Saturday, June 8, 2013

Vài suy nghĩ về nguyên nhân Phật giáo thịnh suy



Là người học Phật, ai cũng biết vô thường là một trong ba pháp thuộc giáo lý Tam Pháp Ấn (Vô thường, Khổ, Vô ngã theo Phật giáo nam truyền hay Vô thường, Vô ngã, Niết bàn). Nói đến vô thường là nói đến sự thay đổi hoặc là tốt hơn hay xấu hơn, phát triển hay suy vong, tiến bộ hay lạc hậu…Khi mọi sự vật hiện tượng tồn tại khách quan đều không thể thoát ra khỏi quy luật vô thường thì sự thịnh suy của một tổ chức như Phật giáo cũng là tất yếu. Theo Phật giáo, sự thay đổi nào cũng đều có thể truy về quy luật nhân quả. Do đó, truy tìm nguyên nhân đưa đến sự thịnh suy và tìm kiếm giải pháp để duy trì sự cường thịnh và tránh sự suy vong của Phật giáo là một việc đáng làm, nhất là trong giai đoạn Phật giáo đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Trên tinh thần đó, người viết sẽ dựa vào phần trích dẫn của bài Kinh Đại Bát Niết Bàn trong Kinh Trường Bộ để phân tích lời Phật dạy về vấn đề liên quan. Bài viết cũng sẽ trích dẫn nguyên nhân đưa đến sự tiêu vong của Phật giáo ở Ấn Độ, sự suy yếu của Phật giáo Việt Nam sau thời Lý Trần. Qua đó, một số đề xuất sẽ được đưa ra để tham khảo và thảo luận cùng với chư thiện hữu tri thức có ưu tư về vấn đề này trên tinh thần chia sẻ, học hỏi.
Sự thịnh suy theo Kinh Đại Bát Niết Bàn
Bài kinh mở đầu bằng việc đại thần của vua Ajatasattu (A-xà-thế) nước Magadha (Ma-kiệt-đà) tuân lệnh quốc chủ đến đảnh lễ đức Thế Tôn và trình bày ý vua muốn chinh phục và tiêu diệt dân chúng Vajji, nhằm lắng nghe tôn ý của đức Thế Tôn như thế nào. Đức Phật không trả lời trực tiếp cho vị đại thần mà khéo léo hỏi thị giả A-nan đang hầu một bên về sinh hoạt của dân chúng Vajii. Bảy điều được đức Phật nêu ra và khẳng định nếu chúng được tuân thủ thì sự cường thịnh sẽ có mặt. Nhân đó, đức Phật dạy cho các thầy tỳ kheo bảy pháp làm cho chúng tỳ kheo cường thịnh, không bị suy giảm. Bảy pháp ấy gồm “(1) thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo; (2) tụ họp, giải tán và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết; (3) không ban hành những luật lệ trái giới luật, không hủy bỏ những luật lệ phù hợp giới luật, và sống đúng với những học giới đã được ban hành; (4) tôn kính, đảnh lễ, cúng dường các bậc tỳ kheo trưởng thượng và nghe theo lời dạy của họ; (5) không bị chi phối bởi tham ái đưa đến tái sanh; (6) thích sống những nơi nhàn tịnh; (7) tự thân an trú chánh niệm khiến các bạn đồng tu chưa đến muốn đến và đã đến được sống an lạc.” Bảy điều kiện trên có thể rút ngắn là thực hiện đời sống đoàn kết trong chúng, tôn trọng và sống đúng giới luật, tôn kính cúng dường bậc trưởng lão và thường tham vấn họ, xa lìa tham ái đưa đến tái sanh và luôn sống chánh niệm để làm cho bạn đồng tu được sống an lạc. Nói một cách khác, chúng tỳ kheo sẽ cường thịnh khi tập thể ấy sống theo giới luật, biết học hỏi bậc minh sư và có an lạc do hành trì lời Phật dạy. Ngược lại, sự suy giảm sẽ xuất hiện.
Sự thịnh suy của Phật giáo hầu như phụ thuộc vào hàng Tăng bảo. Trong giai đoạn kinh điển được lưu truyền bằng con đường truyền khẩu thì sự sống còn của Phật pháp hoàn toàn do Tăng bảo quyết định. Muốn tìm hiểu, học hỏi chánh pháp tức nội dung tam tạng kinh điển, người ta phải tìm đến các tăng ni. Bởi vì, chính họ là những người thông thuộc kinh điển, người có hành trì và do đó là nguồn độc quyền và đáng tin cậy nhất. Cùng quan điểm này, Giáo sư Gombrich, một nhà nguyên cứu Phật giáo nổi tiếng nhận định: “người ta chỉ có thể tiếp cận lời Phật dạy thông qua Tăng già, những người duy trì và giảng giải lời dạy ấy.”[1] Khi kinh điển được biên tập và lưu truyền bằng văn bản, người ta có thể tiếp cận giáo pháp bằng cách tự đọc kinh sách hay tìm học nơi các tăng ni. Tuy nhiên, hàng Tăng bảo, những người có học và có hành trì lời Phật dạy vẫn là nơi đáng tin cậy nhất. Sự hiện diện của những người xuất gia có hành trì đóng vai trò quan trọng và quyết định sự sinh tồn của Phật giáo bởi vì dù kinh điển vẫn còn nhưng không còn hàng Tăng bảo thì Phật giáo vẫn bị tiêu vong, ít nhất là đúng trong trường hợp ở Ấn Độ. Ta có thể nói rằng kinh điển không hoàn toàn bị tiêu hủy ở Ấn Độ ít nhất cho đến khi không còn bóng người xuất gia. Kinh điển tại đại học Na-lan-đa bị đốt cháy hoàn toàn không có nghĩa là không còn kinh điển bởi không có chứng cứ nào cho rằng chỉ có Na-lan-đà độc quyền chứa kinh điển. Còn bao nhiêu trường đại học khác và nhiều tự viện cũng như hàng triệu gia đình Phật tử. Không lẻ tất cả họ không giữ một số kinh sách. Chắc chắn là kinh điển vẫn còn sau biến cố đau thương ấy nhưng không còn người kế thừa lưu giữ, tu tập, và giảng dạy nên dần dần chúng bị hủy hoại theo thời gian. Như vậy theo nội dung trên, Phật giáo thịnh khi chúng tỳ kheo thịnh, Phật giáo suy giảm và tiêu vong khi chúng tỳ kheo suy và biến mất. Một câu hỏi đặt ra là tại sao Phật giáo có hai chúng gồm xuất gia và tại gia nhưng khi chúng xuất gia mất thì Phật pháp không được duy trì? Phật giáo là độc quyền của hàng xuất gia chăng? Trước khi trả lời câu hỏi, chúng ta hãy tìm hiểu nguyên nhân Phật giáo suy vong ở Ấn Độ.
Nguyên nhân Phật giáo suy vong ở Ấn Độ
Trong bài “Vì sao Phật giáo suy tàn tại Ấn Độ”[2] do D.C Ahir một học giả người Ấn Độ viết và Trần Đức Phi Bằng dịch phổ biến, tác giả đã đưa ra một số nguyên nhân sau:
Nguyên nhân bên ngoài gồm: Một là sự xung đột giữa Bà-la-môn giáo và Phật giáo. Hai là sự thù giận và ghét bỏ của các Bà-la-môn hành nghề tế lễ. Ba là Phật giáo không những bị mất sự ủng hộ của nhà cầm quyền mà còn bị đàn áp, phá hủy. Bốn là âm mưu tiêu diệt Phật giáo của người Hồi giáo. Năm là Phật giáo bị đồng hóa.
Nguyên nhân bên trong: Thứ nhất tăng sĩ xao lãng việc tu tập, thờ ơ với sứ mệnh truyền chánh pháp phụng sự xã hội, đánh mất sự giao hảo gần gũi với quần chúng. Thứ hai, Phật giáo không có tổ chức cư sĩ để giảng dạy, truyền bá và bảo vệ tôn giáo của mình. Do đó, họ chỉ đứng nhìn mà không giúp được gì khi các tu viện bị cướp phá, xúc phạm và các tăng sĩ bị trục xuất hay giết hại. Thứ ba, thiếu vắng những nghi thức cho các sinh hoạt liên quan đến đời sống văn hóa, tập tục xã hội như hôn nhân, tang tế. Và cuối cùng là tín đồ mê tín dị đoan.
Theo tác giả, những nguyên nhân làm Phật giáo bị suy vong tại Ấn Độ không phải bên trong mà là bên ngoài. Chính sự đàn áp, giết hại, và phá hoại của Ân Độ giáo và sau đó là Hồi giáo khiến cho tăng sĩ bị giết, chùa chiền bị san bằng, kinh điển bị tiêu hủy đưa đến Phật giáo bị xóa sổ. Ông cũng bác quan điểm cho rằng Phật giáo suy tàn là do Tăng già suy đồi vì điều đó chỉ ảnh hướng đến việc truyền bá và duy trì Phật pháp hơn là suy vong. Người viết cũng đồng ý với quan điểm này. Tổ chức Phật giáo cho dù có suy đồi vẫn có những bậc chân tu, đạo đức cho quần chúng nương tựa. Nếu không có sự phá hoại của bên ngoài thì Phật giáo chỉ có thể thịnh hoặc suy giảm mà không thể suy tàn được.
Cũng theo Từ điển bách khoa toàn thư Phật giáo (Encyclopaedic Dictionary of Buddhism) xuất bản năm 1998, Samir Nath đưa ra 12 nguyên nhân làm cho Phật giáo suy vi. Trong đó, ông cũng chỉ liệt kê 3 nguyên nhân bên trong là sự suy thoái trong Tăng già, sự chia rẻ trong Phật giáo, và thần tượng thờ phụng đức Phật. Ba nguyên nhân này cũng chỉ làm cho Phật giáo thịnh hoặc suy giảm chứ không thể suy vong. Như vậy, quan điểm của Ahir được củng cố thêm. Để làm rõ hơn quan điểm này, ta tiếp tục xem trường hợp Phật giáo suy yếu ở Việt Nam.
Nguyên nhân Phật giáo Việt Nam suy yếu sau thời Lý, Trần
Phật giáo Việt Nam cũng trải qua thăng trầm, thịnh suy theo quy luật. Theo sử liệu, Phật giáo dưới hai triều đại Lý và Trần được thừa nhận là cực thịnh và được gọi là thời vàng son của Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, điều không may mắn là Phật giáo đã không thể duy trì vị thế ấy. Từ cuối đời trần trở đi, Phật giáo suy đồi và có lúc phục hưng nhưng chưa thể so bằng với Phật giáo dưới hai triều đại ấy. “Sự suy đồi ở đây không phải là Phật giáo đánh mất ảnh hưởng trong quần chúng mà là đánh mất vai trò lãnh đạo trí thức, văn hóa và chính trị.” Nguyên nhân ở đây cũng bao gồm bên ngoài và bên trong nhưng chủ yếu là từ bên trong. Nguyên nhân bên ngoài là vua chúa hết ủng hộ Phật giáo như trước và các nhà Nho trí thức công kích Phật giáo. Tuy nhiên, nguyên nhân chính là do chùa chiền nhiều nên không thể quản lý tốt; tăng chúng đông nhưng thiếu học; thành phần bất hảo trà trộn vào tăng đoàn làm mất thanh danh; tăng sĩ kiêu hãnh khi được cúng dường hậu hĩnh; chùa tượng quá nhiều gây lãnh phí và gây ác cảm đối với các Nho gia; và do Phật giáo ỷ lại quá nhiều vào sự ủng hộ của thế quyền.[3] Như vậy, tình trạng nội bộ của Phật giáo ở Việt Nam cũng có phần giống như tình trạng ở Ấn Độ nhưng Phật giáo Việt Nam không bị suy vong vì Phật tử Việt Nam đã thành công trong việc bảo vệ và chống lại sự đàn áp và âm mưu tiêu diệt của ngoại đạo cuồng tín và quá khích. Đó là điều may mắn và cũng là bổn phận của Phật tử Việt Nam. Có thể Phật tử Ấn Độ cũng đấu tranh bảo vệ Phật giáo nhưng họ đã không thành công.
Nhận xét và đề xuất
Từ những dẫn chứng trên, ta có thể suy ra rằng Phật giáo thịnh hay suy yếu và cuối cùng suy vong là do những nguyên nhân từ bên ngoài lẫn bên trong. Trong khi nguyên nhân bên trong chỉ có thể làm cho Phật giáo suy yếu thì nguyên nhân bên ngoài có thể làm Phật giáo suy vong. Khi đã xác định được nguyên nhân rõ ràng cụ thể rồi, người Phật tử cần phải tìm kiếm giải pháp thích hợp. Một câu hỏi lớn là tại sao tín đồ Phật giáo không thể bảo vệ tôn giáo cao quý của mình trước kẻ ngoại đạo tấn công và phá hoại?
Phật giáo được hiểu tổng quán bao gồm Phật, Pháp và Tăng gọi là Tam bảo. Tăng già nếu hiểu rộng ra phải bao gồm cả quần chúng cư sĩ vì ý nghĩa của chữ Tăng là hòa hợp chúng. Khi hàng Tăng bảo suy đồi tức đánh mất vai trò của họ về lãnh đạo văn hóa, chính trị xã hội và đánh mất sự ảnh hưởng đối với quần chúng thì ít ra Phật và Pháp bảo vẫn còn nguyên vẹn, nhất là thời văn bản đã lưu truyền. Tuy nhiên với Phật giáo, hàng Tăng bảo không còn đồng nghĩa với Pháp bảo không còn và dẫn đến Phật bảo cũng mất. Phật giáo là tài sản chung của mọi người nhưng rõ ràng chính hàng Tăng bảo độc quyền quyết định sự tồn vong của Phật giáo. Do đó, trước nhất và trên hết để bảo vệ Phật giáo và làm cho nó cường thịnh thì phải xây dựng hàng Tăng bảo cường thịnh theo tinh thần kinh đã nên ở trên.
Tăng bảo cường thịnh là điều kiện cần, Phật tử cư sĩ phát tâm hộ trì Phật giáo mới là điều kiện đủ. Hàng tăng bảo có thể làm cho Phật giáo thịnh hay suy nhưng họ không bao giờ làm cho Phật giáo biến mất. Nói cụ thể, họ không bao giờ tự đánh mất quyền lợi của họ. Vậy thì chỉ có kẻ bên ngoài làm Phật giáo suy vong trong đó có chính người Phật giáo. Thói thường, khi Tăng bảo suy đồi thì hàng cư sĩ quay lưng với Phật giáo và có thể theo đạo khác. Quần chúng Phật tử cư sĩ là lực lượng hộ trì quan trọng mà quay lưng thì Phật giáo suy yếu. Lúc ấy, ngoại đạo tấn công phá hoại, nhất là bằng vũ trang, thì Phật giáo không đủ nội lực chống trả để bảo vệ tôn giáo của mình. Ngày nay, các tôn giáo cạnh tranh khốc liệt để thu nhận tín đồ. Họ không từ thủ đoạn, thậm chí sát hại tín đồ đạo khác. Do vậy, hướng dẫn hàng cư sĩ tu học và có trách nhiệm với tôn giáo của mình là nhiệm vụ cần phải thực hiện ngay.
Như học giả Ahir đã nêu, “Phật giáo không có tổ chức cư sĩ để giảng dạy, truyền bá và bảo vệ tôn giáo của mình. Phật giáo cũng thiếu vắng những nghi thức cho các sinh hoạt liên quan đến đời sống văn hóa, tập tục xã hội như hôn nhân, tang tế….” Do không có kế hoạch bài bản, cụ thể để đào tạo hàng cư sĩ cũng như không thiết lập nghi thức mang đậm nét Phật giáo để giáo hóa quần chúng, Phật giáo tự đánh mất vai trò của mình trong xã hội. Vì vậy, tạo dựng nét văn hóa Phật giáo trong tất cả các tập tục, lễ hội…cũng là điều cấp bách.
Kỷ niệm ngày đản sinh của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni không gì hơn là duy trì và truyền bá lời dạy của Ngài đến với mọi người. Bên cạnh tổ chức các hình thức kỷ niệm mang nét văn hóa Phật giáo, Phật tử cũng cần có chiến lược lâu dài. Xây dựng hàng tăng bảo vững mạnh, đào tạo hàng cư sĩ có thể hoằng pháp và có trách nhiệm bảo vệ Phật giáo, và thiết lập nền văn hóa Phật giáo trong tất cả các tập tục sinh hoạt cộng đồng là những hành động thiết thực cúng dường Đức Phật. Chiến lược này thành công, chắc chắn ngày Phật đản nơi nơi rợp cờ Phật giáo.




[1] Richard, F. Gombrich, Theravada Buddhism: a Social History from Ancient Benares to Modern Colombo, (New York: Routledge, 2006), p. 72.
[2] http://quangduc.com/lichsu/90visaopgsuytan.html
[3] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, (Hà Nội: NXB Văn Học, 2000), tr. 479 – 482.

Ý NGHĨA DUY NGÃ ĐỘC TÔN

Ngày lễ Phật đản, chúng ta thường được nghe nhắc đến hình ảnh đức Phật mới ra đời đi bảy bước, tay chỉ trời tay chỉ đất nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, đa số ai cũng thuộc lòng như thế. Ngày trước khi tôi còn trẻ, có một vị Phật tử thắc mắc hỏi: “Bạch Thầy, thường bài kệ phải đủ bốn câu, sao bài kệ này có hai câu, còn hai câu nữa ở đâu?” Nghe hỏi vậy, tôi chỉ còn cách là xin hẹn về tìm lại, vì thật ra lúc đó tôi cũng chỉ thuộc có hai câu.
Sau này đọc kinh A-hàm, tôi mới giật mình thực tình mình dốt rõ ràng. Trong A-hàm có ghi bốn câu đàng hoàng, chớ không phải chỉ hai câu. Bốn câu đó nguyên văn chữ Hán là:
Thiên thượng thiên hạ,
Duy ngã độc tôn.
Nhất thiết thế gian,
Sinh lão bệnh tử.

Chính bốn câu này mới nói lên hết ý nghĩa thâm trầm về câu nói của đức Phật khi mới ra đời. Chúng ta sẽ thấy tinh thần Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo phát triển sai biệt ở chỗ nào? Gần đây Phật tử hay hỏi: “Đạo Phật là đạo vô ngã, tại sao đức Phật mới ra đời một tay chỉ trời, một tay chỉ đất nói “Duy ngã độc tôn”, như vậy Ngài đề cao cái ngã quá mức rồi, thế thì việc này có mâu thuẫn với giáo lý vô ngã không?”
Đó là vấn đề mà tất cả huynh đệ cần phải nắm cho vững. Tra cứu lại tôi thấy rõ ràng, nếu xét về bốn câu kệ đó với tinh thần Nguyên thủy thì dẫn đủ bốn câu: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, nhất thiết thế gian, sinh lão bệnh tử”, nghĩa là trên trời dưới trời chỉ có ta là hơn hết. Tại sao ta hơn hết? Vì trong tất cả thế gian, ta đã vượt khỏi sanh già bệnh chết. Phật hơn tất cả thế gian vì Ngài đã qua khỏi sanh già bệnh chết. Đó là cái hơn theo tinh thần Nguyên thủy. Như vậy câu nói đó không phải đề cao cái ngã.
Tại sao chư Tổ Việt Nam không dùng hết bốn câu, lại dùng hai câu thôi, có ý nghĩa gì? Đâu phải các Ngài không đọc qua bài kệ đó, nếu chúng ta không nghiên cứu kỹ có thể bị nghi ngờ ở điểm này. Bởi vì tinh thần Phật giáo Phát triển đi thẳng vào ngã của Pháp thân, chớ không phải cái ngã của thân này. Nên nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là chỉ cho ngã Pháp thân.
 Như chúng ta đã biết ngã của thân tứ đại ngũ uẩn này vô thường sanh diệt, không có nghĩa gì nên giáo lý nói vô ngã. Vô ngã là vô cái ngã tứ đại ngũ uẩn, nhưng Pháp thân là thể bất sanh bất diệt, nó trên hết. Vì vậy Phật nói “Duy ngã độc tôn”. Trong kinh Kim Cang có bài kệ “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”, tức là nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người đó hành đạo tà, không thể thấy Như Lai. Như vậy chữ Ngã này chỉ cho ngã gì? Ngã của Pháp thân nên không thể dùng sắc tướng, âm thanh mà cầu. Nếu ai dùng sắc tướng âm thanh mà cầu Pháp thân, đó là tà.
 Giáo lý Phát triển đề cao ngã là cái ngã Pháp thân. Theo tinh thần Phật giáo Phát triển, chúng ta tu phải giác ngộ được pháp thân, mới giải thoát sanh tử. Từ đó ta thấy tinh thần Phật giáo Nguyên thủy và tinh thần Phật giáo phát triển có chỗ khác nhau. Phật giáo Nguyên thủy nhắm vào điểm Phật đã vượt qua sanh tử của chúng sanh nên nói Ngài hơn hết. Phật giáo Phát triển nhắm vào Pháp thân của chúng ta, là cái không sanh không diệt nên nói hơn hết. Hiểu như vậy mới có thể trả lời câu hỏi trên của Phật tử mà không bị lúng túng.
 Có một Phật tử hỏi chúng tôi: “Thưa Thầy, Phật tử tu theo đạo Phật, hiện tại bản thân, gia đình, xã hội có lợi ích gì?” Câu hỏi này rất thực tế, chúng ta không thể lơ là được. Thật ra vấn đề được nêu lên không phải quá khó, nhưng chúng tôi muốn dẫn lại để Tăng Ni ý thức trách nhiệm của người giảng dạy giáo lý. Chúng ta giảng dạy giáo lý phải làm sao cho Phật tử thâm hiểu, ứng dụng tu hành có lợi cho bản thân, gia đình và xã hội, đó là trọng tâm của việc truyền bá chánh pháp. Chính nhờ những câu hỏi này làm cho chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng về giáo lý nhà Phật, dạy thế nào cho có lợi ích thiết thực, chớ không thể nói suông được.
 Tôi thường dạy Phật tử tu là cốt chuyển đổi ba nghiệp thân, khẩu, ý. Cho nên nói tới tu là nói tới sự chuyển hóa, biến cái dở xấu trở thành cái hay tốt. Nói cụ thể hơn về tu ba nghiệp nghĩa là ngày xưa chưa biết tu vị đó sát sanh, trộm cắp, tà dâm v.v... Bây giờ biết tu rồi thì không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm. Nếu tích cực hơn, hồi xưa vị đó sát sanh, bây giờ biết tu rồi chuyển lại chẳng những không sát sanh mà còn phóng sanh, không phạm tội trộm cắp mà còn tập hạnh bố thí, không tà dâm mà còn khuyến khích những người chung quanh giữ hạnh trinh bạch. Hồi xưa chưa biết tu ta nói dối, nói hai lưỡi, nói hung dữ, nói thêu dệt vô nghĩa. Bây giờ chặng đầu của sự tu là bớt nói dối, bớt nói hai lưỡi, bớt nói hung dữ, bớt nói thêu dệt. Qua chặng thứ hai phải tiến lên, khi xưa mình nói dối thì bây giờ luôn luôn nói lời chân thật; khi xưa nói hai lưỡi tức nói ly gián, bây giờ nói lời hòa hợp; khi xưa nói lời hung dữ ác độc, bây giờ nói lời hiền hòa nhã nhặn, khi xưa nói lời thêu dệt vô nghĩa, bây giờ nói lời hợp lý.
 Ngày xưa tâm ý nhiều tham, nhiều sân, nhiều si, bây giờ bớt tham, bớt sân, bớt si, đó là chặng số một. Qua chặng thứ hai, chẳng những bớt tham mà còn tập thương người cứu vật, chia xẻ giúp đỡ kẻ cơ hàn. Chẳng những bớt sân mà còn tập trải lòng từ bi đến khắp mọi người. Chẳng những bớt si mà còn tập mở mang trí tuệ theo chánh pháp. Như vậy thay vì tham sân si, bây giờ đổi lại thành bố thí, từ bi, trí tuệ. Đó là tu.
Nếu một Phật tử, bản thân không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, bớt tham sân si, như vậy có lợi ích chưa? Bản thân có lợi ích cụ thể rồi. Nếu một thành viên trong gia đình tốt như vậy, tự nhiên gia đình cũng an vui, xã hội cũng tốt theo. Rõ ràng việc tu có lợi ích thiết thực cho mọi người và xã hội.
 Lúc tôi đi giảng ở Rạch Giá với thầy Huyền Vi, đề tài giảng là giáo lý Nhị thừa. Trong đó nói về tứ thiền, bát định cho tới tứ quả Thanh văn. Vì thuộc bài nên tôi giảng tương đối cũng rõ. Sau khi giảng xong, có một Phật tử quì thưa: “Thưa Thầy, Thầy giảng về tứ thiền, bát định và tứ quả Thanh văn, chúng con nghe hiểu rồi, nhưng xin hỏi thật trong các tầng thiền định và quả vị đó, Thầy đã chứng được cái nào rồi?” Lúc đó tôi ngớ ngẩn, không trả lời được. May nhờ thầy Huyền Vi ngồi bên cạnh lanh trí, trả lời dùm tôi: “Đạo hữu quên rồi sao, trong kinh thường nói người tu chứng giống như kẻ uống nước nóng lạnh tự biết, làm sao nói cho đạo hữu nghe được”. Lần đó Thầy Huyền Vi đã trả lời cứu bồ tôi. Nhưng thật tình, khi ấy tôi rất đau. Tại sao?
 Chúng tôi cứ quen học hiểu, mà không có thì giờ tu. Một đêm nhiều lắm là tụng kinh đủ hai thời, đôi khi thiếu nữa. Nhất là làm Giảng sư được quyền nghỉ để nghiên cứu bài vở, nên tu lếu lếu thôi, chẳng có tới đâu. Chừng khi giảng mình học bài kỹ, nói cho người ta nghe hiểu, Phật tử tưởng mình đã chứng khá khá rồi, khi hỏi lại mình chới với không giải quyết được. Gặp phải câu hỏi trên, lòng tôi bất an vô cùng, vì thấy mình giống như cái máy thâu thanh. Thu lời của những bậc thầy đi trước, rồi phát ra y như vậy, chớ bản thân chưa có gì hết. Do đó tôi thầm nguyện, lúc nào đủ duyên mình phải tìm chỗ tu để yên lòng một chút, chớ nói hay mà làm không được, thật khổ tâm quá. Đó là lý do sau này tôi tìm lên núi tu thiền.
 Tôi kể lại những điều này cho Tăng Ni thấy bổn phận của một người Thầy không giản đơn như mình tưởng. Ta phải nói thế nào cho người hiểu, kế họ hỏi tới công phu tu hành mình cũng phải biết, không thể lúng túng được. Muốn thế chúng ta phải có tu. Tu thế nào? Trong các thời khóa tụng của nhà thiền, thường nhất là kinh Bát-nhã. Bát-nhã là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch trí tuệ, loại trí tuệ siêu xuất thế gian, chứ không phải trí tuệ thường. Muốn bước vào cửa thiền trước tiên phải thâm nhập lý Bát-nhã.
 Lý Bát-nhã còn được gọi là cửa Không. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tại sao chúng ta tu thiền phải đi từ cửa Không? Vì nếu thấy thân này thật, đối với ngoại cảnh, từ con người cho tới muôn vật, chúng ta đều thấy thật hết thì tâm sẽ chạy theo nó. Bây giờ, muốn tâm không chạy theo, chúng ta phải quán sát kỹ tất cả sự vật ở ngoài cũng do duyên hợp, không thật. Cái nhà từ khoảnh đất trống, ta dựng cây cối, gạch ngói v.v… để thành cái nhà. Do vậy cái nhà là tướng duyên hợp. Do duyên hợp nên có ngày nó phải bại hoại, tường vách đổ sụp. Những gì duyên hợp đều hư dối. Từ cái nhà cho đến mọi sự mọi vật, có thứ nào không phải duyên hợp đâu, nên chúng sẽ đi đến bại hoại. Biết rõ như vậy mới không dính mắc với cảnh bên ngoài. Không dính mắc ngoại cảnh thì tâm mới an định được, còn dính mắc thì không bao giờ an định.
 Thí dụ như quý Phật tử vừa mới to tiếng với ai đó chừng nửa giờ, bây giờ vô ngồi thiền có yên không? Vừa ngồi vừa tiếp tục cãi, không cãi bằng miệng mà cãi bằng tâm. Họ nói câu đó là sao, mình phải trả lời thế nào cho xứng v.v… cứ ôn tới ôn lui hoài. Vì chúng ta thấy câu nói thật nên không bỏ được. Nếu ta quán con người đó không thật thì lời nói của họ có thật đâu, tất cả là chuyện rỗng, có gì quan trọng. Thấy vậy liền buông nhẹ. Buông được thì ngồi thiền mới yên. Cho nên trước tiên bước vào cửa thiền, chúng ta phải đi từ lý Bát-nhã, dẹp bỏ tất cả những cố chấp của mình.
 Kinh Bát-nhã nói “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc” nghĩa thế nào? Bây giờ tôi dẫn câu chuyện xưa thế này. Đời Đường, có hai vị thiền sư trẻ Trí Tạng và Huệ Tạng, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất. Một hôm hai huynh đệ ra ngoài vườn chơi. Ngài Trí Tạng hỏi ngài Huệ Tạng:
 - Sư đệ biết bắt hư không chăng.
 Ngài Huệ Tạng trả lời:
 - Biết.
- Làm sao bắt ?
 Ngài Huệ Tạng liền đưa tay ra ôm hư không. Ngài Trí Tạng quở:
 - Bắt như vậy làm sao được hư không ?
 Ngài Huệ Tạng hỏi:
 - Huynh làm sao bắt ?
 Ngài Trí Tạng liền nắm lấy lỗ mũi Huệ Tạng lôi đi. Ngài Huệ Tạng la:
 - Nắm như vậy chết người ta, buông ra !
 Ngài Trí Tạng nói:
 - Bắt như vậy mới được hư không.
 Câu chuyện này có đạo lý gì? Lỗ mũi tuy là hình thức vật chất, nhưng bên trong trống rỗng. Nắm cái sắc thì trong đó đã có cái không rồi. Đây là nghĩa sắc tức thị không. Nếu ôm hư không bên ngoài thì làm sao nắm được hư không? Như bình hoa trước mắt chúng ta, nếu bỏ mấy cọng hoa mỗi nơi mỗi cái thì bình hoa không còn. “Bình hoa” là giả danh, do đủ duyên hợp lại mới có, nếu thiếu duyên bình hoa không còn nữa. Nên nói thể bình hoa là không, do duyên hợp tạm có. Ngay nơi bình hoa chúng ta biết tánh nó là không. Tuy tánh không nhưng đủ duyên hợp lại thì thành bình hoa.
 Như vậy lý không ở đây không phải không ngơ, mà là không có chủ thể cố định. Duyên hợp tạm có, duyên ly tán trở về không. Hoa khi phân tán khắp nơi, chỉ còn lại bình không, nếu ta cặm vào đó các hoa khác thì có bình hoa trở lại, nên nói “không tức là sắc”. Rõ ràng sắc và không đều không thật. Nói sắc nói không nhằm chỉ ra lý duyên hợp, đủ duyên thì không biến thành sắc, thiếu duyên thì sắc biến thành không. Nên ngay khi duyên hợp, tánh nó vẫn là không. Vì vậy kinh Bát-nhã nói “không” tất cả: không nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, không sắc, thanh, hương… Không là nói đến thể của tất cả các pháp. Tất cả pháp chỉ có giả danh, không có thật thể.
 Từ đó chúng ta dùng trí quán xét hết các sự vật bên ngoài, đều là duyên hợp tánh không. Biết như thế là tỉnh, hết mê. Cho nên biết được lý tánh không rồi, chúng ta mới bỏ được vọng tưởng điên đảo, các vị Bồ-tát mới có thể tu hành tiến lên thành Phật. Dùng trí tuệ Bát-nhã tức là dùng thanh kiếm bén ruồng hết sáu trần, không chấp không kẹt. Không chấp thì ngồi thiền êm ru, không nghĩ, không tính. Vừa chợt nhớ gì liền tự nhắc “Nó giả dối, có thật đâu mà nhớ”.
Thế nên bước vào cửa Không phải thấy rõ: Một, tất cả cảnh sắc đều hư dối, tự tánh là không. Hai, thân tứ đại duyên hợp hư dối, tự tánh là không. Ba, tâm vọng tưởng sanh diệt hư dối, tự tánh là không. Biết ba cái đó không thật rồi, chúng ta phải tìm cho ra cái chân thật. Đây là chỗ thiết yếu hành giả tu thiền cần phải biết. Cái thật đó lâu nay chúng ta không nhớ không biết nên chạy theo trăm thứ đảo điên. Bây giờ ta phải nhớ để nhận ra và sống lại với cái chân thật của chính mình, thì mới chấm dứt sanh tử và đau khổ.
 Hiểu rõ và thực hành đúng lời Phật dạy mới xứng đáng là đệ tử của Phật, mới có thể đền ân Phật Tổ và đầy đủ tư lương để trả nợ đàn na tín thí.
HT. Thích Thanh Từ

Monday, May 20, 2013

Thông điệp Phật đản 2013: Để đạo Bụt có thể tiếp tục đóng được vai trò của nó

Ngày hôm nay ta ăn mừng sự xuất hiện của Siddhartha trên hành tinh này. Nhưng hầu hết chúng ta đều chỉ biết tôn sùng Siddhartha như một quyền lực thiêng liêng có khả năng ban phúc trừ họa. Không mấy ai trong chúng ta đang đi được trên đường Siddhartha đã đi, biết cách xử lý khổ đau, chế tác hạnh phúc, tái lập được truyền thông, tiếp xúc với Niết bàn trong hiện tại.
Hoàng hậu Mahamaya sinh Siddhartha một cách rất dễ dàng. Trên con đường về quê ngoại để sinh nở, bà và đoàn tùy tùng dừng chân nghỉ ngơi ở vườn Lumbini. Đang đi dạo thì bà cảm thấy giây phút sinh nở đang tới. Bà víu vào một cành cây asoka, và sinh ra thái tử Siddhartha trong thế đứng. Các thị nữ đã kịp thời đỡ lấy em bé với những trang bị cần thiết đã đem theo sẵn. Sau khi sinh Siddhartha, bà Mahamaya trở về lại Kapilavastu. Có những người hầu cận được gửi về trước để thông báo tin mừng này cho cả hai bên nội ngoại.
Công nương Yasodhara khi sinh bé Rahula, con của Siddhartha, lại gặp rất nhiều khó khăn. Thời gian sinh nở kéo dài, có lúc người ta tưởng hai mẹ con đã không qua khỏi những giây phút khó khăn cực độ đó. Cả hoàng gia trong đó có Siddhartha, đều nhấp nhổm lo âu, năng lượng sợ hãi tập thể rất lớn, bao trùm cả cung điện. May thay, cuối cùng rồi Yasodhara cũng sinh được Rahula. Ta có thể thấy được rằng trong thời gian thai nghén Rahula, Siddhartha đang lâm vào một tình trạng thao thức, bất an, không có được hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Chứng kiến những khổ đau trong bản thân, trong gia đình và cả trong vương quốc, Siddhartha không lòng nào ngồi đó mà hưởng thụ những điều kiện của một cuộc sống phù phiếm xa hoa. Yasodhara thấy được tất cả những bất an ấy nơi Siddhartha nhưng không biết cách nào để giúp Siddhartha. Những thao thức khổ đau dằn vặt của Siddhartha đã đi vào trong Yasodhara và trong cả bé Rahula. Sinh nở khó khăn ít nhất một phần cũng do nguyên do này.
Kinh nghiệm sinh nở khó khăn ấy đã góp một phần trong quyết định của Siddhartha bỏ nhà ra đi tìm đạo. Yasodhara đã hiểu và đã chấp nhận.
May mắn cho chúng ta là Siddhartha đã thành công. Sự thành công của Siddhartha là một sự thành công lớn của cả nhân loại, cũng như khi Neil Armstrong  đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng đã nói rằng đây là một bước tiến lớn của nhân loại về phương diện khoa học kỹ thuật. Siddhartha thành công cho tất cả chúng ta. Siddhartha tìm ra được con đường giúp ta xử lý được khổ đau, chế tác được hỷ lạc trong đời sống hàng ngày, vượt thoát được những hệ lụy của danh vọng, tiền tài, quyền hành và sắc dục, đồng thời tiếp xúc được tới tự tính vô sinh bất diệt của hiện hữu.
Ngày hôm nay ta ăn mừng sự xuất hiện của Siddhartha trên hành tinh này. Nhưng hầu hết chúng ta đều chỉ biết tôn sùng Siddhartha như một quyền lực thiêng liêng có khả năng ban phúc trừ họa. Không mấy ai trong chúng ta đang đi được trên đường Siddhartha đã đi, biết cách xử lý khổ đau, chế tác hạnh phúc, tái lập được truyền thông, tiếp xúc với Niết bàn trong hiện tại. Đạo Bụt của chúng ta phần lớn chỉ là đạo Bụt của tín mộ. Những gì mà Bụt khuyên chúng ta nên buông bỏ như danh lợi, tài sắc v.v... bây giờ chúng ta lại cầu Bụt ban cho chúng ta những cái đó.
Thực tập niệm định tuệ để đi trên con đường bát chánh như con đường hạnh phúc trong giây phút hiện tại chỉ còn là một phần nhỏ. Chúng ta đã không biết thừa hưởng những phần quý giá nhất của gia tài tâm linh mà Siddhartha để lại. Đạo Bụt của chúng ta đã hủ hóa, không còn đóng được vai trò như ngày xưa. Chúng ta phải nỗ lực làm mới đạo Bụt để đạo Bụt có thể tiếp tục đóng được vai trò của nó trong việc đem lại an bình cho bản thân, gia đình, đất nước và xã hội. Chỉ thực tập đạo Bụt tín mộ, cả ngày chỉ cúi rạp mình dưới mấy cây hương, chúng ta sẽ không làm được việc đó, chúng ta sẽ không xứng đáng là con cháu của bậc Đại Hùng.
Nguồn: Làng Mai

Wednesday, April 10, 2013

Thừa hưởng gia tài Phật giáo



Là Phật tử, có lẽ ai cũng biết là đạo Phật do đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập và truyền bá ở đất nước Ấn Độ cách đây hơn 26 thế kỷ. Suốt 45 năm thuyết pháp, chân lý do Phật giảng dạy được xác định là nhằm đem lại lợi ích, hạnh phúc, và an lạc cho chư Thiên và loài người.[1] Nói cách khác, đạo Phật là vì mọi người, cho mọi người chứ không phải cho riêng thành phần cá nhân nào. Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp ấy được hàng đệ tử tiếp tục duy trì và phát triển khắp đất nước Ấn Độ và khắp năm châu như hiện nay bằng cách thực hành và phổ biến đến những người người chưa biết. Sự nghiệp hoằng pháp như thế không phải và không thể chỉ một mình Tăng bảo thực hiện, mặc dù Tăng bảo là thành phần cốt yếu trong hàng đệ tử đức Phật. Bài biết này sẽ trình bày về sự thừa hưởng gia tài Phật giáo và trách nhiệm tự nguyện trong việc duy trì và bảo vệ gia tài ấy. Bài viết sẽ đề cập bốn vấn đề có liên quan với nhau.
Gia tài Phật giáo không phải của riêng ai
Như phần giới thiệu đã đề cập, Phật giáo không phải là tài sản độc quyền của riêng cá nhân nào. Chân lý Phật giáo được chứng đạt và truyền bá cho tất cả những ai hữu duyên. Đức Phật chưa từng tuyên bố Ngài độc quyền chân lý về mặt thể nghiệm và tận hưởng. Giáo pháp Tứ Diệu Đế và các giáo pháp cốt lõi khác được Phật thể nghiệm phát minh ra và truyền dạy cho các đệ tử. Nếu bất cứ ai thực hành đúng các giáo pháp ấy thì đều có thể trải nghiệm sự an lạc hạnh phúc như chính đức Phật. Hạnh phúc tối hậu trong Phật giáo được gọi là cứu cánh Niết bàn được đức Phật đề cập trong rất nhiều bài kinh.[2] Tất cả những vị A-la-hán được xác định trong kinh điển đều trải nghiệm được hạnh phúc Niết bàn, tức sự an lạc khi đã dập tắt hết tham, sân, si.[3]
Ở mức độ phàm phu, việc nương tựa tam bảo, thực hành năm điều đạo đức, thập thiện, giáo lý nhân quả có thể đem lại lợi ích, an lạc thiết thực hiện tại và tương lai. Đó là sự bình an trong cuộc sống hiện tại và sau khi chết được tái sanh cõi lành.[4] Không ai có thể ngăn cản kết quả đạt được khi chúng ta tu tập các giáo pháp trên một cách đúng đắn. Đặc biệt, phương pháp thiền định ở mức độ căn bản có thể giúp làm điều hòa thân tâm, cứu lành sự đau của thân và nỗi khổ của tâm. Thực tập thiền làm giảm căng thẳng, lo âu, phiền muộn, … và giúp điều phục tâm. Từ đó, con người có thể đối thoại nhau bằng ngôn ngữ dễ nghe, thương yêu và chia sẻ. Những phương pháp như thế ai cũng có thể thực tập được bất luận là theo tôn giáo nào, chủng tộc nào, già hay trẻ, nam hay nữ, và cả giới thứ ba.
Đức Phật nhập diệt nhưng giáo pháp vẫn còn giá trị nguyên vẹn và xứng đáng làm thầy dẫn đường cho hàng hậu thế.[5] Tăng bảo tuy có lúc thịnh lúc suy, cá nhân Tăng Ni có lúc thực tập thành công, có khi thất bại nhưng gia tài Phật giáo không phải thế mà giảm giá trị về bản chất. Bởi vì Phật giáo không phải của riêng ai, bản chất của giáo pháp không hề phụ thuộc vào một tổ chức hay cá nhân nào, mặc dù tổ chức hay cá nhân là hình ảnh minh họa sống động của giáo pháp. Do đó, hãy cẩn trọng và không nên đánh đồng Phật giáo với một số cá nhân Tăng Ni để rồi mất niềm tin vào chánh pháp. Hậu quả của nó sẽ là sự thất bại chung: tăng đoàn mất tín đồ ủng hộ nên việc tu tập đóng góp trí đức cho đời bị ảnh hưởng, cư sĩ tại gia mất cơ hội thực tập giáo pháp vì bất mãn từ bỏ, không thân cận học hỏi các vị minh sư khác, Phật giáo suy yếu vì mất đồng thuận giữa các chúng, và xã hội ít nhiều bị ảnh hưởng xấu bởi thiếu người tu tập. Do vậy, đừng để bị đánh lừa vì thiên kiến ấy và trách nhiệm trước hết thuộc về tăng bảo.
Trách nhiệm hàng tăng bảo
Tăng bảo là biểu hiện sống động của chánh pháp. Đó là trách nhiệm trước tiên và trên hết của hàng xuất gia. Hoàn thành trách nhiệm ấy không gì khác hơn là thực hành chánh pháp đúng đắn. Sự chứng ngộ của hàng xuất gia là lý tưởng để giữ gìn chánh pháp tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, khi sự chứng đắc trở nên khó đạt hoặc khó nhận biết thì ít nhất hàng xuất gia cũng phải là biểu tượng của đạo đức. Bởi vì, hình ảnh Tăng Ni có ảnh hưởng nhất định đến niềm tin của tín đồ Phật tử nhất là những vị đến với đạo Phật vì tín ngưỡng.
Hàng xuất gia còn có trách nhiệm quan trọng nữa là hoằng pháp. Đây là nhiệm vụ được xác định ngay khi tăng đoàn được thành lập.[6] Đúng ra, chánh pháp được truyền bá phải giống nhau về cơ bản. Tuy nhiên, thực tế lại có các quan niệm khác nhau về đạo Phật. Khi nghe hàng cư sĩ thường khen tặng quý Tăng Ni tụng kinh, đọc sớ hay; cúng kiến thật kỹ lưỡng; giỏi về phong thủy, ngày giờ thì chúng ta có thể biết là Tăng Ni đang phổ biến đạo Phật tín ngưỡng. Hàng cư sĩ phải đáng được hướng dẫn về giá trị của chánh pháp bên cạnh phục vụ tín ngưỡng. Sự hứa hẹn dùng phương tiện để giáo hóa lâu nay vẫn còn bỏ ngõ nên hàng cư sĩ chưa thấy được giá trị đích thực của chánh pháp. Do đó, họ trở nên thích cúng bái, cầu xin, thần tượng Tăng Ni thay vì Phật và chánh pháp. Điều nguy hại của nó là nếu nhỡ thần tượng sụp đổ thì họ không biết chánh pháp để nương tựa và vì vậy xa lìa sự tu tập. Đó là điều đáng tiếc xảy ra đây đó hiện nay.
Một Tăng Ni nào đó phạm giới hay nội quy thì tất yếu bị xử theo giáo luật. Họ có thể bị phạt sám hối hay cao nhất là buộc hoàn tục. Đó là bản án thích ứng họ phải chịu. Tăng đoàn, tất nhiên, cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng vì thiếu nghiêm khắc, nhưng nhân đó, tăng đoàn điều chỉnh tốt hơn. Đây là quá trình giáo dục được thực hiện từ thời đức Phật đến nay. Tăng Ni phải truyền bá cho hàng cư sĩ hiểu nguyên tắc Phật dạy này để họ thấy được giá trị của giáo dục, và biết thể hiện tâm khoan dung khi thực hiện giáo dục. Hàng cư sĩ có quyền chỉ trích Tăng Ni khi họ phạm giới nhưng mục đích của nó phải nên là để chỉnh đốn và xây dựng. Khi vụ án đã xử lý đúng luật thì sự chỉ trích nên khép lại. Đó là cách hành xử của những người hộ pháp đích thực. Nhân cơ hội một vị Tăng Ni nào đó phạm lỗi để công kích Phật giáo và từ bỏ thực hành chánh pháp thì thật là không nên. Nhiệm vụ này thuộc về hàng cư sĩ.
Vai trò hàng cư sĩ
Hàng cư sĩ là thành phần không thể thiếu trong ngôi nhà Phật pháp. Người cư sĩ ngoài việc hộ trì cho Tăng Ni đời sống vật chất còn có trách vụ bảo vệ tăng đoàn. Cúng dường vật chất thì hầu như cư sĩ ở đâu cũng sốt sắng nhưng bảo vệ tăng đoàn thì chỉ có ở các nước Phật giáo Nam tông như Thái Lan, Lào…Hàng cư sĩ trở nên thờ ơ với việc bảo vệ tăng đoàn như vậy là một điều không tốt cho Phật giáo và đó là biểu hiện của sự chưa đồng thuận trong các chúng của đức Phật. Tình trạng này có thể giải quyết khi có sự phân định rõ ràng vai trò của Tăng Ni và cư sĩ, cũng như thẩm định và công nhận rõ ràng tinh thần Bồ tát nhập thế.
Duy trì cộng đồng Phật giáo cần vai trò của hàng cư sĩ. Trước nay, hàng cư sĩ đều cho rằng trách vụ duy trì Phật pháp là ở Tăng Ni. Điều đó đúng nhưng chưa đủ bởi nếu hàng cư sĩ không thực hành bổn phận người cư sĩ thì nhân sự đâu kế thừa. Hàng cư sĩ trước hết là duy trì nồi giống và tiếp nối đạo truyền thống của cha ông. Một gia đình mà từ trên xuống dưới đều là Phật tử thì gia đình ấy đang duy trì cộng đồng Phật giáo. Tiếc thay, rất nhiều gia đình tự xưng là Phật tử nhưng không làm được điều này. Ông bà, cha mẹ tự xưng là Phật tử nhưng không dám quy y, không dám thừa nhận tư cách Phật tử thì làm sao con cháu noi gương. Đây là sự mất mát của Phật giáo nói chung và của chính bản thân các gia đình nói riêng. Không là Phật tử nên không hiểu giáo pháp, không biết tu tập để chuyển hóa khổ đau. Đó không phải là gánh nặng cho gia đình, cho xã hội hay sao?! Nếu cho rằng làm Phật tử hiểu và hành trì chánh pháp không đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình thì chí ít cũng không ảnh hưởng xấu nào đến đời sống người cư sĩ. Huống chi, sự thật minh chứng rõ ràng là rất có lợi ích. Vậy thì tại sao rất nhiều Phật tử không dám thừa nhận tư cách của mình?! Có lẽ một phần là do Phật giáo chủ quan, thụ động và thiếu nhân sự có năng lực để truyền thụ chánh pháp. Cộng đồng Phật giáo suy giảm bắt nguồn từ đây.
Hàng cư sĩ góp phần duy trì chánh pháp. Phật giáo tại Ấn Độ bị diệt vong nhiều thế kỷ vì không có tăng đoàn và hàng cư sĩ không duy trì Phật giáo. Nếu như hàng cư sĩ tiếp tục hành trì lời Phật dạy và biết hộ trì chánh pháp như tín đồ các tôn giáo khác thì có lẽ Phật giáo không đến nỗi mất hết dấu tích nơi đất Ấn nhiều thế kỷ. Tăng đoàn có thể bị giết chết nhưng hàng cư sĩ thì không. Họ có thể giữ đạo bằng nhiều cách mà không ai có thể cấm được. Đáng tiếc là không mấy ai có tinh thần ấy. Ở Việt Nam, Phật giáo trải qua nhiều thăng trầm nhưng chưa mất vì suốt chiều dài lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có thể sống chung, dù cũng có lúc cạnh tranh. Thế nhưng, khi các tôn giáo độc tôn bắt đầu tấn công để cải đạo thì sự tồn vong của Phật giáo đáng được đặt ra. Trách nhiệm của Tăng Ni là tất yếu vì họ đã phát nguyện dấn thân. Tuy nhiên, nếu không có hàng cư sĩ vì đạo Phật, biết giữ gìn truyền thống gia đình theo đạo Phật, biết hướng dẫn con cháu theo đạo gốc, thì dù Tăng Ni có nỗ lực kết quả cũng khó đạt được như ý. Phật giáo là tài sản chung lẽ nào chỉ phó thác cho một chúng.
Điều kiện phát triển Phật giáo bền vững
Như vậy, giải phảp đặt ra là phải tìm cách phát triển Phật giáo bền vững. Thăng bằng là điều kiện để duy trì và phát triển một tổ chức như Phật giáo. Con chim muốn bay cao, bay xa cần phải có đôi cánh cân bằng và khỏe. Phật giáo muốn phát triển thì hai chúng phải đồng thuận nhau, cùng chia nhau trách nhiệm chung. Để đạt được mục đích ấy thì không gì khác hơn là hãy làm đúng chức năng của mỗi giới (tu sĩ và cư sĩ).
Tăng Ni phải quay về công việc thực hành và truyền bá chánh pháp thay vì chỉ phục vụ tín ngưỡng. Trong khi một vị Tăng hay Ni có thể thuyết một thời pháp để giáo hóa cho vài chục, vài trăm, vài ngàn người và nhiều hơn thì nghịch lý lại xảy ra là nhiều Tăng Ni tập trung lại chỉ để độ một người chết mà không ai dám chắc kết quả ra sao. Một người nói nhiều người có thể nghe chứ nhiều người nói làm sao một người nghe. Có ai từng đặt câu hỏi hương linh ấy nghe ai và nghe như thế nào không!? Thật sự tín ngưỡng đã ăn sâu và vô hình trung biến Phật giáo thành đạo tín ngưỡng. Có lẽ, Tăng Ni phải nên quay về độ người sống, giúp họ hiểu rõ tinh thần nhân quả của Phật giáo và thực hành đúng giáo lý ấy thì khi họ ra đi không cầu họ vẫn siêu.
Phật giáo rất cần sự hy sinh của chư tôn đức Tăng Ni. Phật giáo xưa nay mạnh là nhờ sự tu tập nhất là từ hàng xuất gia. Một hội chúng xuất gia làm biểu tượng đạo đức rất cần thiết trong thời đại ngày này. Nên chăng, các trụ sở giáo hội từ trung ương đến địa phương phải được đưa về đúng vị trí và chức năng của nó. Chư tôn đức trưởng lão hãy hy sinh chùa chiền riêng của mình để cùng tụ hội về sống chung trong các cơ sở giáo hội ấy dưới bậc thầy chánh pháp. Ở đó, mọi Phật sự đều thực hiện theo tinh thần yết ma thay vì cá nhân như ở chùa. Một mặt, chư tôn đức dễ dàng tập trung cho công tác Phật sự; mặt khác, làm biểu tượng cho hàng tứ chúng quay về nương tựa tu học. Làm được như thế thì lý nào hàng cư sĩ mất niềm tin nơi tăng bảo.
Hàng cư sĩ cần củng cố vai trò hộ pháp của mình. Trước hết, hàng cư sĩ nên tham vấn Tăng Ni để xác định rõ đâu là tín ngưỡng, đâu là đạo Phật nguyên chất để từ đó hạn chế dần niềm tin tín ngưỡng cầu xin và tu tập đúng pháp. Thứ hai, khẳng định tư cách Phật tử của mình và hướng cả gia đình theo truyền thống Phật giáo. Có như vậy vai trò cư sĩ của mình mới phát huy hiệu quả, bằng không thì cũng như ‘gió chiều nào ngã theo chiều đó’. Thứ ba, không đánh đồng Phật giáo với Tăng Ni hay giáo hội. Bởi vì, Tăng Ni hay giáo hội có thể thay đổi còn Phật giáo hay chánh pháp thì không hề đổi thay về giá trị cứu khổ của nó. Hãy thừa hưởng gia tài Phật giáo vì nó nào phải của riêng ai!


[1] Kinh Tương Ưng I, tr.128.

[2] Kinh Tứ Niệm Xứ, Trung Bộ I; Kinh Bất Động Lợi Ích, Trung Bộ III;

[3] Nyanatiloka, Từ điển Phật học, tr. 106.
[4] Kinh Tăng Chi V, số 33,145,171.
[5] Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ 16.
[6] Tạng Luật, Đại Phẩm I, chương 1.

Sunday, March 17, 2013

PHÁP ẤN PHẢI CÓ NIẾT BÀN

Điều thứ hai đại chúng được học là trong ba Pháp ấn của đạo Bụt phải có Pháp ấn Niết bàn. Nhiều vị kinh sư của Thượng tọa bộ đã bị ám ảnh bởi ý niệm về khổ cho nên đã thay thế Pháp ấn Niết bàn bằng Pháp ấn Khổ. Kinh Chiên Đà (Channa), kinh 262 của bộ Tạp A Hàm, còn giữ lại được nguyên vẹn công thức của ba Pháp ấn: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh (anityāh sarvasamskārāh, nirātmānah sarvadharmāh, santam nirvānam). Công thức này được lặp lại tới năm lần trong kinh này. Kinh Channa của tạng Pāli cũng nói tới chuyện thầy Channa đi cầu Pháp, nhưng đã bỏ mất Pháp ấn thứ ba là Niết bàn, tuy nhiên không dám thêm vào pháp ấn Khổ, sợ nói nếu tất cả các pháp đều là Khổ thì như thế là vơ đũa cả nắm, cho các pháp Tứ diệu đế, Bát chánh đạo v.v... của Bụt cũng là Khổ. Đó là lời giải thích về sau của các tổ Thượng tọa bộ.
Tam Pháp ấn là ba dấu ấn rất quan trọng trong Phật pháp. Thiếu Pháp ấn thứ ba là Niết bàn thì giáo lý không thể đích thực là giáo lý của Bụt.
Trên bình diện Tích môn ta thấy có sinh diệt, không, có người tạo nghiệp người thọ báo, có pháp hữu vi pháp vô vi, nhưng trên bình diện Bản môn thì ta phải thấy được tự tính của các pháp là không sinh không diệt, không có, không không, không tác giả không thọ giả, không hữu vi cũng không vô vi. Đó là lời Bụt dạy trong các kinh Ưu Đà Na và Như Thị Ngữ: có cái vô sinh, vô hữu, vô tác và vô hành. Thật tướng của các pháp là vô thường và vô ngã nhưng thật tướng của các pháp cũng là Niết bàn, do đó Niết bàn có thể tìm thấy trong sinh tử chứ không phải ngoài sinh tử. Truyền thống Bắc tông còn giữ lại được ba pháp ấn nguyên vẹn, và chính bộ Đại Trí Độ Luận của thầy Long Thọ cũng xác nhận ba pháp ấn là vô thường, vô ngã và Niết bàn. Chính công phu quán chiếu về Vô thường và Vô ngã đưa tới sự tiếp cận Niết bàn tức là thể tính bất sinh bất diệt của vạn pháp.
Vô thường không làm ra khổ
Tứ diệu đế bắt đầu bằng xác nhận sự có mặt của khổ đau, nhưng không phải Tứ diệu đế chỉ nói về khổ đau. Sự thực (đế) thứ ba là Diệt, có nghĩa là sự vắng mặt của khổ đau (nirodha) cũng có nghĩa là sự có mặt của sự lắng dịu và của hạnh phúc, kể cả hạnh phúc của Niết bàn. Nhưng cái ám ảnh về Khổ đã làm khuất lấp sự thực ấy, cho đến nỗi người ta có khuynh hướng cho tất cả là Khổ, quên mất trong cái tất cả ấy có Bụt, có Pháp, có Tăng, có con đường đi về Niết bàn an lạc. Những cái ấy đâu phải là khổ cho nên nói tất cả là vô thường vô ngã thì đúng mà nói tất cả là Khổ là không đúng. Cái ám ảnh này do thái độ giáo điều cố chấp mà có. Nó đi cả vào trong kinh văn và trong phép hành trì. “Đạo nhân thanh cố khởi” nghĩa là nếu thành đạo được cũng do mình lặp đi lặp lại cái công thức “idam dukkhan ti”, “cái này là khổ, cái này là khổ.” Phải than khổ như thế nhiều lần trong ngày thì mới mong thấy được con đường Bát chánh đạo. Vì vậy khổ là thức ăn nuôi Bát chánh đạo (dukkhāhāro maggangam maggapariyantanti).
Đoạn kinh sau đây, được lặp lại cả mấy trăm lần trong các bộ Nikaya và A hàm, là một chứng tích của cái ám ảnh đó được đưa vào trong kinh tạng, chỉ một vài trăm năm sau khi Bụt nhập diệt:
- Này các thầy Khất sĩ! Các thầy nghĩ sao? Sắc là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Thọ, tưởng, hành và thức là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Vậy thì những gì vô thường là khổ hay là lạc?
- Bạch đức Thế Tôn, khổ.
- Vậy thì những gì vô thường, khổ, luôn luôn biến dịch ấy, mình có thể nói rằng: cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là cái ngã của tôi không?
- Bạch đức Thế Tôn, không.
(Tương Ưng Bộ, 22.59)
Theo tinh thần của đoạn kinh văn này, vô thường là nguyên do của khổ đau. Sự thực không phải như vậy. Vô thường có thể là nguyên do của giải thoát, của an lạc, của hạnh phúc. Thử hỏi: nếu không có vô thường thì hạt bắp làm sao trở thành được cây bắp cho ta có trái ăn? Nếu không vô thường thì một người có bệnh không bao giờ được chữa lành, một chế độ độc tài không bao giờ được trở nên dân chủ, một phiền não không bao giờ được chuyển hóa để trở thành một bồ đề.
Nguyên do của cái khổ không phải là vô thường mà là cái tri giác sai lầm của ta về sự vật: sự vật vô thường mà ta cứ cho chúng là thường cho nên ta khổ. Uẩn, xứ và giới là vô thường và vô ngã, nhưng vì chúng ta cho chúng là thường, vì chúng ta vướng mắc vào chúng cho nên chúng ta khổ. Nói vô thường là nguyên do của khổ đau là vu oan cho Bụt. Vô thường là một cái thấy giúp ta tiếp cận được với vô ngã, với duyên sinh và sau đó với Niết bàn. Vô thường rất mầu nhiệm. Đó là một ngón tay chỉ cho ta thấy mặt trăng. Nó là cứu tinh của ta.
Thấy được như thế, ta có thể phục hồi được nguyên ý của Bụt, bằng đoạn kinh văn sau đây:
- Này các vị khất sĩ! Các thầy nghĩ sao? Sắc là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Thọ, tưởng, hành và thức là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Vậy thì những gì vô thường ấy, luôn luôn biến diệt trong từng sát na ấy, ta có thể gọi chúng là những cái ngã không? Ta có thể nói rằng: “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi” không?
- Bạch đức Thế Tôn, không.
- Này các vị khất sĩ! Quán chiếu về vô thường, về vô ngã, người hành giả sẽ đạt tới cái thấy duyên sinh, trung đạo, không sinh diệt, không có không, không tới đi, không thường đoạn, đó là Niết bàn, là sự lắng dịu, là giải thoát mọi niềm đau, là niềm vui cứu cánh.
Đọc đoạn kinh văn tân tu này ta thấy mọi chữ mọi câu đều có tính liễu nghĩa, không đưa lại cảm giác tiêu cực, bi quan và sự hiểu lầm như khi ta đọc đoạn trước. Vì vậy phục hồi được tam Pháp ấn rất quan trọng. Với sàng lọc tam Pháp ấn ta có thể tóm bắt được rất nhiều con sâu rọm từ bên ngoài đưa vào và từ sự bất cẩn trong quá trình truyền thừa đưa xuống. Hễ trùng tụng sai lầm một lần là sự sai lầm trở thành đồng bộ, giống như trong máy tính. Cho nên có không biết bao nhiêu là sai lầm và mâu thuẫn trong đại tạng. Vì thế chư tổ đã căn dặn: y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan. Bụt đã bị oan nhiều rồi, ta phải sử dụng những phương pháp khoa học như khảo cổ học và văn bản học để minh oan bớt cho Ngài.
 TS Thích Nhất Hạnh
(Trích Lá Thư Làng Mai 36- 2013)

Monday, March 4, 2013

Thiếu trí tuệ, con người nhìn nhận méo mó về lễ hội

Lễ hội không phải để vui chơi hay cầu xin, cúng bái

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền, lễ hội ngày nay đã bị biến tướng, mất đi nhiều giá trị tốt đẹp vốn có.

“Con người đang nhìn nhận sai lầm về lễ hội, dẫn đến những ứng xử sai lầm” – ông khẳng định.

Theo phân tích của ông, lễ hội gồm hai phần: Phần lễ và phần hội. Cái lễ mà rất nhiều người đang hiểu, thực sự không phải là lễ mà là cúng bái. Thực tế lễ hội không phải hướng đến cúng bái. Cúng bái chỉ là thuộc tính của một lĩnh vực thuộc lễ chứ không phải chiếm toàn bộ của lễ. Vì lễ hội đã bị người ta hiểu lầm giữa “lễ” là cúng bái” và “hội” là vui chơi nên dẫn đến hành xử sai lầm.

Không có một nghĩa nào của chữ “hội” là vui chơi cả. Chữ hội chỉ mang một nghĩa “là tập hợp một cộng đồng nhất định nào đó”. Lễ hội là tập hợp một cộng đồng để thực hiện những điều về lễ. Vậy thì “lễ” là vấn đề chính trong “lễ hội” chứ không phải là cái “hội”.

“Suy cho cùng, lễ hội là giáo dục con người đi đến đích là yêu thiên nhiên đồng nội, yêu cộng đồng và đỉnh cao là tinh thần yêu. Lễ hội kéo con người ra khỏi tính cá nhân để trở về với cộng đồng, cho nên mới có câu “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc nhà…. “Thánh” ở đây là văn hóa, là tinh thần chung chứ không phải là một ông thần vu vơ ban lộc theo cách nhìn hèn hạ bây giờ” – ông chia sẻ.

Chứng kiến việc người dân lên chùa, đi lễ hội để cầu cúng, ông khẳng định tất cả đều do họ không hiểu được bản chất của lễ hội, không tìm hiểu về những thứ mà mình đang tin, đang hướng đến.

Ông giải thích: “Rõ ràng, lễ hội không phải là dịp để con người cúng bái, cầu xin. Chính vì không hiểu được bản chất lễ hội nên người ta còn coi hội là trò chơi. Ít ai chịu tìm để hiểu được, thực ra những trò diễn trong lễ hội đều gắn với thiên nhiên vũ trụ bảo vệ con người. Sự thiếu hiểu biết khiến nhiều lễ hội biến tướng, méo mó như hội trọi trâu, trọi gà đều nhuốm màu trần tục.

Cái lễ, ít nhất trong lễ hội, nổi bật lên 4 ứng xử cơ bản: Một là ứng xử với thần linh, theo nhận thức rõ ràng của người Việt: Thần linh là một thứ công cụ tinh thần cao cả, vì con người mà tồn tại, là điển hình của Chân – Thiện – Mỹ. Hai là ứng xử với cộng đồng. Ba là ứng xử với tông tộc họ hàng và thứ Tư, là ứng xử với chính mình.

Qua lễ hội, con người tự nguyện thoát thân phận cố hữu của mình là tính cá nhân, đi làm việc làng, tìm lấy chỗ đứng của mình trong cộng đồng, tìm vinh quang ở làng xã. Không có vinh quang ấy, ko có hoạt động ấy thì cuộc sống của con người trở nên tẻ lạnh vô cùng. Con người sẽ cô đơn giữa rừng người, trở thành bơ vơ trong một tế bào lớn là cộng đồng làng xã. Ngoài ra còn có những mối quan hệ khác như là quan hệ với thiên nhiên, vũ trụ và nhiều lĩnh vực văn hóa khác nữa…”

Đừng “đem rác rưởi của trần gian ùa vào cõi thiêng liêng”

Cho rằng, bằng những hành xử thiếu hiểu biết của mình, một bộ phận người dân đang “đem rác rưởi của trần gian vào cõi thiêng liêng”, nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền khẳng định: “Nếu không dùng trí tuệ để hiểu thì con người chỉ nhìn thấy trong lễ hội những trò chơi và gắn với mê tín dị đoan, mọi ước vọng đều gắn với cá nhân, tầm thường. Những giá trị tinh thần trong lễ hội bị méo mó dẫn đến nhiều sai trái, tai họa”.

Sai trái, tai họa này chủ yếu đến từ những bộ óc thực dụng, hèn kém vật chất hóa lễ hội, làm mất đi tinh thần cao đẹp vốn có của lễ hội.

Nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền nhấn mạnh, những bộ óc thực dụng kiểu này thường phổ biến ở những thành phần có tiền, “phất” lên nhờ khủng hoảng tất yếu trên con đường phát triển của xã hội. Chính những kẻ có tiền, với niềm tin mê muội, hèn kém và không có trí tuệ làm bệ đỡ đã đua nhau bôi nhọ thần linh bởi sự mù quáng của họ.

“Người ta lấy cúng bài để cầu xin làm trọng, dẫn đến nảy sinh, phát triển ý thức “trần sao âm vậy”, “tốt lễ dễ thưa”, cúng đồ mặn, thắp hương vô tội vạ, gài cả tiền vào tay, nhét cả tiền vào mồm Phật, bẻ tay bụt, cướp đồ lễ làm của riêng cầu những điều xấu xa, ẩn thiện của riêng mình.

Suy cho cùng, đó chính là việc đem rác rưởi của trần gian ùa vào cõi thiêng liêng. Thần linh nào chịu được hàng trăm bài khấn của hàng trăm gia đình đều giống nhau? Thần linh nào chịu được cả bó hương đốt sặc sụa, nghi ngút?”
Theo vietnamnet.vn

Friday, February 1, 2013

Vị đắng cô đơn?

Từ hai tháng gần đây, xuất hiện làn sóng dư luận về quan điểm của ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Cà phê Trung Nguyên về Starbucks cùng với việc chính thức có mặt tại Việt Nam của tập đoàn này.
Cách trích dẫn cắt đoạn, giật “tít” của người viết về các phát biểu của ông Vũ về Starbucks tạo nên những luồng ý kiến trái chiều khá sôi nổi nhưng nếu chỉ có thế thì người ta chưa thấy toàn thể về nhân vật nổi tiếng này.
Nếu theo dõi ngôn hành của ông Vũ từ gần mười năm qua – nghĩa là trước rất lâu hành động xâm nhập thị trường Việt Nam của Starbucks- người ta sẽ thấy liền mạch các quan điểm chính của ông mà từ lâu đã vượt qua chuyện mua bán cà phê bình thường.
Qua khá nhiều diễn đàn, nhiều sự kiện trong và ngoài nước, với nhiều lần phát biểu, nhiều bài tham luận về các đề tài khác nhau nhưng tựu chung ông Vũ nêu bốn ý kiến chính yếu có tính liên kết có thể tóm tắt: một hoài bão – ba tinh thần.
Một là hoài bão về nước Việt hùng mạnh, thịnh vượng có thể ảnh hưởng đến thế giới. Ông Vũ bằng những lập luận đã nỗ lực chứng minh người Việt hoàn toàn có đủ điều kiện để làm được chuyện to tát ấy và bước đầu là phải có khát vọng mãnh liệt.
Ông khơi dậy hoài bão của mình thông qua các diễn đàn “nước Việt ta lớn hay bé”, “Người Việt sử dụng hàng Việt”, “ Sáng tạo vì khát vọng Việt”… Ông ta và cộng sự bày tỏ hoài bão của mình cụ thể bằng các chiến lược kinh tế, mô hình công nghệ mới có thể thúc đẩy phát triển đột phá, đưa đất nước phú cường.
Hai là tinh thần sáng tạo, ông Vũ và cộng sự luôn cổ động cho tinh thần sáng tạo mà ông gọi là sáng tạo có trách nhiệm, xem sáng tạo là phương thế giúp cho người Việt có thể xóa bỏ những khoảng cách đang có về thành tựu khoa học công nghệ đối với các cường quốc. Gần đây, nghe nói Trung Nguyên đang chủ xướng chương trình “sáng tạo – khởi nghiệp” hướng về thanh niên, phải chăng cũng là ước muốn xây dựng thế hệ thanh niên sáng tạo để kiến tạo đất nước thịnh vượng.
Ba là tinh thần doanh nhân, theo ông Vũ các quốc gia cường thịnh trên thế giới nhờ xây đắp tinh thần doanh nhân, đó là ý chí làm giàu cho bản thân góp phần làm giàu cho xã hội, đó tư duy lấy kinh tế làm trọng tâm để kiến tạo phồn vinh.
Cuối cùng, cũng là quan điểm mà dư luận hay trích dẫn các phát biểu của ông Vũ, là tinh thần chiến binh, đó là tinh thần tranh đua không ngán ngại trước mọi đối thủ dù có sức mạnh vật chất to lớn, ý chí kiên định đến ngày thắng lợi mà ông và cộng sự đã thể hiện qua cuộc chiến với Nestle.
Mặc dù, có một hệ thống lý luận, những lý lẽ khá đầy đặn, sở hữu một công ty cà phê số một tại Việt Nam, có những thành tựu đáng kể trên thương trường, có được đây đó sự ủng hộ trong nước và cả quốc tế. Nhưng chuyến này, khi đối đầu với Đế chế Starbucks thì ông Vũ và cộng sự sẽ không thể nào chiến thắng. Có thể đưa ra kết luận này từ các lý do hiển nhiên sau đây.
Sức mạnh vật chất của Đế chế toàn cầu
Doanh số ròng hàng năm của Starbuck gấp bốn lần doanh số toàn ngành cà phê của của quốc gia số một cà phê thế giới là Việt nam, với 16,863 quán cà phê mang tên Starbucks trên toàn cầu (chưa kể các thương hiệu khác thuộc tập đoàn này).
Có lẽ tất cả doanh nghiệp kinh doanh trong ngành F&B (thực phẩm – ăn uống), đặc biệt ngành cà phê Việt Nam đều nhận thức rõ sức mạnh khủng khiếp này, nên có thể họ đã kinh hồn bạt vía im bặt tăm tiếng hoặc giả họ đang lặng lẻ để tìm cách thỏa hiệp “chung sống hòa bình” với Đế quốc Mông Cổ trên lĩnh vực kinh doanh F&B?
Ngó quanh chỉ còn đơn độc một người, ông Đặng Lê Nguyên Vũ, khi ông ngang nhiên thách thức Starbucks bằng những luận điểm có thể thắng được Starbucks được báo giới “trích ngang” thành những câu nói trứ danh gây nhiều tranh cãi. Nếu chú ý xâu chuỗi lại các bài nói chuyện, bài viết của ông ta thấy hệ thống quan điểm của ông đối với các tập đoàn cà phê đa quốc gia đã vượt tầm tương tranh trên thị trường đối với một đối thủ cụ thể. Ông Vũ nêu rõ ràng, sau hơn một thế kỷ cà phê có mặt tại Việt Nam, cho đến nay khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu số một về sản lượng thì ngành cà phê Việt vẫn ở vị trí tệ hại nhất trong phân đoạn thấp kém nhất của chuỗi giá trị toàn cầu với doanh số tạo của ngành cà phê Việt Nam với hàng triệu con người không bằng 1/4, 1/5 doanh số một tập đoàn như Starbucks, Nestle.
Quá thương cho ông Vũ và đồng đội dù nhận chân mặt thật của các đế chế kinh doanh và đã nỗ lực rất nhiều để kêu gọi mọi người nhận diện để tìm ra kế sách kinh tế - văn hóa cho đất nước để có thể nhập cuộc chơi toàn cầu mà vẫn bảo đảm vị thế nhưng hình như là không có kết quả hồi đáp.
Nay chỉ còn đơn độc Trung Nguyên đối diện với sức mạnh toàn cầu của một Đế chế đầy quyền thế, ông Vũ và cộng sự sẽ ra sao?
Sự quy phục của giới tinh hoa
Từ hơn 10 ngày nay (tháng 1/2013), tại ngã sáu trung tâm Sài Gòn, nàng tiên cá Starbucks chói lọi, mỉm cười ngạo nghễ đối diện với bức tượng Phù Đổng Thiên Vương cũ kỹ. Hình ảnh Starbucks tại Sài gòn khiến ta liên tưởng hình tượng người thực dân đã chinh phục các bộ lạc thổ dân bán khai mấy thế kỷ trước bằng công thức “da trắng – súng hỏa mai – sự cộng tác của thầy mo bản địa” đã khiến hàng hàng lớp lớp thổ dân cúi mình thần phục vì cho rằng “người trời đã xuống”.
Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hóa, Starbucks còn có lợi thế hơn người thực dân ngày xưa, với công thức “ biểu tượng Mỹ - sức mạnh tài chính – sự ngưỡng mộ cư dân bản địa” họ đã khuất phục được ngay từ trong não phần của giới được xem tinh hoa, có trình độ học thức, có dịp đi đây đó, tiếp xúc để biết đại danh “Starbucks”, được có dịp nếm thử Starbucks và đã sùng kính Starbucks ngay khi Starbucks chưa kịp đặt bước chân chinh phạt đến nước sở tại.
Do đó, giới tinh hoa, tầng lớp có ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng, vốn đã tôn thờ những thương hiệu mang tính biểu tượng cho giá trị ngoại thì nay chắc chắn rất sẵn lòng quy phục khi Starbucks chính thức xuất hiện tựa như “thần tử thấy long nhan”. Họ sẽ rất sẵn lòng biểu thị sự thần phục tự động này một cách uyên bác thậm chí đầy thuyết phục nhằm dẫn dụ các tầng lớp quần chúng như ta thấy qua các bài viết có vẻ khách quan nhưng đầy minh chứng cho sự sùng bái thế lực hùng mạnh của Starbucks.
Sự quy phục tự giác đối với đế chế Starbucks của tầng lớp tinh hoa vốn có ảnh hưởng tâm lý quần chúng sẽ là chiếc gậy thần thông giúp Starbucks dẹp bỏ những giá trị biểu tượng nội lực, khỏa lấp tiếng nói trái chiều mà không tốn một viên đạn. Thêm vào đó là sự “độ lượng” của giới tinh hoa bản địa với kẻ chinh phục. Họ rất dễ quên cho câu chuyện chuyển giá để trốn thuế, câu chuyện nước thải phá hỏng môi sinh cả dòng sông, câu chuyện độc chiếm vùng nguyên liệu ép giá cà phê của các tập đoàn biểu tượng cho giá trị văn minh …
Người tiêu dùng thành con tin
Tại Việt Nam, chắc không mấy khó hình dung cảnh tượng khách hàng đủ mọi lứa tuổi xếp hàng dài dọc theo tường khách sạn New World tại Sài Gòn hoặc con đường sang trọng nào đó tại Hà Nội dưới trời nắng gắt của phương Nam hay mưa phùn buốt giá miền Bắc để có được cốc Starbucks. Nhưng quan trọng hơn Starbucks bán cho người tiêu dùng các nước đang phát triển biểu tượng “sành điệu”, “quốc tế”, “sang”.
Vậy Starbucks đâu phải chỉ bán sản phẩm thuần, họ cung cấp những giá trị ảo ẩn tàng đằng sau sản phẩm đó chứ. Người tiêu dùng Việt liệu có thể tránh trở thành con tin của Đế chế Starbucks để đổi lấy những giá trị huyễn hoặc xuất phát từ tâm lý sính ngoại cộng với tâm thế nhược tiểu vốn ăn sâu trong huyết quản không?
Hình như lại chỉ có ông Vũ – Trung Nguyên. Ông không nói với người tiêu dùng “hãy uống cà phê Trung Nguyên đi” mà ông luôn nói về những điều vượt qua kích cỡ bình thường của marketing. Ông nói về nghĩa vụ của mỗi người trong bảo vệ và mở rộng “biên giới mềm” của hàng hóa, của biên cương văn hóa quốc gia trong cuộc chiến toàn cầu hóa hiện nay.
Ông thường nhấn mạnh đó là cuộc đấu tranh giữa tự cường kinh tế và nô lệ tiêu dùng, giữa tự chủ tư tưởng và nô dịch văn hóa ngay trên đất nhà. Bên cạnh lời nói, ông cùng cộng sự đã cố gắng phát động các chương trình như “ Thanh niên sáng tạo- khởi nghiệp- xây dựng đất nước” với mộng ước xây đắp phồn vinh cho cộng đồng.
Trong lúc ông Vũ và cộng sự đang lao tâm khổ tứ bồi đắp những giá trị vượt tầm quá xa so với các loại chiến lược marketing nhằm gia tăng thị phần, doanh số mà báo giới thường đề cập, thường so sánh giữa Trung Nguyên- Starbucks. Thì Starbucks hình như đang rảnh tay để thủ thắng bằng việc quảng bá những giá trị ảo tưởng để chiếm hữu doanh số ròng và chế ngự toàn phần tâm thức của người tiêu dùng xứ nhược tiểu.
Tóm lại, viễn cảnh thua thiệt đang bày ra rõ rệt với ông Vũ và cộng sự trước Starbucks. Vì ông không thể chỉ tập trung vào cuộc đấu với tập đoàn Starbucks khổng lồ. Nhưng, ông và đồng đội lại phải đơn độc đối đầu với sự quy hàng tự giác những giá trị ảo giác đến từ phương Tây, sự vô cảm trước những giá trị quốc hồn-quốc túy do tinh thần nhược tiểu đã thấm sâu trong tâm thức cộng đồng. Và càng thương thay khi ông Vũ và cộng sự lại không tỏ dấu hiệu từ bỏ những khát vọng và con đường phụng sự cộng đồng mà ông đã chọn từ rất lâu trước khi cái tên Starbucks được nói đến tại Việt Nam.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Phan Gi đang sống ở Pháp. nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese