Thursday, September 13, 2012

Đời Ôn – Đời bậc chân tu


Một bậc chân tu, bậc tài đức vẹn toàn, bậc có ảnh hưởng rất lớn cho nền Phật giáo Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 vừa ra đi trong niềm tôn kính của tứ chúng Phật tử Việt Nam. Cuộc đời Ôn sẽ không thể nào dùng lời để diễn tả cho hết ý nghĩa bởi nó vượt qua ngôn ngữ trần gian hạn hẹp. Ý thức như vậy, người học trò vô danh chỉ xin kính cẩn ghi lại những dòng cảm niệm về cuộc đời của Ôn – đời của một bậc chân tu. Ở đây, con xin được dùng từ ‘Ôn’ mộc mạc và thân thương để gọi cho Người.
Bạch Ôn! Năm xưa đức Thế Tôn từ bỏ ngai vàng để tìm đường giải thoát và sau khi giác ngộ Thế Tôn đã dấn thân không mệt mỏi để độ sanh cho đến hơi thở cuối cùng. Mặc dù Phật tạo dựng nên một sự nghiệp đồ sộ có thể nói bậc nhất trên hành tinh này nhưng khi ra đi thì rất an nhiên tự tại và sắp xếp một thứ rất chu toàn. Khoảng 26 thế kỷ sau, một ngôi sao sáng của nền Phật giáo Việt Nam xuất hiện và cuộc đời của Ôn đã theo đúng con đường Thế Tôn đã dạy.
Đời Ôn là cuộc đời của học tập – hành trì – dấn thân phụng sự. Trong khi ngoài xã hội bao nhiêu người còn chạy đua theo danh lợi vật chất thì Ôn dành cả quãng thời gian dài cho nghiên cứu, giáo dục, dịch thuật và Phật sự được giao. Thầm lặng làm việc không mệt mỏi suốt nhiều năm ròng, Ôn đã cống hiến cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam một kho tàng kinh điển tiếng Việt chưa từng có trước đó và nhiều tác phẩm giá trị khác. Ôn cũng đã tào tạo nhiều lớp học trò mà trong số họ có rất nhiều vị thành danh và có đóng góp nhiều cho xã hội. Dẫu vậy, Ôn nào có ý kể công hay mong đền đáp.
Có lẽ không ngoa khi nói rằng Ôn là một trong số rất ít ngôi sao sáng có đóng góp nhiều cho nền giáo dục Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn hiện đại. Ngày nay, sự thành danh của người xuất gia thường được đánh giá thiên kiến qua việc sở hữu chùa to Phật lớn, chức vụ quan trọng. Có rất nhiều người đạt được điều đó nhưng số người vượt qua nó là rất hiếm. Ôn là một trong số rất ít người có tất cả nhưng vượt qua tất cả. Chùa to, chức cao, đệ tử nhiều nhưng nó đâu làm Ôn vướng bận. Sự tu tập và phụng sự chúng sanh suốt cuộc đời của Ôn là minh chứng thuyết phục cho nhận định ấy.
Từ tấm gương sáng của đời Ôn, con suy ngẫm và rút ra nhiều bài học bổ ích. Con thầm ước gì người xuất gia ngày nay cũng chân tu như Ôn thì Phật giáo Việt Nam sẽ được diễm phúc dường nào! Sự thị phi, tranh giành trong chốn thiền môn sẽ nhường lại cho tình thương pháp lữ trên căn bản lục hòa. Nụ cười hạnh phúc sẽ hiện khắp chốn già lam như nụ cười từng hiển hiện trên gương mặt của Ôn ngày nào. Đời Ôn đến đi tự tại. Đến là mang lại niềm vui, đi là để lại niềm kính nhớ!

Vương đạo và bá đạo

Vương đạo:
Vương đạo là con đường chơn chánh của bậc Thánh Vương thời cổ, dùng đức và nghĩa mà hóa dân trị nước.
Vương đạo chỉ chuộng Nhơn nghĩa, không dùng quyền uy võ lực hay mưu mô xảo trá mà bức hiếp người để đạt mục đích.
"Đem cả nước mà hô hào làm việc lễ nghĩa và không làm gì hại đến lễ nghĩa. Làm một điều bất nghĩa, giết một người không có tội, mà được cả thiên hạ thì kẻ nhân giả không làm. Cứ giữ vững lòng mình mà giữ nước. Được như thế thì thật là vững chắc lắm vậy.
Những người cùng với mình làm việc ấy đều là nghĩa sĩ. Những hình pháp đem bày ra cho quốc gia đều là pháp nghĩa. Những điều mà nhân chủ đã thật tin và đem quần thần qui hướng cả về đó đều là cái ý chú vào việc nghĩa.
Như thế, kẻ dưới lấy nghĩa mà trông cậy người trên, ấy là cơ bản định vậy. Cơ bản đã định thì nước định, nước định thì thiên hạ định….
Không bởi cớ gì khác, chỉ bởi cái cớ cố làm cho nên việc nghĩa. Ấy là việc nghĩa lập mà làm Vương vậy.
Người muốn làm Vương cả thiên hạ thì phải: Phát cái chánh trị ra, thi hành những điều nhân, khiến kẻ ra làm quan ở trong thiên hạ ai cũng muốn đứng ở triều nhà vua, kẻ cày ruộng ai cũng muốn cày ở đất của nhà vua, kẻ buôn bán ai cũng muốn đến ở trong chợ của nhà vua, người đi đường ai cũng muốn đi đường của nhà vua. Được như thế, ai chống lại mình được nữa."


Bá đạo:
"Đức tuy chưa đến cùng cực, nghĩa tuy chưa nên hẳn, song cái lý của thiên hạ cũng được có tiết tấu. Hình pháp thưởng phạt làm tin cho thiên hạ, kẻ bề tôi ở dưới đều hiểu rõ mà biết những điều yếu ước. Cái chính lệnh đã bày ra thì dẫu thấy rõ điều lợi của mình hỏng, nhưng cũng không lừa dối dân, đã kết ước với nước nào thì dẫu thấy rõ điều lợi của mình hỏng, nhưng cũng không lừa dối người.
Như thế thì binh mạnh, thành bền, nước địch sợ mình, cả nước một nền, dân với nước đều tin. Tuy ở nơi hẻo lánh, cũng có uy với thiên hạ. Song không phải là hết lòng sửa cái gốc ở sự chính và sự giáo, không phải là lấy văn lý làm căn bản, không phải là làm cho lòng người ta phục.
Làm điều gì thì xu hướng về phương lược, xét việc gì thì dùng thuật dĩ dật đãi lao, nghiêm cẩn sự súc tích, sửa sang việc chiến bị, trên dưới một lòng tin nhau, thiên hạ không ai dám đương đầu với mình. Ấy thế gọi là Tín lập mà làm Bá vậy."
Con đường Bá đạo thì chuộng quyền lực uy vũ, mưu kế tài tình để đạt mục đích làm Bá chủ thiên hạ, thống trị và áp bức chư Hầu.
Vương đạo thì bền vững lâu dài, Bá đạo chỉ tồn tại khi quyền lực còn. Vương nghiệp thì thống nhứt cả nước, Bá nghiệp thì làm lãnh tụ chư Hầu.
Trong truyện Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang thi hành Vương đạo, còn Hạng Võ thi hành Bá đạo. Do đó, Lưu Bang đoạt được thiên hạ, thống nhứt nước Tàu; Hạng Võ thì chỉ làm Sở Bá Vương một thời gian rồi phải chịu thảm bại tiêu diệt.
Nhà Nho nào cũng muốn thực hành Vương đạo, nhưng nếu không thực hành nổi Vương đạo thì vạn bất đắc dĩ mới phải dùng Bá đạo. Sử chép, Vệ Ưởng đến yết kiến Hiếu Công, thuyết về Vương đạo. Hiếu Công không nghe, nên Vệ Ưởng phải thuyết về Bá đạo. Thế là Hiếu Công chịu nghe. Khi về nhà, Vệ Ưởng phàn nàn rằng: đức của nhà vua khó mà sánh với đời Ân, đời Chu được.
Những bậc Thánh nhân như Đức Khổng Tử, Mạnh Tử, suốt đời đi chu du liệt quốc, khát khao tìm một ông vua biết thi hành cái đạo của mình, mà hễ gặp vua nào không có cái chí theo Vương đạo thì liền bỏ đi, chớ không chịu nói về Bá đạo.
(Sưu tầm)

Sunday, September 9, 2012

14 Điều Hay ở đời


1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là vọng tưởng (chính mình).
2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là chấp ngã (dối trá)
3. Thất bại lớn nhất của đời người là người tđại
4. Bi ai ln nhất của đời người là ganh t
5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất chính mình   
6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là phạm ngũ nghịch tội (bất hiếu)
7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty
8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên sau khi ngã
9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng
10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khỏe, trí tu
11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm
12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung
13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết
14. Hạnh phúc (an ủi) lớn nhất của đời người là bố thí     
Bản văn này tìm thấy ở chùa Thiếu Lâm, Trung Quốc. HT Kim Cương Tử sưu tầm và phổ biến ở Việt Nam.
Sưu tầm và điều chỉnh

DẠI KHÔN



Làm người có dại mới nên khôn
Chớ dại ngu si , chớ quá khôn
Khôn được ích mình , đừng rẽ dại
Dại thì giữ phận , chớ tranh khôn
Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn
Chớ cậy rằng khôn , khinh kẻ dại
Gặp thời , dại cũng hóa nên khôn .
Nguyễn Bỉnh Khiêm
DẠI KHÔN
Thế sự đua nhau nói dại khôn
Biết ai là dại , biết ai khôn  ?
Khôn nghề cờ bạc là khôn dại
Dại chốn văn chương ấy dại khôn
Này kẻ nên khôn đều có dại
Làm người có dại mới nên khôn
Cái khôn ai cũng khôn là thế
Mới biết trần gian kẻ dại khôn  .
Trần Tế Xương (Tú Xương)

Wednesday, June 27, 2012

Trang nghiêm một buổi “Quá Đường Trai Tăng”?!


Có một câu chuyện mà khi nghe, chắc chắn, ai cũng phải suy nghĩ. Câu chuyện ấy được một người bạn của tôi chứng kiến và kể lại.
Cách đâu không lâu, sau khi Đại Lễ Vesak 2012 kết thúc thành công tốt đẹp, chính phủ Thái Lan cung thỉnh chư tăng đại diện các tông phái ở Thái Lan và chư tăng một số nước, trong đó có chư tăng Việt Nam đến tòa nhà chính phủ tham dự buổi lễ cúng dường trai tăng. Buổi lễ có ý nghĩa như là sự cảm tạ chân thành của chính phủ Thái đối với các phái đoàn đã tham gia và đóng góp tạo nên sự thành công Lễ Vesak. Sau khi phần hành chánh xong, chư Tăng được cung thỉnh thọ trai (ăn cơm). Có thể nói, giờ thọ trai của chư Tăng ở Thái Lan là một trong những phần quan trọng bậc nhất trong các sinh hoạt của chư Tăng Thái. Nó quan trọng đến nỗi nhiều người ví von rằng: “làm bất cứ việc gì có thể sớm hay trễ chứ thời thọ trai thì luôn luôn đúng giờ.” Sự quan trọng sẽ trình bày ở phần sau.
Nội dung của câu chuyện xảy ra khi thời thọ trai bắt đầu không lâu. Trong khi chư Tăng đang chăm chú thọ thực thì có một vị thầy Việt Nam rời khỏi bàn ăn đi chụp hình và làm công việc riêng. Thấy vậy, một vị thượng tọa thuộc tông Annam (tông Việt ở Thái) mới nói với bạn tôi là sao lại có những vị tu sĩ giống cư sĩ vậy; không có nề nếp, quy cũ gì cả. Vị ấy hỏi tiếp bạn tôi có biết nguyên nhân của tình trạng ấy là gì không? Bạn tôi đang suy nghĩ thì vị thượng tọa nói rằng: “do giờ giấc ăn uống quá dễ dãi.” Có thể là vị Tăng kia là phóng viên chăng?! Tuy nhiên, lời nói của vị thượng tọa làm cho bạn tôi áy náy, suy ngẫm và khi tôi nghe lại cũng cảm thấy có gì chưa ổn cho vấn đề này không chỉ ở bên ngoài mà cụ thể đang diễn ra hằng ngày ở Việt Nam.
Có lẽ, tôi nói một chút về truyền thống thọ trai trong Phật giáo. Ngày xưa, khi còn tại thế, đức Phật và các đệ tử thực hành pháp khất thực và ngày chỉ ăn một bữa.[1] Vì thế, bữa ăn trưa vô cùng quan trọng. Truyền thống này tiếp tục được hành trì ở các nước theo Phật giáo Nam truyền (Theravada) dù một số nơi được ăn thêm buổi sáng. Do chỉ được ăn trước giờ ngọ nên chư Tăng phải chú tâm ăn cho no; nếu không họ sẽ đói cả đêm và điều đó sẽ ảnh hưởng đến sự tu tập của họ.
Ngược lại, Phật giáo Bắc truyền (Mahayana) không theo truyền thống ấy nên được phép ăn chiều nhưng với điều kiện là phải ăn chay trường và xem thức ăn như là thuốc hay (lương dược). Vì được ăn sau giờ ngọ nên giờ giấc ăn uống đối với chư Tăng Ni có vẻ dễ dãi và nhiều vị Tăng Ni tỏ ra không bận tâm giờ ăn nếu họ có tài chánh dồi dào. Khi họ đói, họ có thể tự phục vụ mặc dù mất thời gian và tiền bạc.
Tuy vậy, có rất nhiều tu viện, chùa…quy định giờ giấc sinh hoạt rất nghiêm túc. Giờ ăn uống, sinh hoạt chúng, đi học, tụng kinh, bái sám rất nề nếp. Đó là sinh hoạt hằng ngày nơi các tự viện. Một điều chúng tôi trăn trở và từ câu chuyện trên khiến chúng tôi viết bài này là sự trang nghiêm trong một buổi quá đường trai tăng ở Việt Nam.
Như quý vị biết, cúng dường trai tăng là một hình thức gieo duyên, tạo phước phổ biến thời đức Phật cho đến ngày nay, nhất là vào mỗi dịp Vu Lan ở các nước Bắc truyền. Chỉ có một sự khác biệt giữa trai tăng thời đức Phật và trai tăng thời bây giờ. Đó là trai tăng thời xưa giống trai phạn ngày nay, và trai tăng ngày nay phải có tịnh tài và phẩm vật. Chính sự khác biệt này tạo ra sự mất trang nghiêm trong hầu hết các buổi quá đường trai tăng.
Thời nào cũng vậy, bên cạnh những người nghiêm túc đều có những người lộn xộn hay nghịch ngợm, ngay cả trong tăng đoàn thời đức Phật. Nhóm Lục sư[2] là điển hình. Theo Luật Tạng Nam truyền, ở chương Phận Sự thuộc Tiểu Phẩm, nhân trường hợp Lục sư gây lộn xộn chỗ ăn nên đức Thế Tôn khiển trách họ và quy định phận sự ở chỗ thọ thực cho các tỳ kheo. Trong những lời chỉ dạy chi tiết có những câu sau: “…Vị trưởng lão không nên thọ thực khi tất cả chưa được đầy đủ cơm. Nên thọ dụng vật thực một cách nghiêm trang. Nên thọ dụng vật thực với sự chú tâm ở bình bát. Nên thọ dụng vật thực theo tuần tự…. Vị trưởng lão không nên thọ lãnh nước khi tất cả còn chưa thọ thực xong…Khi đi trở về, các tỳ kheo mới tu nên đi về trước tiên, sau đó là các vị trưởng lão…”[3]
Quy định trên hướng dẫn một tỳ kheo, đặc biệt là các vị trưởng lão, phải nghiêm trang trong khi thọ thực và phải đợi tất cả đại chúng cùng ăn cho đến khi mãn bữa ăn. Các vị trưởng lão phải nhường cho các vị mới tu đi ra trước, sau đó mới đi. Hay ít nhất, các vị trưởng lão không được bỏ đi trước trong khi đại chúng còn ăn.
Trong truyền thống Đại thừa, ở đoạn mở đầu, kinh Kim Cang miêu tả sinh hoạt của đức Phật: “… Đức Phật ở nước Xá Vệ…. Lúc đó, gần đến giờ đến ăn, đức Thế Tôn đắp y, cầm bát, vào thành lớn Xá Vệ mà khất thực. …khất thực xong trở về tịnh xá, dùng cơm, rồi cất y bát, sau khi rửa chân xong, đức Phật trải tọa mà ngồi….”[4] Nội dung của đoạn kinh cũng cho thấy việc thọ trai là quan trọng và phải ăn đàng hoàng, ăn cho xong, cho no rồi mới thu dọn rửa cất và làm việc tiếp theo.
Về vấn đề trai tăng, thời đức Phật cũng có nhiều vị Bà la môn, vua chúa, hay hàng quý tộc giàu có …thỉnh đức Phật và Tăng chúng thọ trai tại nhà của họ. Theo thông lệ, khi đã nhận thọ thực của một vị thí chủ thì Phật không nhận lời thỉnh của vị khác mà hứa khả cho ngày hôm sau như trường hợp của kỹ nữ Ambapali và các thanh niên Licchavi (Kinh trường Bộ, số 16).
Bạch Thế Tôn! Ngày xưa, một ngày Thế Tôn chỉ nhận thọ thực của một thí chủ cúng dường và sau khi ăn xong thường thuyết pháp và hồi hướng phước báo cho họ, thì bây giờ đệ tử của Thế Tôn, một ngày nhất là mùa Vu Lan, có thể nhận chứng trai nhiều chỗ và tranh thủ kiết trai trước để tiếp tục “chạy xô” nhiều chỗ. Chữ chứng trai không biết vô tình hay cố ý mà có ý nghĩa lạ kỳ, chỉ có chứng thôi mà.
Nếu mà Thế Tôn còn tại thế thì giờ này chắc Thế Tôn vất vả lắm chỉ vì chứng trai thôi. Bạch Thế Tôn! Các chùa, các đại gia ngày nay rất chuộng danh hiệu và chức tước lắm. Các vị làm ở trung ương, ở ban trị sự thành hội hay tỉnh thì rất khó thỉnh vì chư vị ấy bận lắm. Biết chư vị ấy bận mà sao họ cứ đòi thỉnh cho được và tất nhiên là phải “nặng ký” và được nói trước là tới chứng dự thôi, lâu mau tùy duyên. Thế mà sao không biết bao nhiêu người xếp hàng chờ thỉnh, gởi thiệp đặt trước và nhiều khi còn buồn nữa vì thỉnh không được. Sao mà chức tước ngày này lại có giá trị quá, cao hơn tất cả những vị cao tăng ẩn tu không có chức tước nào.
Vì chúng sanh có nhu cầu nên chư vị chứng trai mới đi và việc chứng trai cũng cực khổ lắm chứ có sướng ích gì đâu. Chứng chỗ này mà không chứng chỗ khác thì chúng sanh buồn. Để làm hài lòng chúng sanh thì chư vị phải tranh thủ mà chạy chứ có kịp ăn uống gì đâu, nhiều lúc thở không ra hơi nữa! Có ai hiểu nỗi khổ này đâu!
Thảo nào, nhìn vào hầu hết các trai đường thời quá đường trai tăng, sau khi tác bạch và cúng dường phẩm vật xong là tự nhiên thấy trống vắng dần. Tình cảnh này thấy sao giống những điều tổ Quy Sơn dạy trong cảnh sách quá. Nhìn qua nước bạn, họ cũng có trai tăng, cũng cúng dường tài vật nhưng việc cúng dường chỉ được thực hiện khi chư Tăng ăn cơm xong. Do đó, chư vị trưởng lão đỡ vất vả chạy nhiều nơi mà không ăn được gì như ở Việt Nam.
Con thấy thương cho chư vị trưởng thượng quá và mong rằng tình trạng trên sớm cải thiện nhưng sao đường trước còn mờ mịt quá. Bao nhiêu hội thảo con đâu thấy ai bàn việc này đâu. Hay là nó đã trở thành văn hóa Phật giáo Việt Nam rồi không biết nữa!
Con chỉ hy vọng là các chùa, các đại gia có thỉnh chư vị chức sắc đến thọ trai thì nên thưa trước chương trình, giờ giấc rõ ràng để họ sắp xếp mà chứng dự cho trang nghiêm một chút. Đừng gây khó khăn, khó xử cho chư tôn đức lãnh đạo chỉ vì chuyện chứng trai. Tội cho quý Ngài lắm! Và quan trọng hơn là tội cho Phật giáo Việt Nam đã trải qua trên dưới hai ngàn năm lịch sử!







[1] Ở Ấn Độ ngày nay, 10 giờ sáng trở đi người ta mới mở cửa tiệm để buôn bán. Theo suy luận cá nhân, có lẽ vì thế mà buổi sáng khi khất thực xong thì đã gần trưa và thọ thực xong thì đã hết nửa ngày rồi. Do đó, ngày chỉ ăn một bữa vì qua giờ ngọ không được phép ăn nữa.
[2] Tức lục quần tỳ kheo gồm: Nan Đồ, Bạt Nan Đà, Ca Lưu Đà Di, Xiển Na, Mã Tú và Mãn Túc. (theo http://www.niemphat.net/Luan/sosaodiennghia/didasosao38.htm)
[3] http://buddhanet.net/budsas/uni/u-luat-tieupham/tp-08.htm
[4] http://www.niemphat.com/kinhdien/kinhkimcang/kinhkimcang.html

Tuesday, June 5, 2012

Sao lại là “Đơn xin An cư kiết hạ”?


Theo truyền thống Bắc tông, ngày 16/4/ âm lịch các tự viện thuộc hệ phái này đều kiết giới tiền An cư bắt đầu cho mùa An cư kiết hạ trong suốt ba tháng. An cư kiết hạ trở thành truyền thống không thể thiếu trong Phật giáo, là điều luật quy định bắt buộc về bổn phận và trách nhiệm của mỗi thành viên trong tăng đoàn Phật giáo. Do đó, mỗi năm hàng Tăng Ni phải đăng ký An cư tập trung hay An cư tại chỗ tùy theo hoàn cảnh ở các trú xứ. Tuy nhiên, một điều người viết và các bạn đồng tu cảm thấy hơi lạ là Đơn xin An cư kiết hạ. Hy vọng rằng điều này sẽ không còn lạ nữa.

Theo thông bạch tổ chức An cư kiết hạ PL 2556, mở đầu thông bạch ghi: “Căn cứ Tỳ Ni Luật tạng Đức Phật chế và truyền thống An cư Kiết hạ, Tăng Ni hằng năm phải An cư ba tháng (hoặc tiền An cư hay hậu An cư) để thúc liễm thân tâm, trau dồi Giới - Định - Huệ, giữ gìn quy củ tòng lâm, trang nghiêm Giáo hội, lợi lạc tự thân”. Lời mở đầu của thông bạch đã nêu rõ tầm quan trọng của việc An cư kiết hạ và xem đó là bổn phận bắt buộc của mỗi Tăng Ni. Mục đích của An cư kiết hạ cũng được thông bạch nêu rõ là ‘nhằm thúc liễm thân tâm, giữ gìn quy củ tòng lâm…lợi lạc tự thân’. Điều đó có nghĩa là Tăng Ni phải có bổn phận An cư trong ba tháng theo quy định trong Luật tạng.
Vấn đề đặt ra là Luật tạng và thông bạch đã xác định việc An cư kiết hạ là bổn phận của mỗi Tăng Ni, là pháp hành hàng xuất gia phải tuân giữ; nghĩa là An cư kiết an là pháp mỗi Tăng Ni phải hành trì và nếu không hành trì thì chưa thật sự là người xuất gia theo truyền thống Phật giáo. Thế nhưng, Giáo hội lại đưa ra mẫu đơn gọi là “Đơn xin An cư kiết hạ”. Nếu An cư kiết hạ là bổn phận, là pháp hành mỗi Tăng Ni phải tuân giữ theo Luật định thì việc An cư kiết hạ là điều hiển nhiên được chấp nhận trong Phật giáo. Chúng ta hiểu như thế nào về “đơn xin An cư kiết hạ”. Phải chăng thực hiện bổn phận của người xuất gia tức An cư kiết hạ cũng phải xin phép?! Nếu như đơn xin xuất gia, đơn xin thọ giới là chính đáng vì cần có sự xin – cho thì đơn xin An cư kiết hạ có điều gì đó chưa ổn. Lẽ nào tu tập, thực hành bổn phận người xuất gia cũng phải xin – cho nữa sao?!
Trong thông bạch hướng dẫn có đề cập Đơn đăng ký. Có lẽ đơn này khả dĩ vì hành giả xuất gia phải đăng ký địa điểm hoặc đơn vị An cư tập trung hoặc đơn vị An cư tại chỗ để Giáo hội quản lý và trợ duyên cũng như để chính quyền hỗ trợ vấn đề an ninh. Như vậy, hành giả An cư, Giáo hội và chính quyền đều bình đẳng theo chức năng và nhiệm vụ trong việc thực hành giáo Luật và pháp luật. Vấn đề xin – cho là cần thiết nhưng nếu áp dụng không đúng chỗ sẽ tạo ra nghịch lý mà trường hợp trên là một ví dụ. Mong rằng chư vị tôn đức hữu trách và chư vị cao minh xem xét và chỉ giáo thêm.