Wednesday, February 29, 2012

Đầm ấm các ngôi chùa gốc Việt Nam trên đất Thái

Người Việt Nam luôn tự hào về nền văn hóa và truyền thống tốt đẹp hàng nghìn năm của dân tộc, trong đó hình ảnh quê nhà với ngôi chùa thân thuộc không thể nào thiếu trong cuộc sống hằng ngày.

Đối với cộng đồng Việt kiều đang sống xa Tổ quốc thì tập tục đi lễ và chiêm bái chùa chiền ngày Xuân càng mang nhiều ý nghĩa, nhất là tại Thái Lan - nơi có số chùa đã hay đang hành trì các nghi lễ theo truyền thống Phật giáo Việt Nam nhiều nhất ở nước ngoài.

“Mái chùa che chở hồn dân tộc”

Các ngôi chùa gốc Việt tại xứ “chùa Vàng” chính là nơi bà con kiều bào giao lưu, gặp gỡ và thăm hỏi lẫn nhau, nhất là trong những dịp lễ tết. Đó cũng là không gian để mọi người có thể bộc bạch và gửi gắm tình cảm đối với quê hương đất tổ, là địa chỉ văn hóa tâm linh của những người con xa xứ.

Thời gian đã góp thêm những giá trị tâm linh cao cả và cũng tô điểm đẹp hơn cho một nét văn hóa của người Việt ở nơi “đất khách quê người.”

Một số tài liệu cho biết kể từ những ngày đầu tiên có mặt tại Thái Lan khoảng 200-250 năm trước, Annamnikaya hay còn gọi là An Nam tông luôn là một chỗ dựa tinh thần của bà con người Việt, vốn vì những lý do khác nhau mà phải di cư tới để làm ăn sinh sống.

Từ một hai ngôi chùa ở thủ đô Bangkok trong thời kỳ đầu, đến nay có tới 18-19 chùa An Nam tông phái trên toàn nước Thái, nơi chùa có tên gọi là Wat Yuon nghĩa là chùa của người Việt.

Trong đó riêng ở Bangkok có bảy ngôi chùa gốc Việt đặc trưng là Wat Kusol Samakorn (Chùa Phổ Phước - trụ sở của tông phái Annamnikaya), Wat Ananamnikayaram (Quảng Phước), Wat Samanamboriharn (Cảnh Phước, đã do Hòa thượng Bảo Ân là người Việt yêu nước chủ trì một thời gian khá dài), Wat Uphai Ratchabamrung (Khánh Vân), Wat Lokanukhroo (Từ Tế, từng là nơi tụ họp của bà con Việt kiều trong nhiều năm), Wat Mongkornsamakom (Hội Khánh) và Wat Chaiyapummikaram (Tỉ Ngạn).

Một ngôi chùa khác đang trong quá trình xây và cũng sẽ trở thành địa chỉ văn hóa tâm linh của những người con thành tâm xa xứ.

Kiến trúc chùa có mái cong, hoa văn, màu sắc đỏ và nhất là hình tượng rồng ở đó khác hẳn con rồng Thái Lan. Các bảng hiệu, hoành, đối được viết bằng chữ nho, các quyển kinh Phật đều được in chép bằng chữ nho và có phiên âm ghi bằng tiếng Thái bên cạnh. Hầu hết tên chùa đều được ghi khắc bằng chữ nho, chữ Thái và được phiên âm sang tiếng Ạnh.

Riêng cổng chùa Hội Khánh có cả chữ Việt và tấm biển bên trong ngôi chùa ghi rõ hàng chữ “Chùa Hội Khánh Lạc Thành,” với chữ “Phật” được ghi khắc nổi bật bằng cả tiếng Thái, tiếng Việt và chữ nho. Bên dưới là hàng chữ tiếng Việt “Kiều bào đồng kính cúng” và có ghi năm 1956. Có tài liệu nói ngôi chùa được lập dựng lên vào thời Vua Taksin và Dhonburi (1768-1782).

Do bị xuống cấp với các gian thờ cũ đã bị tạm dỡ và đến giờ vẫn chưa được phục dựng lại, nên tác giả bài viết chưa thể cung cấp thêm thông tin về ngôi chùa ở khu phố Yawarat có đông kiều dân người Hoa làm ăn buôn bán.

Rất hy vọng chùa Hội Khánh sẽ được mọi người quan tâm để không bị tác động bởi quá trình đô thị hóa, hoạt động kinh doanh hay thời gian làm hư hại, hoặc bị thương gia xâm lấn.

Giá trị văn hóa cao cả

Đa số những ngôi chùa gốc Việt đều được thiết kế đầy đủ các ban thờ, với cách bài trí “tiền Phật, hậu Thánh” giống như ở quê nhà. Hàng năm có hai lễ lớn vào tháng Giêng đầu năm và rằm tháng Bảy âm lịch, là cơ hội quý báu nhằm kết nối tình thâm của những người con Việt Nam xa xứ.

An Nam tông là một trong hai tông phái Phật giáo đại thừa duy nhất được các vị sư tổ người Việt Nam du nhập vào xứ “chùa Vàng”, nhận được những sự bảo trợ của các đời Vua Thái Lan và sự quan tâm nể trọng của người dân địa phương.

Chẳng hạn như trong tên Wat Uphai Ratchabamrung (Khánh Vân) thì cụm từ Uphai Ratchabamrung có nghĩa là được hai quốc vương (Thái) bảo trợ. Một số nghi lễ của An Nam tông đã trở thành một trong những nghi thức không thể thiếu được trong đời sống của người dân Thái, như lễ Cúng sao giải hạn và lễ Cúng rằm tháng Bảy xá tội vong ân.

Sư thầy Thích Hạnh Chơn, một trong số trên 10 quý sư thầy đang du học ở Thái Lan, cho biết thờ nhiều tượng là đặc trưng các chùa Việt ở Thái Lan, nơi người Thái thường chỉ thờ tượng Phật Thích ca gồm nhiều kiểu thế, tượng Phật bốn mặt (ảnh hưởng bà la môn giáo); một số chùa có cả tượng Di Lặc và Quán thế âm do phật tử người Hoa dâng cúng. Chùa Việt có nhà tổ, có thờ các vị hòa thượng tiền nhiệm, có thờ linh, có tháp cốt.

Còn Chùa Thái không có nhà Tổ, không thờ các vị tổ sư, các hòa thượng qua đời, không có bàn thờ linh. Đồ cúng lễ là hoa quả, thức ăn chay, trà nước, hương nến và vàng mã.

Trong một nghi lễ được tổ chức gần đây tại chùa Wat Kusol Samakorn - Chùa Phổ Phước - sư thầy Thích Nguyên Chơn nói: “Tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, bất cứ dân tộc nào tinh thần hiếu đạo luôn luôn đặt lên hàng đầu.

Việt Nam tự hào về đất nước hàng ngàn năm lịch sử, văn hiến lâu đời, người dân luôn biết giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc. Và chúng ta càng tự hào hơn nữa khi thấy rằng, trong suốt quá trình phát triển lâu đời ấy, bất cứ nhà nào cũng đều có bàn thờ, để thờ cúng tổ tiên ông bà, cha mẹ hay những người thân đã qua đời.”

Trong khế kinh, đức Phật dạy “Tâm hiếu là tâm Phật. Hạnh hiếu là hạnh Phật.”

Do đó, đạo Phật đi vào cuộc đời cũng không ngoài tinh thần hiếu hạnh. Hiếu hạnh đã trở thành một chuẩn mực đạo đức trong nền văn hóa nhân loại, đó chính là nền văn hóa tình người.

Sư thầy Thích Nguyên Chơn cho biết thêm tinh thần hiếu hạnh của đạo Phật không chỉ dừng lại ở việc báo hiếu cha mẹ trong hiện tại, mà còn báo hiếu cho đa sanh phụ mẫu trong bảy đời. Vì thế lễ hội tại chùa đã vượt ra ngoài ý nghĩa tôn giáo thuần túy, để trở thành một Lễ hội thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.

Phật giáo đã trở thành một tôn giáo truyền thống của người Việt từ xưa đến nay. Chính vì thế, những ngôi chùa Việt dần dần được “di cư” theo rất nhiều kiều bào xa xứ và có hàng trăm ngôi chùa của người Việt đã được dựng lên, trở thành địa chỉ văn hóa tâm linh của cộng đồng kiều bào.

Thời gian đã góp thêm những giá trị tâm linh cao cả và cũng tô điểm đẹp hơn cho một nét văn hóa của người Việt ở nơi “đất khách quê người”./.



Ngọc Tiến (Theo Vietnam+)






Thursday, February 23, 2012

Nghĩ về quyết định ‘cấm’

Trong xã hội có bao nhiêu vấn đề bất cập thì con người tìm ra ít nhất là bấy nhiêu giải pháp để giải quyết chúng. Giải pháp thì rất đa dạng vì tùy theo từng trường hợp cụ thể khác nhau, mức độ phức tạp và tính hiệu quả của nó. Tuy nhiên, một trong những giải pháp dễ quyết định nhất, phổ biến nhất và mau có kết quả nhất hiện nay ở Việt Nam là giải pháp ‘cấm’, bất kể kết quả của nó là tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực.

Có lẽ các bạn ngạc nhiên và hơi bị sốc nhưng hãy đọc lại những tin tức gần đây và ngẫm nghĩ thì sẽ thấy quả thật có như thế. Vấn đề này không chỉ xảy ra ở bên ngoài xã hội mà ngay trong Phật giáo cũng đang được áp dụng.

Gần đây Giáo hội Phật giáo hai tỉnh miền trung thuộc loại nghèo nhất nước và một số tỉnh miền Bắc có bước ‘đột phá’ cấm không cho tăng ni ngoại tỉnh vào sinh hoạt, đặc biệt không cấp phép trụ trì nếu được Phật tử thỉnh mời. Mặc dù chưa có văn bản chính thức nào ban hành vì nó trái với hiến pháp và hiến chương nhưng lại có hiệu lực trong thực tế. Câu hỏi đặt ra là liệu quyết định ‘cấm tăng ni ngoại tỉnh’ có là giải pháp hay để ổn định giáo hội và truyền bá chánh pháp nhằm bảo vệ Phật giáo trước sự cạnh tranh của các giáo phái hay chỉ là cách làm mang tính địa phương, cục bộ. Phật giáo sẽ như thế nào nếu tất cả các tỉnh thành, nhất là Sài Gòn và Hà Nội ra quyết định tương tự. Đây là câu hỏi dành cho các nhà chức sắc?!

Như chúng ta đã biết, những đề nghị cấm như (xin trích dẫn lại): “Dưới 40 kg không được đi xe máy trên 50 phân khối”[1], “‘Cấm’ xe máy ở nội đô: Đi bằng gì?”[2], “Ô tô biển chẵn không được vào nội thành ngày lẻ?”[3]…. Đây là những đề nghị cấm nếu thực hiện thì có kết quả tức thời nhưng hậu quả như thế nào thì không ai xác định. Do đó, nó gặp sự phản ứng gay gắt từ công chúng và kết quả là không thực hiện được. Đây là sản phẩm của những tư duy thiếu thực tế, xa rời hoàn cảnh xã hội cụ thể.

Trở lại vấn đề của Phật giáo, khi cấm không cho tăng ni ngoại tỉnh vào sinh hoạt thì sẽ có cái lợi là hạn chế sự cạnh tranh từ tăng ni ngoại tỉnh, chùa chiền có thể để dành cho đệ tử sau này, công tác Phật sự cứ như cũ mà theo, không vất vả vì bất đồng văn hóa vùng miền, không mệt nhọc xử lí những bất cập do dân ngoại tỉnh gây ra nếu có. Nhìn chung là sinh hoạt Phật giáo bình lặng, yên ả, không có sự xáo trộn hay thay đổi đột biến nào.

Tuy nhiên, mặc trái của nó là Phật giáo bị ru ngủ vì không có sự cạnh tranh thích nghi, sự phát triển tín đồ không được quan tâm đến thay vào đó là lợi ích cục bộ. Vô hình trung, các vị ấy đang tự cô lập chính mình.

Trong khi đưa ra chính sách quản lý, nhà nước đã dùng nhiều giải pháp như hộ khẩu, thu nhập, nhà ở…để nhằm hạn chế dân miền quê lên thành phố lớn và chính những chính sách ấy đã phân chia công dân Việt Nam thành nhiều hạng. Những chính sách ấy không làm giảm tình hình quá tải mà ngược lại còn làm phức tạp thêm và chính các công dân hạng thấp chịu thiệt thòi ngay trên đất nước của mình.

Giờ đây, thử hình dung nếu Sai Gòn và Hà Nội cũng ra quyết định cấm tăng ni ngoại tỉnh vào thì hậu quả sẽ ra sao. Thực tế, tăng ni ở các thành phố lớn quá đông nhưng Giáo hội cũng đâu có ban hành lệnh cấm nhập cư vì trái luật. Hơn nữa, chính tăng ni xuất thân từ các tỉnh bị cấm vào các thành phố lớn sinh hoạt và họ cũng có đóng góp rất nhiều cho quê nhà của họ.

Liệu rằng chúng ta có thể bế quan tỏa cảng hay chỉ chọn cái dễ cho mình mà không nghĩ đến đại cuộc.

Hoằng pháp bắt nguồn từ nhân sự. Trong khi ta chưa chứng minh được nhân sự của tỉnh nhà là đủ số lượng, là có năng lực để phát huy Phật giáo thì giải pháp cấm cần nên xem lại. Thay vì cấm thì ta nên xây dựng hệ thống quản lý theo tiêu chí khả dĩ cụ thể nào đó và mời hay ủng hộ những ai phù hợp với tiêu chí ấy để cùng sinh hoạt. Như thế về tình về lý đều trọn vẹn, vừa hạn chế tiêu cực mà cũng phát triển Phật giáo tỉnh nhà. Kính mong!

Hư Thật Mộng




[1] http://vnexpress.net/gl/doi-song/2008/10/3ba076da/

[2] http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/43177/-cam--xe-may-o-noi-do--di-bang-gi-.html

[3] http://bee.net.vn/channel/1987/201104/TPHCM-o-to-bien-chan-khong-duoc-vao-noi-thanh-ngay-le-1795336/

Wednesday, January 11, 2012

Tâm Thư Thiền sư Thích Nhất Hạnh gửi Phụ huynh con em Phật tử

Kính gửi phụ huynh các đoàn sinh Gia Ðình Phật Tử
Kính thưa quý vị
Gia Ðình Phật Tử là một tổ chức nuôi dưỡng và giáo dục thanh thiếu niên theo tinh thần và đường hướng Phật Giáo. Các huynh trưởng của GÐPT đã được huấn luyện và đào tạo để hướng dẫn các đoàn sinh sống theo nếp sống hiếu thuận, từ hòa, hiểu biết và thương yêu của truyền thống đạo Phật.
Học đường và xã hội ngày nay có quá nhiều chất liệu cám dỗ, bạo động, căm thù, nghi kỵ và thèm khát. Các bậc phụ huynh vì lo sợ con em bị nhiễm độc bởi những chất liệu ấy đã thao thức muốn con em mình được nương tựa vào một nếp sống tâm linh để được bảo vệ và nuôi dưỡng bằng những chất liệu lành mạnh của nền đạo lý dân tộc, nên đã muốn gửi con em vào GÐPT. Các huynh trưởng của GÐPT tuy đạo hạnh và tài năng chưa hoàn hảo nhưng ai cũng đang được huấn luyện và tu học liên tục để càng ngày càng có khả năng bảo vệ trị liệu và nuôi dưỡng đoàn sinh của mình. Huynh trưởng GÐPT cố tâm thực tập cho bản thân và cho gia đình mình, bồi đắp chất liệu hòa thuận, tin yêu và hạnh phúc trong gia đình mình trong khi dạy dỗ và hướng dẫn các em tại đoàn quán để rồi các em cũng học được những phương thức ấy mà làm tăng tiến chất liệu hòa thuận, tin yêu và hạnh phúc trong gia đình các em.
Quý vị Phụ huynh nào đã gửi con em cho tổ chức GÐPT thì xin yễm trợ cho đoàn và cho con em mình trong việc áp dụng những phép thực tập ấy trong gia đình mình. Nếu phụ huynh thực tập năm giới vững vàng, cố gắng dành thì giờ để tham dự vào những buổi sinh hoạt tụng giới và những ngày quán niệm do GÐPT tổ chức và cộng tác với các em trong việc tổ chức tu học tại nhà, thì đó là một yểm trợ rất lớn cho GÐPT, và có thế thì các huynh trưởng của GÐPT mới làm tròn được bổn phận nuôi dưỡng và bảo vệ các em trong môi trường rất xấu của xã hội hiện tại.
Các huynh trưởng của GÐPT mong mỏi quý vị phụ huynh cùng đi với các em trên con đường tu học, bởi vì nếu không có quý vị tán đồng và yểm trợ thì chúng tôi không thể làm tròn được sứ mạng mà quý vị giao phó.
Mỗi đoàn sinh có thể có những khổ đau và khó khăn tại học đường, trong gia đình và ngoài xã hội. Chúng tôi mong được cộng tác với quý phụ huynh để nhận diện được những khổ đau và khó khăn ấy của các em mà tìm ra những biện pháp hữu hiệu để giúp đỡ và gỡ rối cho các em.
GÐPT rất cần đến sự lưu tâm và yểm trợ của liệt vị.
Thích Nhất Hạnh