha mới là người đau khổ.

Giờ này mọi người đang đau khổ và đang cầu nguyện Chúa ban phước lành. Những đứa con lành và những đứa con hư đều tin Chúa và cầu nguyện như nhau. Lẽ nào người Cha lại thiên vị ban phước bên này, ghét bỏ bên kia. Nếu phe của những đứa con nghịch thắng (tức giết được nhiều người) thì có phải Cha đang ban phước cho họ đó chăng? Những đứa con lành sẽ đau lòng lắm nếu mà biết đó là sự thật. Còn ngược lại thì cũng không vui vẻ gì, phải không Cha?!

Những đứa con lâu nay tin Cha và luôn quy mọi thứ vào Cha; luôn cầu nguyện và mong được Cha ban phước. Đó là niềm an ủi của tụi chúng con.

Cha nếu thật sự tồn tại sẽ nghĩ gì đây. Cha có dám nói với các con rằng Cha luôn là chỗ dựa vững chắc của các con nhưng mọi thứ không phải là Cha quyết định mà là ‘luật nhân quả’ quyết định không?! Ngày nào Cha nói được câu ấy là ngày hạnh phúc lớn nhất đối với Cha và niềm an ủi thật sự ý nghĩa nhất đối với các con. Ngày ấy, những đứa con của Cha sẽ không lợi dụng danh nghĩa của Cha mà gây đau thương cho những người anh em vì ánh sáng chân lý đã mở bày, niềm tin mù quáng lên thiên đàng sẽ không còn chỗ bám víu. Chân lý ấy chính là nhân quả báo ứng, nhân lành quả lành, nhân ác quả ác. Rất mong thay!

Phát triển Tông An Nam ở Thái Lan: Cơ hội và thử thách

Tông An Nam là tông phái Phật giáo Bắc truyền ở Thái Lan có nguồn gốc từ Việt Nam và từ An Nam là tên gọi trước đây của Việt Nam. Theo các sử liệu nghiêu cứu, tông này được hình thành vào thời kỳ khởi nghĩa Tây Sơn – Nguyễn Ánh, tức hơn 200 năm trước. Lúc bấy giờ, ở Việt Nam do tình hình chính trị và xã hội bất ổn, nhiều người Việt đã chạy sang Thái Lan (tức nước Xiêm lúc bấy giờ) để lánh nạn và tìm cuộc sống mới. Được sự ưu ái của các vua Thái, cộng đồng người Việt được phép thành lập, được cấp đất cho làm ăn sinh sống, và từ đó những ngôi chùa Việt cũng dần dần được xây dựng để phục vụ cho nhu cầu đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt và cả người địa phương. Tông An Nam khởi thủy từ đời vua Rama IV, nhưng chính thức được công nhận và cho phép sinh hoạt từ đời vua Rama V đến ngày nay.

Trải qua thời gian hơn 200 năm, tông An Nam đã phát triển được 19 ngôi chùa trên nước Thái trong đó Bangkok chiếm 7 ngôi. Số lượng chư tăng thuộc tông An Nam hiện nay khoảng 400 vị. Sự thành tựu Phật sự của chư tổ tại ngoại quốc như thế là một thành công đáng trân trọng. Tiếp nối sự nghiệp của chư tổ, các thế hệ sau không ngừng nỗ lực để duy trì và phát huy tông phái. Trong bối cảnh hiện nay, khi nền khoa học kỹ thuật phát triển, nhu cầu hưởng thụ vật chất của con người tăng cao, cộng với việc giao thương giữa Việt Nam và Thái Lan trở nên bình thường, thì tông An Nam cần phải có chiến lược để thích ứng và phát triển lâu dài. Đó là cơ hội và cũng là thử thách của tông này. Ta thử tìm hiểu những yếu tố là cơ hội và đâu là thử thách để định ra hướng đi thích hợp.

Cơ hội:

Thái Lan là nước có số tín đồ Phật giáo chiếm khoảng 95 phần trăm. Điều đó cho thấy số người thuần thành và tôn kính đạo Phật chiếm tỉ lệ rất cao so với các nước khác. Đây là một lợi thế lớn để Phật giáo nói chung và tông An Nam nói riêng có thể đóng góp vai trò của mình cho xã hội trong nhiều lĩnh vực như sau:

Giáo dục:

Hiện nay tông An Nam chỉ có hai trường Phật học, một trường phổ thông ở Bangkok đào tạo chư tăng thuộc tông phái và một trường thuộc chi nhánh của Đại học Mahachulalongkorn ở Hatyai. Cùng với sự phát triển xã hội, nhu cầu giáo dục đang ngày càng tăng. Do đó, nếu đủ nhân sự tông An Nam có thể xin phép mở trường đào tạo cho cả chư tăng và cư sĩ nhằm phục vụ nhu cầu học tập và xây dựng vị thế của tông phái trong lòng xã hội.

Từ thiện xã hội:

Đặc điểm nổi bậc của Phật giáo Bắc truyền là “Phật pháp bất ly thế gian giác” nhằm nói tinh thần nhập thế của đạo Phật. Cho nên, tông An Nam có thể phát huy nhiều hơn vai trò của mình thông qua công tác từ thiện. Công việc này có thể thực hiện tốt vì khả năng tài chánh các chùa tại Bangkok tương đối dồi dào. Thông qua sự bố thí, chia sẻ lòng từ bi, chư tăng có thể khơi dậy trong tâm những người nghèo khó hình ảnh tích cực của Phật giáo và tông phái.

Hướng dẫn tu học:

Xã hội ngày càng phát triển nhưng đồng thời khủng hoảng tinh thần cũng tăng theo. Cho nên, nhu cầu tu học của hàng Phật tử là rất lớn. Việc mở các khóa tu học hàng tuần cho cư sĩ là điều hoàn toàn có thể thực hiện được. Cộng với các kênh phát thanh hiện có, các chùa có thể giảng dạy Phật pháp cho tín đồ để tạo sự liên hệ gắn bó và trợ giúp họ trong sự tu học. Ở đây, vì đa số là người Hoa nên pháp môn Tịnh Độ kết hợp với Thiền sẽ thích hợp.

Thách thức:

Tuy nhiên để thực hiện được những cơ hội trên đòi hỏi tông phái phải phấn đấu, nỗ lực, kiên trì mới có đủ khả năng vượt qua những thử thách có thể nói là rất lớn hiện nay.

Ngôn ngữ:

Trước khi nói về vấn đề khó khăn này thiết nghĩ ta cũng nên khâm phục và kính trọng chư vị tổ sư, những bậc thầy đã giữ gìn và truyền thừa đến ngày hôm nay. Trải qua hơn 200 năm, đọc tụng kinh điển bằng âm tiếng Việt vẫn được hành trì hằng ngày. Đó là một điều đáng được ghi nhận và suy nghĩ. Đối với Phật giáo Nam tông, tuy đọc tụng kinh tiếng Pali nhưng họ có thể hiểu ý kinh qua ngôn ngữ chuyển dịch, giải nghĩa. Trong khi đó, các bản kinh tông An Nam hành trì toàn chép bằng chữ Hán (như vài chục năm trước chư tăng Việt Nam thường dùng), và hiện tại có thêm các bản phiên âm bằng chữ Thái. Ở bản chữ Hán, nếu vị thầy nào giỏi tiếng Hoa thì có thể hiểu ý nghĩa kinh điển để giảng dạy và hành trì đúng tinh thần kinh dạy nhưng xem ra rất hiếm có những vị có thể hiểu ý kinh. Còn ở bản chữ Thái thì việc tìm hiểu ý nghĩa thật là khó khăn. Lý do thứ nhất là chưa có bản dịch và giải thích nào bằng tiếng Thái (chẳng hạn như quyển Nhị Khóa Hiệp Giải ở Việt Nam) để chư tăng tìm đọc. Thứ hai, khi phiên âm tiếng Việt ghi bằng chữ Thái có nhiều âm trại hoặc sai làm cho cơ hội hiểu trở nên khó khăn thêm. Do đó, hầu như chư tăng tông An Nam chỉ biết đọc tụng chứ không hiểu ý nghĩa kinh dạy điều gì mặc dù thuộc không thiếu một chữ. Một số vị có xu hướng tụng pha lẫn giữa âm Việt và Hán.

Nặng nghi thức cúng bái:

Có thể nói tông An Nam sống chủ yếu phụ thuộc vào cộng đồng người Hoa vì các chùa An Nam đa số nằm ở khu người Hoa và thường xuyên phục vụ nhu cầu cúng bái của họ. Người Hoa thì rất nặng hình thức cúng kiến nhất là tang ma nên khi phục vụ nhu cầu của họ sự sinh hoạt Phật giáo trở thành tôn giáo hữu thần, tín ngưỡng hơn là bản chất vốn có của đạo Phật. Đáng tiếc rằng đây lại là sinh hoạt chính và là nguồn sống chính của chư tăng thuộc tông này. Một mặt do ảnh hưởng của Phật giáo Nam truyền, một mặt vì không ai có đủ khả năng cải tiến bớt những điều không phù hợp nên hình thức sinh hoạt này vẫn còn duy trì đến ngày nay. Đây là một thách thức lớn của tông An Nam trong sự phát triển lâu dài.

Nhân sự:

Theo phong tục Thái, việc xuất gia rồi hoàn tục trở thành một Phật tử, một công dân tốt là chuyện bình thường. Sự hoàn tục diễn ra trong nhiều trường hơp, có khi là vài tháng, vài năm hay thậm chí hai ba chục năm sau khi xuất gia. Do ảnh hưởng của truyền thống tu tập mang nặng hình thức tự độ, khép kín nên khi vị nào càng lớn tuổi trừ vị trụ trì thì càng đơn độc thiếu người giúp đỡ nhất là khi bịnh tật. Cho nên, có nhiều vị sau một thời gian lâu ở chùa, chuẩn bị đủ điều kiện rồi thì hoàn tục về gia đình. Đề cập việc này để nói lên tính thừa kế trở nên khó khăn vì thiếu nhân sự nhất là những vị có khả năng có thể hiểu và giảng dạy Phật pháp. Đây là vấn đề lớn mà chư tôn đức tông An Nam có tâm huyết luôn trăn trở nhưng đến nay cũng chưa thực hiện được.

Thời gian đầu, cộng đồng người Việt đông cộng với sự qua lại từ Việt Nam tương đối dễ nên tông An Nam có người Việt trụ trì. Tuy nhiên, kể từ sau năm 1945 do tình hình chính trị phức tạp, dòng người Việt chạy qua lánh nạn quá đông khiến chính quyền Thái có nhiều chính sách hạn chế và kiểm soát. Do đó, từ năm 1964 về sau không còn người gốc Việt nào trụ trì ở chùa An Nam. Đó cũng là một khó khăn dẫn đến thiếu nhân sự biết tiếng Việt trong tông phái. Đồng thời, một khó khăn khác là các vị trụ trì hiện nay không biết tiếng Việt như đã đề cập, nhưng khi người Việt đến xin ở thì họ cũng e ngại vì sợ rằng sẽ bị chiếm chùa, mặc dù việc nhập tịch và xin visa vào không dễ chút nào.

Một số ý đóng góp:

Ta biết rằng bất cứ sự nghiệp gì muốn thành tựu thì yếu tố con người phải là yếu tố quyết định. Ở đây nhân sự thừa kế là yếu tố sống còn của tông phái này. Chính con người mới có thể giải quyết tất cả những thử thách và tận dụng cơ hội trên để phát triển tông phái. Vậy thì nhân sự ở đâu?

Người Thái:

Mở chương trình dạy tiếng Việt nhất là phương diện kinh điển tông phái hành trì cho chư tăng người Thái để họ có thể hiểu khi kế thừa sự nghiệp trong tương lai. Trong trường hợp những vị ấy không tiếp tục tu nữa thì cũng nên sử dụng cho việc giảng dạy cho các lớp sau.

Người Việt:

Mạnh dạn cung thỉnh chư tăng người Việt có khả năng thông hiểu Phật pháp và thông thạo tiếng Thái qua giảng dạy theo định kỳ.

Để đạt được mục đích này thì việc hợp tác trao đổi sinh viên là việc cấp bách và nên xúc tiến nhanh. Cần thành lập ban phụ trách để giới thiệu và hướng dẫn các thủ tục cho sinh viên theo học.

Khi nhân sự đủ thì tiến hành phát triển giáo dục và các hoạt động xã hội. Cải cách bớt những nghi thức mang đậm nét bản địa Trung Hoa, xây dựng môi trường tu học cho chư tăng và Phật tử.

Dịch nghĩa và giải thích các nghi thức hành trì để giảng dạy cho chư tăng và làm tài liệu cho tông phái.

Trở ngại hiện nay

Tuy nhiên, thách thức và cũng là trở ngại chính hiện nay là không có cộng đồng người Việt sinh sống quanh chùa hay chí ít đến chùa sinh hoạt. Chùa tồn tại và sinh hoạt được đều nhờ vào cộng đồng người Hoa. Do vậy, chư tăng dù có biết tiếng Việt cũng không sử dụng được vì không mấy ai đến chùa ngoại trừ thi thoảng có khách hành hương, du lịch từ Việt Nam đến tham quan, lễ bái ở một vài chùa.

Chính quyền và Phật giáo Thái quản lý Giáo hội, tông phái, chùa chiền rất chặt chẽ. Không một tu sĩ ngoại quốc nào được phép xây chùa trên đất Thái vì tất cả các chùa đều do Giáo hội và nhà nước quản lý. Để một ngôi chùa mới được hình thành và sinh hoạt, nó phải được đưa vào trong hệ thống quản lý Giáo hội và sinh hoạt theo sư quản lý ấy.

Đã có một số người Việt có nhã ý thành lập một ngôi chùa nơi đất Thái để bà con Việt kiều và người Việt khi đến Thái Lan có nơi sinh hoạt ấm cúng nhưng đó chỉ là ước mơ. Hiện tại, chưa có một chính sách nào cho phép việc này xảy ra. Thái Lan không cho tu sĩ ngoại quốc nhập tịch (chưa biết có ngoại trừ đặc biệt nào không) và chỉ cấp visa dài nhất là 1 năm cho các trường hợp du học sinh và sinh hoạt tôn giáo (có giấy bảo lãnh). Do vậy, không có tu sĩ Việt nào có đủ tư cách pháp nhân để đứng ra xây dựng và quản lý, sinh hoạt một ngôi chùa trên đất Thái. Trừ khi có sự hợp tác giữa chính phủ hai nước, may ra trường hợp trên có thể thành hiện thực.

Monday, September 5, 2011

Hoạt động giáo dục Phật giáo: đôi điều suy nghĩ

Đã 30 năm trôi qua, kể từ khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, một khoảng thời gian không quá ngắn nhưng cũng không quá dài cho sự củng cố và phát triển PGVN nói chung và ngành giáo dục Phật giáo nói riêng. Nói là 30 năm nhưng thực chất chỉ hơn phân nửa thời gian ấy Phật giáo hoạt động tương đối chính thức. Do vậy, việc hoàn thiện hệ thống giáo dục Phật giáo là một thách thức lớn. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không phải nằm ở thời gian mà là chính sách phát triển và phương thức đổi mới giáo dục Phật giáo. Đến nay, ngành giáo dục Phật giáo vẫn chưa có mô hình giáo dục phù hợp với sự phát triển của thời đại. Đó là một trăn trở lớn của Giáo hội, của Ban giáo dục và cả những người học Phật. Những trở lực nào đã làm trì trệ nền giáo dục và hướng đi nào để đáp ứng sự đổi mới?

Tình hình chung và vai trò giới hạn

Sau khi đất nước thống nhất, nền chính trị nước nhà quy về một mối và chi phối mọi sinh hoạt trong xã hội. Phật giáo cũng không phải là ngoại lệ. Ngành giáo dục Phật giáo tạm thời ngừng nghỉ và những thành tựu của nó trước năm 1975 bị gác lại hay chuyển mục đích sử dụng. Đến khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập thì các ban ngành mới được chính thức hoạt động dưới sự quản lý của Ban tôn giáo và sự giám sát của các ban ngành khác. Nhiệm vụ của giáo dục Phật giáo được trao cho một ban gọi là Ban giáo dục tăng ni. Tên của ban này đã xác định rõ là đối tượng của giáo dục Phật giáo chỉ gồm tăng ni, tức là giới hạn vai trò vốn có của Phật giáo là giáo dục mọi đối tượng có nhu cầu học Phật. Cái tên của ban này cũng làm nhiều người hiểu là chỉ có tăng ni mới cần được giáo dục, còn những đối tượng khác thì đã hoàn thiện. Từ đó đến nay, ban này nỗ lực hoạt động trong giới hạn của mình nhằm cung cấp nhân sự tài đức để đưa con thuyền Giáo hội đi lên. Những nỗ lực ấy đã đem đến những kết quả đáng kể, nhất là con số trường lớp được thành lập và tăng ni tốt nghiệp ra trường. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo và nguồn nhân lực có thể sử dụng được sau khi đào tạo thì dường như chưa có số liệu thống kê đánh giá. Ta hãy nhìn lại hệ thống tổ chức giáo dục để suy luận thành quả của nó ra sao.

Những bất cập của hệ thống giáo dục

Hệ thống trường lớp

Ngành giáo dục Phật giáo nếu nhìn từ sơ đồ, cơ cấu tổ chức trường lớp thì ta thấy rất bài bản gồm các cấp bậc từ thấp đến cao. Thấp nhất là Lớp sơ cấp, đến Trường trung cấp (cơ bản), Lớp cao đẳng, và Học viện (hay đại học) Phật giáo. Tuy nhiên, khi đi sâu vào tìm hiểu, ta lại thấy có những điều bất ổn (nhưng lại phản ảnh sự linh hoạt của chư tôn đức ngành giáo dục nhằm đối phó với cơ chế). Theo quy định trên thì hệ thống trường lớp phải được áp dụng đồng bộ trên toàn quốc. Thế nhưng, thực tế thì chỉ có một số tỉnh thành có lớp sơ cấp được mở với lý do đào tạo như lớp gia giáo tại chùa nhằm bồi dưỡng kiến thức cho tăng ni trong khi chờ đợi vào trung cấp. Khi tốt nghiệp trung cấp, tăng ni muốn tiếp tục học cao hơn thì hoặc là thi tuyển vào Học viện hoặc vào thẳng Lớp cao đẳng. Nói là Lớp cao đẳng mà không phải là Trường cao đẳng vì nó thực chất là trung cấp nối dài, trực thuộc Trường trung cấp. Ý tưởng này là do chư tôn đức thương tưởng tạo điều kiện cho tăng ni có cơ hội trau dồi thêm kiến thức chuyên môn Phật pháp. Đến cấp cao nhất trong Phật giáo là đại học thì nó cũng bị giới hạn ở mức cử nhân. Hiện tại đại học Phật giáo mới bắt đầu đào tạo sau đại học nhưng mang tính chất nội bộ. Dẫu sao cũng đáng khích lệ.

Chương trình đào tạo

Vì hệ thống trường lớp không đồng bộ nên chương trình giảng dạy ắt hẳn là không thể thống nhất về nội dung. Mỗi trường đưa ra chương trình đào tạo riêng và sự phân chia nội dung tất nhiên theo quan điểm của bổn trường. Khi hết trung cấp, tăng ni muốn đậu trong kỳ thi tuyển vào đại học Phật giáo thì phải nắm bắt thông tin, và tìm hiểu nội dung ôn thi thì mới có hy vọng cao. Lý do là nội dung đề thi tuyển sinh có khi chẳng ăn nhập gì với nội dung đã từng học dưới các Trường trung cấp nhất là môn việt văn và ngoại ngữ.

Thời gian tuyển sinh đào tạo

Theo quy định hiện nay, thời gian học sơ cấp là 2 năm, trung cấp 4 năm, cao đẳng 3 năm, học viện 4 năm. Một tăng ni sinh muốn hoàn tất chương trình cử nhân phải mất 10 năm liên tục, và hoàn tất cao đẳng phải mất 9 năm. Nếu tăng ni là ấu niên xuất gia, sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học vào học ngay chương trình Phật học thì chí ít 28 tuổi mới có cử nhân Phật học. Trường hợp tăng ni vừa học hai chương trình Phật học và thế học thì thời gian hoàn tất cử nhân có thể ngắn hơn nhưng chắc chắn không bảo đảm chất lượng, phần lớn xem nhẹ Phật học. Nếu những vị xuất gia muộn thì cứ như thế tính ra sẽ biết tuổi tốt nghiệp.

Điều đáng nói là các trường Phật học không chiêu sinh hàng năm mà cách 2 hay 4 năm một lần, cụ thể là 2 năm đối với sơ cấp, 4 năm hay hiện tại có nơi 2, 3 năm đối với trung cấp, 4 năm hay hiện tại là 2 năm đối với đại học. Nếu tăng ni học xong sơ cấp mà trung cấp đã khai giảng rồi thì phải chờ 4 năm sau hay hiện tại là 2 năm; đại học cũng tương tự. Thế thì thời gian cho một tăng ni tốt nghiệp cử nhân Phật học theo quy định hiện nay chí ít cũng phải trên dưới 30 – một độ tuổi quá già đối với trình độ ấy so với sinh viên bên ngoài chỉ khoảng 22 – 23.

Nhân sự điều hành, giảng dạy

Do đặc thù của Phật giáo nên nhân sự Phật giáo thường kiêm nhiệm nhiều chức vụ. Tuy nhiên, một vị hiệu trưởng mà không làm việc toàn thời gian cho trường lớp là điều đáng quan ngại cho sự giáo dục. Nếu vì lý do tế nhị là cơ chế thì chí ít vị phó hiệu trưởng thường trực phải là người làm việc toàn thời gian cho trường lớp. Nhìn vào quỹ thời gian làm việc người ta có thể thấy được phần nào chất lượng giáo dục. Đối với giáo thọ, họ phải có giáo án và kinh nghiệm giảng dạy nhất định. Nên có hợp đồng và trả lương phù hợp cho họ thì họ mới làm tốt. Nếu áp dụng chế độ công quả thì rất khó điều hành hiệu quả trường lớp. Rất tiếc, đây là cách làm hiện nay của giáo dục Phật giáo.

Chỉ tiêu tuyển sinh

Một trong những điều trường lớp quan tâm là số lượng tăng ni đăng ký học. Chưa có một quy định nào về chỉ tiêu tuyển sinh của các trường Phật học. Những thành phố lớn thì sĩ số vài trăm tăng ni trong khi các tỉnh xa thì chỉ chưa đầy 30 vị. Một lớp học với sĩ số gần 200 cùng học chung tại giảng đường và một lớp học chỉ hơn 20 vị thì được cho là đủ tiêu chuẩn trường lớp không!? Một số tỉnh cũng thích mở trường nhưng tăng ni không đủ nên phải vận động mọi lứa tuổi cho đông. Đây thực sự là gánh nặng cho các vị giáo thọ và chất lượng giáo dục.

Tiêu chuẩn đánh giá

Nói về đánh giá học tập thì thật nhiêu khuê vì chưa có tiêu chí đánh giá nào được áp dụng chung. Hầu hết đều do trường và cụ thể là do chính vị giáo thọ đánh giá. Không ai dám chắc là sự đánh giá của các vị là chính xác là đáng tin cậy trừ những bậc giáo thọ có kinh nghiệm về sư phạm. Trình độ trung cấp mà kiểm tra đánh giá chỉ bằng bài luận cuối khóa thì e rằng chưa ổn bởi họ cần kiểm tra thường xuyên và với hình thức trắc nghiệm kiến thức nữa. Trình độ cử nhân mà làm tiểu luận trên 4000 từ hay trên 10 trang A4 là quá giỏi. Một học kỳ làm khoảng 5 tiểu luận là bằng luận văn cử nhân rồi. Sau 4 năm học, họ sẽ rất giỏi nếu như đó là sản phẩm thật sự của họ. Chúng ta thật khâm phục các vị giáo thọ đã chịu khó hướng dẫn và đọc hết bài của sinh viên!?

Quản lý giáo dục

Có thể nói quản lý giáo dục Phật giáo là thiếu chuyên nghiệp, thiếu tầm nhìn hợp tác. Ở xã hội, ngành giáo dục quản lý từ bộ, xuống sở, rồi phòng sau đó là các cơ sở trường lớp. Từ đó, các chức vụ được bổ nhiệm như bộ trưởng, giám đốc sở, trưởng phòng, hiệu trưởng…để quản lý hoạt động giáo dục. Ở cấp tỉnh, do có nhiều trường học từ thấp đến cao nên mới có sở quản lý và sở chịu sự quản lý cấp cao hơn. Nếu như trong một tỉnh chỉ có một trường hay không có trường nào liệu các chức vụ ấy được đưa ra không. Chắc chắn là không. Thế mà trong Phật giáo lại có. Có nhiều tỉnh không có trường lớp Phật giáo nhưng vẫn có trưởng ban giáo dục tăng ni. Những nơi có trường Phật học thì đúng ra hiệu trưởng phải kiêm trưởng ban giáo dục tăng ni nhưng một số tỉnh thì không như vậy. Không biết các vị trưởng ban giáo dục tăng ni nơi không có trường Phật học và nơi có trường nhưng đã có hiệu trưởng, tiến hành giáo dục tăng ni bằng cách nào. Có cần cơ cấu đầy đủ các ban ngành cho tất cả các tỉnh thành không và cơ cấu để làm gì!?

Việc quản lý và lưu trữ hồ sơ của các trường Phật học cũng là điều đáng quan tâm. Ngoại trừ các trường đại học quản lý hồ sơ sinh viên tương đối tốt nhưng chưa có mã số sinh viên hay chỉ cấp cho các khóa học mới đây, hồ sơ tăng ni sinh ở các Lớp cao đẳng, và Trường trung cấp không ai biết được ngoại trừ chính trường ấy. Kết quả là tăng ni muốn chuyển trường khó mà chuyển được và bằng thật học giả là điều có thể đoán được. Hơn nữa, trong khi Giáo hội quy định tăng ni trụ trì phải đủ các điều kiện trong đó có yêu cầu văn bằng Phật học thì việc tiêu cực xảy ra là rất dễ hiểu. Muốn truy nguồn gốc bằng thật giả thì khó mà tìm được bởi cơ quan quản lý đâu có nắm hồ sơ lưu trữ.

Quan hệ hợp tác

Về nội bộ Phật giáo thì các trường không có sự liên kết nhau nên không thể trao đổi sinh viên lẫu nhau hay sinh viên muốn chuyển trường cũng không được. Về đối ngoại thì các trường đại học bên ngoài không công nhận văn bằng của ta trong khi một số nước quanh ta thì họ chấp nhận. Đó là một nghịch lý và là một sự bất công mà Phật giáo cần phải tranh đấu đòi hỏi quyền lợi cho sinh viên của mình.

Đổi mới hệ thống giáo dục

Củng cố hệ thống giáo dục

Giáo dục Phật giáo mạnh trước hết hệ thống trường lớp phải đồng bộ và thống nhất từ trên xuống dưới trong cả nước. Khi đã phân chia rõ ràng từng cấp bậc cụ thể thì sẽ dễ dàng định hướng nội dung chương trình cho từng cấp. Trong khi định hướng nội dung đào tạo, các nhà soạn thảo sẽ đưa ra mô hình đào tạo sao cho thích hợp theo nhu cầu của Phật giáo và xã hội. Có 2 mô hình phổ biến:

Một là đào tạo theo mô hình truyền thống khép kín mang tính chuyên môn Phật giáo dành cho những ai chuyên nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Thời gian 10 năm là đủ, sau đó tăng ni vừa nghiên cứu vừa trau dồi thêm tùy điều kiện riêng.

Hai là đào tạo theo mô hình tương đương với đại học thế tục. Những ai đáp ứng đủ những điều kiện về tuyển sinh thì đều được tham gia thi tuyển. Thời gian đào tạo như các đại học thế tục. Mô hình này đang còn trong giai đoạn tranh luận, chưa thống nhất.

Trong khi tăng ni tốt nghiệp phổ thông trung học có quyền thi tuyển vào các trường đại học thế tục thì đại học Phật giáo lại không chấp nhận. Làm như thế, vô hình trung, giáo dục Phật giáo đẩy con em mình ra ngoài để họ hòa mình vào thế tục. Lý luận rằng họ chưa đủ trình độ Phật học thì cứ đánh giá trình độ họ một cách công bằng và khoa học. Còn cho rằng họ chưa trải qua thời gian học tập cấp dưới nên bản chất người tu chưa thuần, dễ ngã mạn thì không thuyết phục bởi đâu phải ai cũng như vậy và cũng chưa có nghiên cứu nào chứng minh như thế. Vả lại, để tăng ni học ở các đại học thế tục thì họ không ngã mạn và thuần thục sao!?

Khi đã xác định mô hình đào tạo rồi thì bước tiếp theo là quy định về điều kiện thành lập trường lớp, quy chế đào tạo. Nếu ta không đủ quyền quy hoạch trường lớp thành các cụm thì ta đưa ra các quy định về tiêu chí trường lớp, chỉ tiêu chiêu sinh. Tỉnh thành nào đáp ứng điều kiện thì mở trường lớp, không thì tự giải thể hay sáp nhập vào các tỉnh thành lân cận để tạo thành cụm.

Về chiêu sinh hay tuyển sinh, nên mạnh dạn thực hiện hàng năm. Có thể ta giảm chỉ tiêu tuyển sinh thấp xuống nhưng tuyển sinh hàng năm thì vẫn đảm bảo số lượng sinh viên. Ví dụ: thay vì Học viện 2 năm tuyển sinh một lần lấy số lượng 600 sinh viên thì cứ mỗi năm tuyển sinh 1 lần lấy 300 sinh viên. Làm như vậy vừa giúp tăng ni bớt chán ngán chờ đợi, giữ được đà hứng thú học tập; vừa tạo cơ hội cho sinh viên nợ môn học có thể trả nợ sớm bằng cách theo học với khóa mới. Các trường trung cấp cũng phải tương tự như vậy. Điều này sẽ rất khó khăn cho các trường trung cấp vì đụng chạm tới lợi ích riêng của họ nên khó thực hiện nhưng đó là con đường phải đi nếu muốn đổi mới.

Để quản lý và tạo điều kiện cho tăng ni học tập thật sự thì các trường phải lưu trữ hồ sơ và trình lên ban giáo dục quản lý. Mỗi sinh viên phải có mã số, khóa học. Khi cần thiết tra cứu thì chỉ cần gõ vào địa chỉ của ban giáo dục là có thể biết thông tin cần thiết. Quản lý tốt sẽ hạn chế tình trạng không đáng có trong ngành giáo dục.

Biên soạn chương trình đào tạo khung

Sau khi đã có mô hình thì việc tiếp theo là biên soạn giáo án theo mô hình ấy. Điều này đã có nhiều ý kiến cụ thể rồi nên ở đây không bàn thêm.

Một điều cần lưu tâm khi soạn thảo là phải có chương trình thực hành bắt buộc với chuyên ngành đào tạo thường gọi là thực tập, khảo sát thực tế…Học lý thuyết mà không hướng dẫn thực hành thì trái với tôn chỉ Phật giáo là ‘tri hành hợp nhất’.

Chọn lựa nhân sự điều hành, giảng dạy

Nhân sự là nhân tố quyết định sự thất bại hay thành công của mọi tổ chức và trường lớp Phật giáo cũng không ngoài quy luật ấy. Nhân sự điều hành trường lớp phải là những người trực tiếp làm việc toàn thời gian cho giáo dục và có khả năng chuyên môn. Nếu nhân sự không chuyên môn và chỉ làm việc bán thời gian cho giáo dục thì sự thành công của trường lớp khó có hy vọng. Thành công ở đây là thực sự chứ không phải hình thức.

Về giáo thọ giảng dạy, Phật giáo chưa có cơ chế biên chế như nhà nước nên ta cứ hợp đồng rõ ràng, thời gian phục vụ và mức lương cụ thể. Có như thế mới đủ pháp lý để ràng buộc trách nhiệm các vị giáo thọ đối với sự nghiệp giáo dục, và tạo điều kiện cho họ nghiên cứu.

Mở rộng đào tạo

Như trên đã đề cập, trong khi tăng ni được phép học tại các trường thế tục thì người cư sĩ lại không được cho phép vào học tại các trường Phật học. Một số trường thế tục có khoa tôn giáo, khoa Phật học và mọi công dân đều có quyền theo học thì tại sao họ không được quyền học Phật học hay các ngành khác tại trường Phật học. Chúng ta phải kiên trì đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình để mở rộng, phát triển đại học Phật giáo. Đồng thời, chúng ta cũng phải đòi quyền lợi chính đáng về sự tôn trọng công bằng với các đại học thế tục vì hiện tại các đại học thế tục không chấp nhận bằng cấp của ta trong khi ta thì chấp nhận của họ. Muốn vậy, đại học Phật giáo phải đáp ứng các quy định của bộ giáo dục và không ngừng củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo. Tất cả phụ thuộc vào chính chúng ta.

Kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN là dịp chúng ta ôn lại chặng đường đã đi qua với những thành công và tồn tại. Từ đó, xây dựng chính sách mới phù hợp với thời đại nhằm khắc phục những bất cập và phát huy các giá trị thành công. Đây là cách thức xã hội đang làm. Liệu rằng sau khi kỷ niệm GHPGVN nói chung và giáo dục Phật giáo sẽ đổi mới! Thành quả tương lai sẽ trả lời thắc mắc ấy!