Sunday, March 17, 2013

PHÁP ẤN PHẢI CÓ NIẾT BÀN

Điều thứ hai đại chúng được học là trong ba Pháp ấn của đạo Bụt phải có Pháp ấn Niết bàn. Nhiều vị kinh sư của Thượng tọa bộ đã bị ám ảnh bởi ý niệm về khổ cho nên đã thay thế Pháp ấn Niết bàn bằng Pháp ấn Khổ. Kinh Chiên Đà (Channa), kinh 262 của bộ Tạp A Hàm, còn giữ lại được nguyên vẹn công thức của ba Pháp ấn: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh (anityāh sarvasamskārāh, nirātmānah sarvadharmāh, santam nirvānam). Công thức này được lặp lại tới năm lần trong kinh này. Kinh Channa của tạng Pāli cũng nói tới chuyện thầy Channa đi cầu Pháp, nhưng đã bỏ mất Pháp ấn thứ ba là Niết bàn, tuy nhiên không dám thêm vào pháp ấn Khổ, sợ nói nếu tất cả các pháp đều là Khổ thì như thế là vơ đũa cả nắm, cho các pháp Tứ diệu đế, Bát chánh đạo v.v... của Bụt cũng là Khổ. Đó là lời giải thích về sau của các tổ Thượng tọa bộ.
Tam Pháp ấn là ba dấu ấn rất quan trọng trong Phật pháp. Thiếu Pháp ấn thứ ba là Niết bàn thì giáo lý không thể đích thực là giáo lý của Bụt.
Trên bình diện Tích môn ta thấy có sinh diệt, không, có người tạo nghiệp người thọ báo, có pháp hữu vi pháp vô vi, nhưng trên bình diện Bản môn thì ta phải thấy được tự tính của các pháp là không sinh không diệt, không có, không không, không tác giả không thọ giả, không hữu vi cũng không vô vi. Đó là lời Bụt dạy trong các kinh Ưu Đà Na và Như Thị Ngữ: có cái vô sinh, vô hữu, vô tác và vô hành. Thật tướng của các pháp là vô thường và vô ngã nhưng thật tướng của các pháp cũng là Niết bàn, do đó Niết bàn có thể tìm thấy trong sinh tử chứ không phải ngoài sinh tử. Truyền thống Bắc tông còn giữ lại được ba pháp ấn nguyên vẹn, và chính bộ Đại Trí Độ Luận của thầy Long Thọ cũng xác nhận ba pháp ấn là vô thường, vô ngã và Niết bàn. Chính công phu quán chiếu về Vô thường và Vô ngã đưa tới sự tiếp cận Niết bàn tức là thể tính bất sinh bất diệt của vạn pháp.
Vô thường không làm ra khổ
Tứ diệu đế bắt đầu bằng xác nhận sự có mặt của khổ đau, nhưng không phải Tứ diệu đế chỉ nói về khổ đau. Sự thực (đế) thứ ba là Diệt, có nghĩa là sự vắng mặt của khổ đau (nirodha) cũng có nghĩa là sự có mặt của sự lắng dịu và của hạnh phúc, kể cả hạnh phúc của Niết bàn. Nhưng cái ám ảnh về Khổ đã làm khuất lấp sự thực ấy, cho đến nỗi người ta có khuynh hướng cho tất cả là Khổ, quên mất trong cái tất cả ấy có Bụt, có Pháp, có Tăng, có con đường đi về Niết bàn an lạc. Những cái ấy đâu phải là khổ cho nên nói tất cả là vô thường vô ngã thì đúng mà nói tất cả là Khổ là không đúng. Cái ám ảnh này do thái độ giáo điều cố chấp mà có. Nó đi cả vào trong kinh văn và trong phép hành trì. “Đạo nhân thanh cố khởi” nghĩa là nếu thành đạo được cũng do mình lặp đi lặp lại cái công thức “idam dukkhan ti”, “cái này là khổ, cái này là khổ.” Phải than khổ như thế nhiều lần trong ngày thì mới mong thấy được con đường Bát chánh đạo. Vì vậy khổ là thức ăn nuôi Bát chánh đạo (dukkhāhāro maggangam maggapariyantanti).
Đoạn kinh sau đây, được lặp lại cả mấy trăm lần trong các bộ Nikaya và A hàm, là một chứng tích của cái ám ảnh đó được đưa vào trong kinh tạng, chỉ một vài trăm năm sau khi Bụt nhập diệt:
- Này các thầy Khất sĩ! Các thầy nghĩ sao? Sắc là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Thọ, tưởng, hành và thức là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Vậy thì những gì vô thường là khổ hay là lạc?
- Bạch đức Thế Tôn, khổ.
- Vậy thì những gì vô thường, khổ, luôn luôn biến dịch ấy, mình có thể nói rằng: cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là cái ngã của tôi không?
- Bạch đức Thế Tôn, không.
(Tương Ưng Bộ, 22.59)
Theo tinh thần của đoạn kinh văn này, vô thường là nguyên do của khổ đau. Sự thực không phải như vậy. Vô thường có thể là nguyên do của giải thoát, của an lạc, của hạnh phúc. Thử hỏi: nếu không có vô thường thì hạt bắp làm sao trở thành được cây bắp cho ta có trái ăn? Nếu không vô thường thì một người có bệnh không bao giờ được chữa lành, một chế độ độc tài không bao giờ được trở nên dân chủ, một phiền não không bao giờ được chuyển hóa để trở thành một bồ đề.
Nguyên do của cái khổ không phải là vô thường mà là cái tri giác sai lầm của ta về sự vật: sự vật vô thường mà ta cứ cho chúng là thường cho nên ta khổ. Uẩn, xứ và giới là vô thường và vô ngã, nhưng vì chúng ta cho chúng là thường, vì chúng ta vướng mắc vào chúng cho nên chúng ta khổ. Nói vô thường là nguyên do của khổ đau là vu oan cho Bụt. Vô thường là một cái thấy giúp ta tiếp cận được với vô ngã, với duyên sinh và sau đó với Niết bàn. Vô thường rất mầu nhiệm. Đó là một ngón tay chỉ cho ta thấy mặt trăng. Nó là cứu tinh của ta.
Thấy được như thế, ta có thể phục hồi được nguyên ý của Bụt, bằng đoạn kinh văn sau đây:
- Này các vị khất sĩ! Các thầy nghĩ sao? Sắc là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Thọ, tưởng, hành và thức là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Vậy thì những gì vô thường ấy, luôn luôn biến diệt trong từng sát na ấy, ta có thể gọi chúng là những cái ngã không? Ta có thể nói rằng: “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi” không?
- Bạch đức Thế Tôn, không.
- Này các vị khất sĩ! Quán chiếu về vô thường, về vô ngã, người hành giả sẽ đạt tới cái thấy duyên sinh, trung đạo, không sinh diệt, không có không, không tới đi, không thường đoạn, đó là Niết bàn, là sự lắng dịu, là giải thoát mọi niềm đau, là niềm vui cứu cánh.
Đọc đoạn kinh văn tân tu này ta thấy mọi chữ mọi câu đều có tính liễu nghĩa, không đưa lại cảm giác tiêu cực, bi quan và sự hiểu lầm như khi ta đọc đoạn trước. Vì vậy phục hồi được tam Pháp ấn rất quan trọng. Với sàng lọc tam Pháp ấn ta có thể tóm bắt được rất nhiều con sâu rọm từ bên ngoài đưa vào và từ sự bất cẩn trong quá trình truyền thừa đưa xuống. Hễ trùng tụng sai lầm một lần là sự sai lầm trở thành đồng bộ, giống như trong máy tính. Cho nên có không biết bao nhiêu là sai lầm và mâu thuẫn trong đại tạng. Vì thế chư tổ đã căn dặn: y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan. Bụt đã bị oan nhiều rồi, ta phải sử dụng những phương pháp khoa học như khảo cổ học và văn bản học để minh oan bớt cho Ngài.
 TS Thích Nhất Hạnh
(Trích Lá Thư Làng Mai 36- 2013)

Monday, March 4, 2013

Thiếu trí tuệ, con người nhìn nhận méo mó về lễ hội

Lễ hội không phải để vui chơi hay cầu xin, cúng bái

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền, lễ hội ngày nay đã bị biến tướng, mất đi nhiều giá trị tốt đẹp vốn có.

“Con người đang nhìn nhận sai lầm về lễ hội, dẫn đến những ứng xử sai lầm” – ông khẳng định.

Theo phân tích của ông, lễ hội gồm hai phần: Phần lễ và phần hội. Cái lễ mà rất nhiều người đang hiểu, thực sự không phải là lễ mà là cúng bái. Thực tế lễ hội không phải hướng đến cúng bái. Cúng bái chỉ là thuộc tính của một lĩnh vực thuộc lễ chứ không phải chiếm toàn bộ của lễ. Vì lễ hội đã bị người ta hiểu lầm giữa “lễ” là cúng bái” và “hội” là vui chơi nên dẫn đến hành xử sai lầm.

Không có một nghĩa nào của chữ “hội” là vui chơi cả. Chữ hội chỉ mang một nghĩa “là tập hợp một cộng đồng nhất định nào đó”. Lễ hội là tập hợp một cộng đồng để thực hiện những điều về lễ. Vậy thì “lễ” là vấn đề chính trong “lễ hội” chứ không phải là cái “hội”.

“Suy cho cùng, lễ hội là giáo dục con người đi đến đích là yêu thiên nhiên đồng nội, yêu cộng đồng và đỉnh cao là tinh thần yêu. Lễ hội kéo con người ra khỏi tính cá nhân để trở về với cộng đồng, cho nên mới có câu “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc nhà…. “Thánh” ở đây là văn hóa, là tinh thần chung chứ không phải là một ông thần vu vơ ban lộc theo cách nhìn hèn hạ bây giờ” – ông chia sẻ.

Chứng kiến việc người dân lên chùa, đi lễ hội để cầu cúng, ông khẳng định tất cả đều do họ không hiểu được bản chất của lễ hội, không tìm hiểu về những thứ mà mình đang tin, đang hướng đến.

Ông giải thích: “Rõ ràng, lễ hội không phải là dịp để con người cúng bái, cầu xin. Chính vì không hiểu được bản chất lễ hội nên người ta còn coi hội là trò chơi. Ít ai chịu tìm để hiểu được, thực ra những trò diễn trong lễ hội đều gắn với thiên nhiên vũ trụ bảo vệ con người. Sự thiếu hiểu biết khiến nhiều lễ hội biến tướng, méo mó như hội trọi trâu, trọi gà đều nhuốm màu trần tục.

Cái lễ, ít nhất trong lễ hội, nổi bật lên 4 ứng xử cơ bản: Một là ứng xử với thần linh, theo nhận thức rõ ràng của người Việt: Thần linh là một thứ công cụ tinh thần cao cả, vì con người mà tồn tại, là điển hình của Chân – Thiện – Mỹ. Hai là ứng xử với cộng đồng. Ba là ứng xử với tông tộc họ hàng và thứ Tư, là ứng xử với chính mình.

Qua lễ hội, con người tự nguyện thoát thân phận cố hữu của mình là tính cá nhân, đi làm việc làng, tìm lấy chỗ đứng của mình trong cộng đồng, tìm vinh quang ở làng xã. Không có vinh quang ấy, ko có hoạt động ấy thì cuộc sống của con người trở nên tẻ lạnh vô cùng. Con người sẽ cô đơn giữa rừng người, trở thành bơ vơ trong một tế bào lớn là cộng đồng làng xã. Ngoài ra còn có những mối quan hệ khác như là quan hệ với thiên nhiên, vũ trụ và nhiều lĩnh vực văn hóa khác nữa…”

Đừng “đem rác rưởi của trần gian ùa vào cõi thiêng liêng”

Cho rằng, bằng những hành xử thiếu hiểu biết của mình, một bộ phận người dân đang “đem rác rưởi của trần gian vào cõi thiêng liêng”, nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền khẳng định: “Nếu không dùng trí tuệ để hiểu thì con người chỉ nhìn thấy trong lễ hội những trò chơi và gắn với mê tín dị đoan, mọi ước vọng đều gắn với cá nhân, tầm thường. Những giá trị tinh thần trong lễ hội bị méo mó dẫn đến nhiều sai trái, tai họa”.

Sai trái, tai họa này chủ yếu đến từ những bộ óc thực dụng, hèn kém vật chất hóa lễ hội, làm mất đi tinh thần cao đẹp vốn có của lễ hội.

Nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền nhấn mạnh, những bộ óc thực dụng kiểu này thường phổ biến ở những thành phần có tiền, “phất” lên nhờ khủng hoảng tất yếu trên con đường phát triển của xã hội. Chính những kẻ có tiền, với niềm tin mê muội, hèn kém và không có trí tuệ làm bệ đỡ đã đua nhau bôi nhọ thần linh bởi sự mù quáng của họ.

“Người ta lấy cúng bài để cầu xin làm trọng, dẫn đến nảy sinh, phát triển ý thức “trần sao âm vậy”, “tốt lễ dễ thưa”, cúng đồ mặn, thắp hương vô tội vạ, gài cả tiền vào tay, nhét cả tiền vào mồm Phật, bẻ tay bụt, cướp đồ lễ làm của riêng cầu những điều xấu xa, ẩn thiện của riêng mình.

Suy cho cùng, đó chính là việc đem rác rưởi của trần gian ùa vào cõi thiêng liêng. Thần linh nào chịu được hàng trăm bài khấn của hàng trăm gia đình đều giống nhau? Thần linh nào chịu được cả bó hương đốt sặc sụa, nghi ngút?”
Theo vietnamnet.vn

Friday, February 1, 2013

Vị đắng cô đơn?

Từ hai tháng gần đây, xuất hiện làn sóng dư luận về quan điểm của ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Cà phê Trung Nguyên về Starbucks cùng với việc chính thức có mặt tại Việt Nam của tập đoàn này.
Cách trích dẫn cắt đoạn, giật “tít” của người viết về các phát biểu của ông Vũ về Starbucks tạo nên những luồng ý kiến trái chiều khá sôi nổi nhưng nếu chỉ có thế thì người ta chưa thấy toàn thể về nhân vật nổi tiếng này.
Nếu theo dõi ngôn hành của ông Vũ từ gần mười năm qua – nghĩa là trước rất lâu hành động xâm nhập thị trường Việt Nam của Starbucks- người ta sẽ thấy liền mạch các quan điểm chính của ông mà từ lâu đã vượt qua chuyện mua bán cà phê bình thường.
Qua khá nhiều diễn đàn, nhiều sự kiện trong và ngoài nước, với nhiều lần phát biểu, nhiều bài tham luận về các đề tài khác nhau nhưng tựu chung ông Vũ nêu bốn ý kiến chính yếu có tính liên kết có thể tóm tắt: một hoài bão – ba tinh thần.
Một là hoài bão về nước Việt hùng mạnh, thịnh vượng có thể ảnh hưởng đến thế giới. Ông Vũ bằng những lập luận đã nỗ lực chứng minh người Việt hoàn toàn có đủ điều kiện để làm được chuyện to tát ấy và bước đầu là phải có khát vọng mãnh liệt.
Ông khơi dậy hoài bão của mình thông qua các diễn đàn “nước Việt ta lớn hay bé”, “Người Việt sử dụng hàng Việt”, “ Sáng tạo vì khát vọng Việt”… Ông ta và cộng sự bày tỏ hoài bão của mình cụ thể bằng các chiến lược kinh tế, mô hình công nghệ mới có thể thúc đẩy phát triển đột phá, đưa đất nước phú cường.
Hai là tinh thần sáng tạo, ông Vũ và cộng sự luôn cổ động cho tinh thần sáng tạo mà ông gọi là sáng tạo có trách nhiệm, xem sáng tạo là phương thế giúp cho người Việt có thể xóa bỏ những khoảng cách đang có về thành tựu khoa học công nghệ đối với các cường quốc. Gần đây, nghe nói Trung Nguyên đang chủ xướng chương trình “sáng tạo – khởi nghiệp” hướng về thanh niên, phải chăng cũng là ước muốn xây dựng thế hệ thanh niên sáng tạo để kiến tạo đất nước thịnh vượng.
Ba là tinh thần doanh nhân, theo ông Vũ các quốc gia cường thịnh trên thế giới nhờ xây đắp tinh thần doanh nhân, đó là ý chí làm giàu cho bản thân góp phần làm giàu cho xã hội, đó tư duy lấy kinh tế làm trọng tâm để kiến tạo phồn vinh.
Cuối cùng, cũng là quan điểm mà dư luận hay trích dẫn các phát biểu của ông Vũ, là tinh thần chiến binh, đó là tinh thần tranh đua không ngán ngại trước mọi đối thủ dù có sức mạnh vật chất to lớn, ý chí kiên định đến ngày thắng lợi mà ông và cộng sự đã thể hiện qua cuộc chiến với Nestle.
Mặc dù, có một hệ thống lý luận, những lý lẽ khá đầy đặn, sở hữu một công ty cà phê số một tại Việt Nam, có những thành tựu đáng kể trên thương trường, có được đây đó sự ủng hộ trong nước và cả quốc tế. Nhưng chuyến này, khi đối đầu với Đế chế Starbucks thì ông Vũ và cộng sự sẽ không thể nào chiến thắng. Có thể đưa ra kết luận này từ các lý do hiển nhiên sau đây.
Sức mạnh vật chất của Đế chế toàn cầu
Doanh số ròng hàng năm của Starbuck gấp bốn lần doanh số toàn ngành cà phê của của quốc gia số một cà phê thế giới là Việt nam, với 16,863 quán cà phê mang tên Starbucks trên toàn cầu (chưa kể các thương hiệu khác thuộc tập đoàn này).
Có lẽ tất cả doanh nghiệp kinh doanh trong ngành F&B (thực phẩm – ăn uống), đặc biệt ngành cà phê Việt Nam đều nhận thức rõ sức mạnh khủng khiếp này, nên có thể họ đã kinh hồn bạt vía im bặt tăm tiếng hoặc giả họ đang lặng lẻ để tìm cách thỏa hiệp “chung sống hòa bình” với Đế quốc Mông Cổ trên lĩnh vực kinh doanh F&B?
Ngó quanh chỉ còn đơn độc một người, ông Đặng Lê Nguyên Vũ, khi ông ngang nhiên thách thức Starbucks bằng những luận điểm có thể thắng được Starbucks được báo giới “trích ngang” thành những câu nói trứ danh gây nhiều tranh cãi. Nếu chú ý xâu chuỗi lại các bài nói chuyện, bài viết của ông ta thấy hệ thống quan điểm của ông đối với các tập đoàn cà phê đa quốc gia đã vượt tầm tương tranh trên thị trường đối với một đối thủ cụ thể. Ông Vũ nêu rõ ràng, sau hơn một thế kỷ cà phê có mặt tại Việt Nam, cho đến nay khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu số một về sản lượng thì ngành cà phê Việt vẫn ở vị trí tệ hại nhất trong phân đoạn thấp kém nhất của chuỗi giá trị toàn cầu với doanh số tạo của ngành cà phê Việt Nam với hàng triệu con người không bằng 1/4, 1/5 doanh số một tập đoàn như Starbucks, Nestle.
Quá thương cho ông Vũ và đồng đội dù nhận chân mặt thật của các đế chế kinh doanh và đã nỗ lực rất nhiều để kêu gọi mọi người nhận diện để tìm ra kế sách kinh tế - văn hóa cho đất nước để có thể nhập cuộc chơi toàn cầu mà vẫn bảo đảm vị thế nhưng hình như là không có kết quả hồi đáp.
Nay chỉ còn đơn độc Trung Nguyên đối diện với sức mạnh toàn cầu của một Đế chế đầy quyền thế, ông Vũ và cộng sự sẽ ra sao?
Sự quy phục của giới tinh hoa
Từ hơn 10 ngày nay (tháng 1/2013), tại ngã sáu trung tâm Sài Gòn, nàng tiên cá Starbucks chói lọi, mỉm cười ngạo nghễ đối diện với bức tượng Phù Đổng Thiên Vương cũ kỹ. Hình ảnh Starbucks tại Sài gòn khiến ta liên tưởng hình tượng người thực dân đã chinh phục các bộ lạc thổ dân bán khai mấy thế kỷ trước bằng công thức “da trắng – súng hỏa mai – sự cộng tác của thầy mo bản địa” đã khiến hàng hàng lớp lớp thổ dân cúi mình thần phục vì cho rằng “người trời đã xuống”.
Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hóa, Starbucks còn có lợi thế hơn người thực dân ngày xưa, với công thức “ biểu tượng Mỹ - sức mạnh tài chính – sự ngưỡng mộ cư dân bản địa” họ đã khuất phục được ngay từ trong não phần của giới được xem tinh hoa, có trình độ học thức, có dịp đi đây đó, tiếp xúc để biết đại danh “Starbucks”, được có dịp nếm thử Starbucks và đã sùng kính Starbucks ngay khi Starbucks chưa kịp đặt bước chân chinh phạt đến nước sở tại.
Do đó, giới tinh hoa, tầng lớp có ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng, vốn đã tôn thờ những thương hiệu mang tính biểu tượng cho giá trị ngoại thì nay chắc chắn rất sẵn lòng quy phục khi Starbucks chính thức xuất hiện tựa như “thần tử thấy long nhan”. Họ sẽ rất sẵn lòng biểu thị sự thần phục tự động này một cách uyên bác thậm chí đầy thuyết phục nhằm dẫn dụ các tầng lớp quần chúng như ta thấy qua các bài viết có vẻ khách quan nhưng đầy minh chứng cho sự sùng bái thế lực hùng mạnh của Starbucks.
Sự quy phục tự giác đối với đế chế Starbucks của tầng lớp tinh hoa vốn có ảnh hưởng tâm lý quần chúng sẽ là chiếc gậy thần thông giúp Starbucks dẹp bỏ những giá trị biểu tượng nội lực, khỏa lấp tiếng nói trái chiều mà không tốn một viên đạn. Thêm vào đó là sự “độ lượng” của giới tinh hoa bản địa với kẻ chinh phục. Họ rất dễ quên cho câu chuyện chuyển giá để trốn thuế, câu chuyện nước thải phá hỏng môi sinh cả dòng sông, câu chuyện độc chiếm vùng nguyên liệu ép giá cà phê của các tập đoàn biểu tượng cho giá trị văn minh …
Người tiêu dùng thành con tin
Tại Việt Nam, chắc không mấy khó hình dung cảnh tượng khách hàng đủ mọi lứa tuổi xếp hàng dài dọc theo tường khách sạn New World tại Sài Gòn hoặc con đường sang trọng nào đó tại Hà Nội dưới trời nắng gắt của phương Nam hay mưa phùn buốt giá miền Bắc để có được cốc Starbucks. Nhưng quan trọng hơn Starbucks bán cho người tiêu dùng các nước đang phát triển biểu tượng “sành điệu”, “quốc tế”, “sang”.
Vậy Starbucks đâu phải chỉ bán sản phẩm thuần, họ cung cấp những giá trị ảo ẩn tàng đằng sau sản phẩm đó chứ. Người tiêu dùng Việt liệu có thể tránh trở thành con tin của Đế chế Starbucks để đổi lấy những giá trị huyễn hoặc xuất phát từ tâm lý sính ngoại cộng với tâm thế nhược tiểu vốn ăn sâu trong huyết quản không?
Hình như lại chỉ có ông Vũ – Trung Nguyên. Ông không nói với người tiêu dùng “hãy uống cà phê Trung Nguyên đi” mà ông luôn nói về những điều vượt qua kích cỡ bình thường của marketing. Ông nói về nghĩa vụ của mỗi người trong bảo vệ và mở rộng “biên giới mềm” của hàng hóa, của biên cương văn hóa quốc gia trong cuộc chiến toàn cầu hóa hiện nay.
Ông thường nhấn mạnh đó là cuộc đấu tranh giữa tự cường kinh tế và nô lệ tiêu dùng, giữa tự chủ tư tưởng và nô dịch văn hóa ngay trên đất nhà. Bên cạnh lời nói, ông cùng cộng sự đã cố gắng phát động các chương trình như “ Thanh niên sáng tạo- khởi nghiệp- xây dựng đất nước” với mộng ước xây đắp phồn vinh cho cộng đồng.
Trong lúc ông Vũ và cộng sự đang lao tâm khổ tứ bồi đắp những giá trị vượt tầm quá xa so với các loại chiến lược marketing nhằm gia tăng thị phần, doanh số mà báo giới thường đề cập, thường so sánh giữa Trung Nguyên- Starbucks. Thì Starbucks hình như đang rảnh tay để thủ thắng bằng việc quảng bá những giá trị ảo tưởng để chiếm hữu doanh số ròng và chế ngự toàn phần tâm thức của người tiêu dùng xứ nhược tiểu.
Tóm lại, viễn cảnh thua thiệt đang bày ra rõ rệt với ông Vũ và cộng sự trước Starbucks. Vì ông không thể chỉ tập trung vào cuộc đấu với tập đoàn Starbucks khổng lồ. Nhưng, ông và đồng đội lại phải đơn độc đối đầu với sự quy hàng tự giác những giá trị ảo giác đến từ phương Tây, sự vô cảm trước những giá trị quốc hồn-quốc túy do tinh thần nhược tiểu đã thấm sâu trong tâm thức cộng đồng. Và càng thương thay khi ông Vũ và cộng sự lại không tỏ dấu hiệu từ bỏ những khát vọng và con đường phụng sự cộng đồng mà ông đã chọn từ rất lâu trước khi cái tên Starbucks được nói đến tại Việt Nam.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Phan Gi đang sống ở Pháp. nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese

Monday, January 14, 2013

Buồn vui chuyện tặng quà



Ngày xưa khi còn bé ở quê nghèo, tôi cũng như bao trẻ thơ khác háo hức chờ đợi ngày Tết đến. Đối với trẻ nghèo chúng tôi, món quà Tết chỉ là một bộ đồ mới thậm chí có khi là đồ sửa lại từ đồ cũ của anh, một cái nón (mũ), và đôi dép mới. Quà Tết của chúng tôi thường chỉ có thế. Về việc ăn uống, mặc dù gia đình cũng sắm sửa đủ món theo phong tục gồm bánh, mức đủ loại, đồ kho mặn lạt…nhưng có lẽ chúng tôi còn nhỏ nên không quan tâm lắm. Với riêng tôi, niềm vui Tết là được nghe tiếng pháo và được đốt pháo, và tất nhiên được nhận bao lì xì nhưng thật ra cũng chẳng mấy ai lì xì. Quê nghèo là thế.

Nói về pháo tôi lại nhớ về nó và cũng nhớ về cách sống . Khi pháo chưa bị cấm, cận Tết là tha hồ nghe tiếng pháo nổ phát đi từ các đám cưới, đám tất niên. Và rồi, nhà nào cũng cố gắng tìm mua một phanh pháo đốt cho vui nhà, vui cửa lúc giao thừa hay sáng mồng một Tết. Nhà tôi thì có năm có pháo có năm không có vì pháo không phải do mua mà do người ta biếu. Ba tôi làm nhân viên hợp tác xã nông nghiệp, lương không đủ sống có đâu mà dư ra để mua pháo. Má tôi thì tiết kiệm nên không bao giờ chi tiền cho khoảng chi phí này. Thế nên, tôi chỉ biết trông đợi vào quà biếu của người khác mà thôi.

Ba tôi không giàu tiền bạc nhưng lại giàu tình cảm. Ông có thể bỏ bê gia đình thiếu thốn nhưng lại rất ‘xộp’ với bạn bè và người xóm giềng. Chơi với bạn bè, ông không bao giờ tính toán so đo. Những lúc không có đồng nào trong túi ông cũng cố gắng mượn hay chịu nợ để vui vẻ với bạn bè rồi sau đó kiếm trả lại cho người ta. Sự vui vẻ với bạn bè của ông chỉ là lai rai vài xị rượu đế giải sầu, rồi tán dóc chứ không phải ăn chơi gì ghê gớm. Ông có cái tật là không bao giờ uống rượu bia một mình. Rượu bia để trong tủ cả năm ông cũng không đụng tới nếu không có bạn bè đến thăm. Vì tính hòa đồng với bạn bè nên ông được nhiều người quý mến. Do đó, quà biếu mà tôi nói trên là xuất phát từ tình cảm này. Và từ khi ấy, tôi biết đến món qùa biếu Tết. Nó là phẩm vật thể hiện tình cảm con người với nhau trong mối quan hệ bạn bè, làng xóm.

Sau này lớn lên, tôi sống trong một môi trường khác và tôi lại có dịp cảm nhận lại sự biếu quà. Sự biếu qùa lúc này không chỉ đơn thuần là phẩm vật để sử ngay trong dịp Tết mà còn có thêm kim tiền, và mục đích của nó không chỉ là tình nghĩa con người với nhau mà còn là sự mưu tính, đổi chát. Do đó, bên ngoài chúc tụng cười vui hớn hở mà trong lòng không biết rằng mỗi bên đang suy nghĩ gì. Sự biếu quà, vì thế, trở nên biến tướng và làm mất ý nghĩa cao đẹp của nó. Đó là lý do nhà nước nhiều lần ra văn bản ‘cấm biếu quà’ dịp Tết nhưng mà làm sao hết được tình trạng này khi cơ chế xã hội không chịu thay đổi. Cấm kiểu này thì nó biến thành kiểu khác, tinh vi hơn mà thôi. Vả lại, biếu quà theo cách như tôi kể ở trên là nét văn hóa đẹp trong cách cư xử thì sao lại bị cấm. Như vậy, cái gốc của vấn đề là phải làm sao tạo ra cơ chế xã hội tốt để con người sống tốt với nhau, tin tưởng nhau, và biết thể hiện ân nghĩa lẫn nhau.

Thời phong kiến ở nước ta, người dân thường mang quà biếu các quan, hay quan nhỏ biếu quà cho quan lớn. Dụng ý của họ có thể là để tưởng nhớ đến công ơn của những bậc được xem là ‘dân chi phụ mẫu’, nhưng cũng không tránh khỏi trường hợp là để mua chức tước hay lấy lòng quan để thực hiện mục tiêu nào đó. Lịch sử hiếm khi ghi lại hình ảnh quan trên biếu quà cho các quan nhỏ hay các lính phục vụ.

Nếu như các quan hết lòng vì nước vì dân, không có của dư nhiều thì sự biếu quà thật sự là vì tình nghĩa và các quan đáng nhận phẩm vật ấy. Tuy nhiên, khi các quan giàu có, tiền của quá nhiều mà luôn nhận quà biếu của kẻ dưới nhưng lại không hề quan tâm tặng lại họ thì sự biếu tặng này không thể hiện tình nghĩa con người. Hiện tượng này rất phổ biến trong xã hội ta ngày nay.

Năm nào cũng vậy, cứ Tết đến là Thầy tôi tất bật chạy tiền để sắm phẩm vật đi tặng biếu các cơ quan, thầy bạn, và không quên nhân viên, đệ tử. Tôi kính trọng tấm lòng bao la của Thầy nhưng cũng không khỏi đượm buồn cho thời thế. Lễ nghĩa hình thức nặng nề đã làm nhạt nhòa ý nghĩa nhân văn vốn có của sự tặng biếu. Vì đâu nên nỗi?!

Lùm xùm Tết ta, Tết tây



Tết dương lịch theo truyền thống lịch Tây. Người Tây chỉ có Tết này nên họ được nghỉ nhiều ngày (tùy theo quốc gia) để người dân đón Tết, du lịch, v.v là đương nhiên. Nhưng thật ra, ở Mỹ, người ta chỉ được nghỉ 1 ngày lễ Tết thôi. Những người muốn nghĩ nhiều ngày thì xin phép và bị trừ vào thời gian nghỉ được cho phép theo quy định. Riêng, học sinh, sinh viên được nghỉ nhiều ngày vì thời gian này trùng với thời gian nghỉ sau 1 học kỳ (semester).

Việt Nam cũng như nhiều nước khác hội nhập với thế giới để hợp tác làm ăn nên ta cũng nghỉ vào Tết này cũng là dễ hiểu. Vấn đề là tại sao ta không nghỉ chỉ 1 ngày mà phải nghỉ lâu như thế. Lý do chỉ vì chúng ta ăn theo để được du lịch, kích thích mua sắm là chính. Hãy tự hỏi bao nhiêu phần trăm dân số Việt Nam có làm ăn với nước ngoài và bị ảnh hưởng bởi Tết này. Tại sao Tết của họ mà họ chỉ nghỉ có 1 ngày, còn ta thì đòi nghỉ nhiều ngày?

Về hội nhập, tại sao người Tây không lấy ngày Tết âm lịch là một ngày nghỉ cho tất cả người dân để thể hiện sự tôn trọng và giao lưu văn hóa lẫn nhau giữa Đông và Tây. Số người ăn Tết âm lịch cũng gần bằng 1/3 dân số thế giới. Tôi tin rằng khi Châu Á mạnh lên về kinh tế, điều này sẽ xảy ra thôi.

Như vậy, thay vì nghỉ Tết dương lịch nhiều ngày thì ta nên chỉ nghỉ 1 ngày (học theo đúng cách người Tây) và bù lại nghỉ Tết ta nhiều ngày hơn (nếu cho là hợp lý). Nếu cho rằng nghỉ Tết ta nhiều ngày làm nghèo đất nước thì cứ làm một cuộc điều tra xem có đúng không rồi mới quyết định thay đổi. Tất nhiên, có quy định cũng chỉ với các công chức nhà nước, và các cơ quan chứ nông dân thì ai có thể quy định ngày nghỉ đối với họ. Ngay cả ở Mỹ, các công ty cũng có quyền quyết định ngày nghỉ riêng của họ cơ mà.

Dân tộc Việt Nam hội nhập nhanh nhưng rồi hòa tan vào văn hóa của người khác lúc nào không hay biết. Hãy nhìn cách ăn, mặc, hưởng thụ thì đủ thấy ta mất bản sắc của ta thế nào. Đáng tiếc nhất là, cái hay của họ thì ta không học. Sự ý thức, lịch sự văn minh của người Tây rất đáng để chúng ta học hỏi thì chúng ta phớt lờ làm ngơ và chẳng thèm để ý. Hãy đòi hỏi thay đổi những thứ này hơn là đòi hỏi thay đổi về bề ngoài.

Nói tóm lại, Người Việt nên suy nghĩ cách đón Tết, ăn Tết, chơi Tết của ta như thế nào cho phù hợp, đẹp và có ý nghĩa hơn là cứ chạy theo người Ta hoài để rồi rốt cuộc chẳng còn gì để mất.

Nếu so sánh với người Nhật thì ta hãy so sánh tinh thần dân tộc của họ trước. Tinh thần dân tộc của người Việt, theo thiển ý của tôi,  không bằng 1/100 của họ. Đố có 1 nhà hàng Việt Nam nào có thể tồn tại trên đất Nhật và được người Nhật ủng hộ. Tôi không ủng hộ thái độ cực đoan này nhưng đó chính là một trong những biểu hiện tinh thần dân tộc của họ. Từ đó, chúng ta suy nghĩ tinh thần dân tộc của họ thế nào ở những lĩnh vực khác.

Nhân đây, Tôi nghĩ người Việt nên suy nghĩ lại về văn hóa dân tộc của mình. Chúng ta nên nghiên cứu đánh giá đúng mức các loại hình văn hóa hiện có để xem loại nào đáng kế thừa và phát huy, loại nào cần phải từ bỏ. Lễ hội giết mỗ…mà gọi là văn hóa thì thật là phi văn hóa, phi nhân đạo. Mong thay!

Wednesday, January 9, 2013

Sunday, December 2, 2012

Thông Bạch Ngày Tiếp Nối 2012 của HT Thích Nhất Hạnh

"Nếu quý vị, trong mỗi bước chân, trong mỗi hơi thở mà có pháp lạc của Thầy thì quý vị trên hình thức tuy mặt mũi không giống Thầy mà trong nội dung lại là sự tiếp nối đích thực của Thầy. Cho nên pháp môn vô tướng trong tam giải thoát môn là rất quan trọng để ta chúng ta nhận diện được thế nào là sự tiếp nối đích thực"
Các con đã tiếp nối Thầy được bao nhiêu?
Ở Làng Mai, chúng ta không nói “Mừng ngày sinh nhật” mà nói “Mừng ngày tiếp nối” (Continuation Day). Tiếp nối cái gì? Và ai tiếp nối ai? Hôm nay chúng ta quán chiếu về sự tiếp nối của Thầy trong Thầy và trong các con của Thầy, xuất sĩ cũng như cư sĩ. Các con tiếp nối Thầy nghĩa là sao? Sự tiếp nối có hai phần, nơi thân tâm mình và nơi thân tâm những người được tiếp nhận những gì mình truyền trao. Bụt có dạy về trao truyền như sau: người trao truyền, người nhận trao truyềnvật được trao truyền là một. Tam luân không tịch. Không có chủ thể trao truyền, không có người nhận trao truyền, chỉ có sự trao truyền, thế thôi.
Trao cái gì? Trước nhất là trao bước chân. Các con đã đặt được trên mặt đất từng bước chân chánh niệm hay chưa? Thầy muốn nói đến chùa Tổ Từ Hiếu là nơi Thầy được Sư Cố là Hòa Thượng Chân Thật giao cho trách nhiệm Trụ Trì. Thầy mong rằng quý thầy và quý sư cô bên chùa Tổ thực hiện ngay được sự tiếp nối của Thầy trong từng bước chân và hơi thở của mình. Các con hãy đặt từng bước chân chánh niệm từ phòng ngủ đến nhà vệ sinh, từ nhà vệ sinh đến nhà trà, từ nhà trà lên thiền đường. Các con phải thực sự tiếp nối Thầy trong từng hơi thở và từng bước chân. Suốt sáu mươi năm qua Thầy đã liên tục trao truyền những kinh nghiệm, những thao thức và những hoài vọng của Thầy cho bao nhiêu người qua cách Thầy nói năng, đi đứng, ăn uống và chấp tác trong chánh niệm, qua những cuốn sách Thầy đã viết, qua những lời Thầy thuyết giảng, hoặc trước quần chúng đông đảo, hoặc cho từng nhóm nhỏ hoặc cho từng người. Các con đã tiếp nối Thầy được đến bao nhiêu rồi?

Thiền đi trong Tịnh độ
Thầy đã trao truyền Tịnh Độ Hiện Tiền. Thiền đi trong Tịnh Độ. Xin chùa Tổ đừng xao nhãng sự thực tập Thiền Đi trong Tịnh Độ mỗi ngày. Mọi người cùng đi trong chánh niệm ngoài trời, mỗi ngày một lần, đó là buổi thực tập thiền hành chung. Ngoài ra còn đi riêng từ phòng mình đến nhà ăn, từ nơi này đến nơi kia, từ tăng xá đến nơi chấp tác... Trong giờ Thiền Đi Trong Tịnh Độ xin không nên vắng mặt bất cứ ai. Trong giờ thiền tọa cũng thế. Xin ghi lý do vắng mặt khi phải vắng mặt. Thầy đã trao truyền chánh niệm, năm phép thực tập chánh niệm và hơi thở ý thức mỗi khi có cảm xúc mạnh hay có cảm thọ buồn tủi hay đau đớn phát hiện để mà ôm ấp, nhìn sâu, làm phát khởi lòng từ bi và chuyển hoá.
Vào ngày chánh niệm khi các vị cư sĩ  đến tham dự thì mình cùng đi Tịnh Độ với các vị ấy. Để mọi người có thể thấy được là cõi Tịnh Độ nói trong kinh không phải là một mơ ước xa vời mà là cái có thể đạt được ngay trong giây phút hiện tại. Sau pháp thoại ngày Chủ nhật, xin đề nghị mọi người nghỉ ngơi chừng mười lăm phút rồi tập họp trước chánh điện để cùng Đi Tịnh Độ. Chúng ta có thể đi ngang hồ Sao Hôm, hồ Sao Mai rồi lên đồi Dương Xuân để cùng ngồi xuống trên Tịnh Độ, thở và thấy được sự có mặt của cõi Tịnh Độ bây giờ và nơi đây. Mình cũng ý thức và cảm nhận được sự có mặt của nhau, đó là mình đang thật sự ngồi chơi với nhau trong Tịnh Độ. Chúng ta đã làm được điều này trong các chuyến về của Thầy vào những năm 2005, 2007 và 2008. Mỗi người trong chúng ta đều đã có kinh nghiệm về điều đó. Chúng ta phải tiếp tục, phải hướng dẫn cho kỹ lưỡng mỗi khi có người Phật tử cư sĩ tới chùa. Phải có một tập sách hướng dẫn để mọi người đọc, hiểu và đi được trong Tịnh Độ. Người xuất sĩ hay người cư sĩ nào tới chùa Tổ cũng có thể làm được việc đó, đi trong Tịnh Độ bây giờ và ở đây.

Không cần xây tháp cho Thầy
Thầy không muốn sau này quý vị xây cho Thầy một ngôi tháp ở Tổ Đình. Xây tháp như thế sẽ không có ý nghĩa gì nếu ngày hôm nay quý vị không nối tiếp được những gì Thầy đang trao truyền. Thầy rất không thích chuyện lấy một mớ tro từ hình hài của Thầy rồi bỏ vào trong một cái hũ, rồi đặt vào trong tháp. Thầy không phải là cái nắm tro đó. Không có lý Thầy chỉ là cái nắm tro ấy hay sao? Thầy nhiều hơn cái nắm tro đó. Thầy là một thực tại linh động, đang sống, đang có mặt khắp nơi. Trong các sư chú và các sư cô đều có Thầy, trong các vị cư sĩ quen biết đều có Thầy. Ở chỗ nào mà có thiền hành, thiền tọa, có pháp đàm, có ăn cơm yên lặng, có Sám Pháp Địa Xúc là có Thầy. Không được nhốt Thầy, bỏ Thầy vào trong một cái hũ nhỏ rồi đặt Thầy vào trong một cái tháp. Thầy không muốn Thầy có một cái tháp. Tốn đất chùa vô ích. Sư Thầy Đàm Nguyện đã xây cho Thầy một cái tháp ở chùa Đình Quán. Đã lỡ xây rồi thì phải ghi lên trước tháp mấy chữ: “Trong này không có gì.” Thầy không nằm trong tháp ấy đâu. “There is nothing inside”. Nếu người ta vẫn chưa hiểu thì ghi thêm một câu nữa “Ngoài kia cũng không có gì.” Và nếu vẫn còn chưa hiểu thì ghi thêm một câu chót là “Nếu có gì thì nó có trong bước chân và hơi thở của bạn.” Đó là điều Thầy căn dặn các Thầy các sư cô ở chùa Đình Quán Hà Nội và ở Tổ Đình. Đừng phí thì giờ nghĩ đến chuyện tìm đất xây tháp cho Thầy. Đó không phải là điều Thầy nghĩ tới. Nếu có một tảng đá có sẵn thì để vào trong hốc đá bản thảo của một cuốn sách của Thầy như cuốn Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức thì tảng đá đó có Thầy nhiều hơn là một cái tháp trong đó có một nắm tro. Đem tro mà rải hết ra ngoài để nuôi cây nuôi cỏ, cho cỏ cho cây lớn lên. Đừng có ngăn ngừa sự tiếp nối của nắm tro ấy.

Tổ Đình cần tu học theo pháp môn Làng Mai một trăm phần trăm
Đứng về phương diện tu học, Thầy muốn Tổ Đình phải theo pháp môn Làng Mai một trăm phần trăm. Pháp môn ấy là công trình của Thầy đã xây dựng nên. Có nhiều tôn túc đã xây nên những ngôi phạm vũ thật huy hoàng. Đó là công trình lớn lao của quý ngài. Nhưng công trình của Thầy không phải là một tòa phạm vũ nguy nga mà là những pháp môn tu học có công năng chuyển hoá và trị liệu được cho người đương thời.

Ngôi tháp của Thầy: các pháp môn tu tập
Các pháp môn tu tập ấy chính là cái tháp của Thầy. Ở Pháp Vân hay ở Tổ Đình đều phải có cái Tháp ấy. Không phải một cái tháp bằng gạch, bằng xi măng mà là một cái tháp của sự thực tập. Tất cả các thầy, các sư cô, các sư chú và các vị Phật tử cư sĩ tới, ai cũng được mời đi vào cái tháp đó. Nghĩa là phải học đi trong chánh niệm, uống trà trong chánh niệm, biết nói năng cho từ ái và biết lắng nghe nhau.

Phương cách quản trị
Thầy không muốn Tổ Đình được quản trị theo phương cách cổ điển. Thầy muốn Tổ Đình được chăm sóc, quản trị theo tinh thần mới, trẻ và dân chủ. Và sau này chức vụ Trụ Trì sẽ được hội đồng tỳ kheo công cử mỗi ba hoặc năm năm. Công cử người nào có khả năng sống chung hạnh phúc với cả chúng, có khả năng tiếp xúc và đến được với mọi người. Công cử một vị nào mà cả chúng tin cậy và thương yêu, dù vị đó còn trẻ tuổi như Thầy Pháp Hữu ở Xóm Thượng. Thầy muốn Tổ Đình sẽ tổ chức theo mô thức của Làng Mai. Phải có một Hội Đồng Tỳ Kheo để quyết định tất cả những gì cần quyết định ở Tổ Đình. Đó là cơ quan lập pháp tối cao của Tổ Đình. Mọi quyết định đều phải do Hội Đồng Tỳ Kheo đưa ra. Bất cứ một vị tỳ kheo nào cũng phải nói lên tiếng nói về cái thấy của mình trong Hội Đồng Tỳ Kheo. Đồng ý và quyết định xong thì là vị tỳ kheo  đã làm xong nhiệm vụ. Cái quyết định tối hậu là do Tác Pháp Yết Ma của Hội Đồng Tỳ Kheo làm ra. Thầy muốn Tổ Đình bắt đầu tổ chức như vậy ngay từ bây giờ. Tổ Đình cử ngay một Ban Chăm Sóc (Care Taking Council – CTC) hoặc gọi cách khác là Ban Điều Hành.
Nhân dịp này, Thầy muốn công cử Thầy Từ Hải đứng ra thành lập ban ấy, tức là Ban Chăm Sóc của Tổ Đình. Thầy Từ Hải tuy còn trẻ nhưng được các Thầy trong chúng tin tưởng và yêu mến. Xin Thầy Từ Hải đứng ra lập ngay một Ban Điều Hành trong đó có nhiều chức vụ. Và ban ấy sẽ làm việc dưới sự chỉ đạo của Hội Đồng Tỳ Kheo. Hội Đồng Tỳ Kheo quyết định cái gì thì Ban ấy chấp hành và làm theo quyết định đó. Các Thầy lớn, các sư anh lớn, các sư chị lớn đều sẽ đứng sau lưng để yểm trợ. Đó là cơ quan hành pháp của Tổ Đình, chung cho cả Từ Hiếu và Diệu Trạm. Nếu cần phải tiếp một vị Tôn Túc hoặc chủ tọa một buổi lễ lớn thì Ban Chăm Sóc có thể thỉnh mời các vị lớn tuổi như Hòa Thượng Chí Mãn hay Thượng Tọa Từ Đạo v.v… Thầy muốn Tổ Đình đi theo mô thức đó. Lâu lâu nếu cần thì phải ngồi lại để bổ túc và thay đổi nhân sự của Ban Điều Hành. Sau ba, bốn năm hoặc năm năm thì Hội Đồng Tỳ Kheo có thể đề nghị một vị khác thay thế. Nếu vị trưởng ban làm việc giỏi quá thì có thể lưu lại thêm một nhiệm kỳ nữa. Tuy Thầy chưa viết xuống những điều này thành văn bản, tuy đây không phải là lời di chúc nhưng đó là tuệ giác của Thầy, là những ước muốn đích thực của Thầy khi Thầy còn sống. Nếu quý vị có thương Thầy, có tin Thầy thì phải lập tức làm theo. Còn nếu không làm theo thì sau này việc xây tháp, cúng giỗ, kỷ niệm, đọc điếu văn v.v... đều là những điều vô nghĩa. Thầy nghĩ rằng cách thức này là cách thức hay nhất để mình tổ chức một tu viện.
Ở Tây phương, các tu viện lớn của Cơ Đốc Giáo cũng đã bắt đầu tổ chức như vậy. Chính họ bầu lên vị lãnh đạo của họ và cứ  ba năm hay năm năm thì bầu lại một lần. Những thầy nào, những sư cô nào, những sư chú nào không thực hành theo quy chế và mệnh lệnh của Đại tăng, không chịu đi theo quy luật của tu viện thì sẽ không được ở lại Tổ Đình. Bởi vì nếu để họ ở lại thêm ở Tổ Đình thì sẽ làm hư những người khác. Đó là những điều Thầy muốn chia sẻ chiều nay. Nếu muốn tiếp nối Thầy thì đó là cách tiếp nối hay nhất. Còn nếu không làm được những cái đó thì đừng có chúc thọ, đừng hát Happy Continuation Day, vì như thế thì không có nghĩa gì hết. Thầy muốn Tổ Đình đi theo pháp môn của Làng Mai. Đó là công trình xây dựng của Thầy sau sáu mươi năm tìm tòi và phát triển, đó là một cái tháp mà Thầy đã dựng lên.
Hôm nay chúng ta hãy sống với nhau cho có hạnh phúc, hãy đi đứng, nói cười và tiếp xử với nhau cho có hạnh phúc thì đó mới chính là good continuation. Điều đó phải xảy ra từng ngày. Đám mây sẽ không có đau buồn gì khi nó không còn mang hình tướng của đám mây tại vì nó biết rằng nó đã thành mưa, mà thành mưa thì nó vẫn tiếp tục đời sống phụng sự của nó. Và khi đám mưa không còn nữa thì mình lại thấy có dòng suối và dòng suối lại tiếp tục sứ mạng của cơn mưa. Và vì vậy cho nên không có cái gì chết, không có cái gì mất đi cả.

Tiếp nối vô tướng
Chúng ta thường kẹt vào hình tướng quen thuộc. Vì vậy cho nên ta hay khóc thương khi thấy cái hình thức quen thuộc ấy không còn nữa. Khoa học bây giờ có thể dùng phép cloning để có thể tạo ra một ngàn đứa bé giống hệt như  hồi Thầy còn bé. Chỉ cần lấy ra vài ngàn tế bào của Thầy là làm được chuyện này. Một ngàn đứa bé ấy sẽ giống nhau như đúc và giống như Thầy hồi còn bé. Cũng giống như hai chị em sinh đôi của sư cô Thi Nghiêm là Thuận với Thảo. Các vị có thể thích thú nhìn các cậu bé ấy chơi đùa, nói cười rất giống Thầy hồi còn bé. Nhưng những cậu bé ấy không phải đích thực là Thầy, dù trong mỗi đứa cũng có những hạt giống tốt và những hạt giống không tốt của Thầy. Nếu chúng không gặp minh sư, không có môi trường tu học, không đi qua những thử thách như Thầy thì chúng cũng không phải là sự tiếp nối đích thực của Thầy. Nhưng nếu quý vị, trong mỗi bước chân, trong mỗi hơi thở mà có pháp lạc của Thầy thì quý vị trên hình thức tuy mặt mũi không giống Thầy mà trong nội dung lại là sự tiếp nối đích thực của Thầy. Cho nên pháp môn vô tướng trong tam giải thoát môn là rất quan trọng để ta chúng ta nhận diện được thế nào là sự tiếp nối đích thực.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh