Thursday, July 18, 2013

Nguồn gốc và ý nghĩa 18 vị A-la-hán ở Trung Quốc

Hình tượng các vị A-la-hán là một trong những đề tài quan trọng trong nền mỹ thuật Phật giáo. Nghệ thuật đó bao gồm những mẫu tượng khác nhau, lưu truyền rất rộng rãi trong dân chúng. Trải qua năm tháng, phương pháp truyền bá trực diện đó đã khắc sâu vào trong tâm khảm của con người. Trong quá trình truyền bá đạo Phật, ngoài việc biên chép lại kinh sách hay thăng tòa giảng giải những triết thuyết của đức Phật, người xưa và nay thường dùng hình thức hội họa hay điêu khắc để khắc họa những hình tượng kinh điển thường mô tả. Phong cách, bút pháp biến đổi theo từng thời đại, nên sự hình thành những mẫu tượng có nét khác nhau tùy vào sự thịnh hay suy của triều đại đó. Sự ưa chuộng, phát huy và tô vẽ cái đẹp của mỹ thuật Phật giáo phần nào thể hiện được tính cách của mỗi con người. Ở Trung Quốc, việc khởi tạo hình tượng A-la-hán hình thành rất sớm, bắt đầu từ thời đại Nam Bắc triều, lớn mạnh vào cuối nhà Đường và đạt đỉnh cao nghệ thuật vào thời đại nhà Tống. Bắt đầu và phát triển qua nhiều thời đại, hình tượng A-la-hán rất sinh động, phong cách có nhiều nét đặc thù, thể hiện nổi bật khí chất cao nhã của các văn nhân Trung Quốc, thể hiện nhân sinh quan và vũ trụ quan theo từng thời đại.
I. A-la-hán là gì?
Trong các tự viện Phật giáo ở Trung Quốc, có rất nhiều nơi tôn thờ tượng 16 hoặc 18 vị La-hán. Tướng mạo những vị này kỳ lạ khác thường, chẳng ai giống ai: có vị bụng to; có vị gầy như que củi; có vị lông mày dài đến tận đầu gối; có vị mặt đầy vết nhăn; có vị tai to, mũi nhọn; có vị môi dày, răng ít; có vị phong thái đoan trang; có vị ngây ngây, dại dại; có vị cầm chuỗi hạt; có vị cầm gậy trúc, v.v… nhưng nói chung, hình dáng các Ngài đều mang đậm sắc thái phong cách Ấn Độ, không giống những người xuất gia ở Trung Quốc. A-la-hán gọi tắt là La-hán, nghĩa là “Bậc đáng được tôn kính”, hay còn gọi là “Tôn giả” ý nói bậc đầy đủ cả tánh đức và trí tuệ.
Trong kinh, La-hán có ba nghĩa:
1. Sát tặc: Bậc đã diệt trừ sạch bọn giặc phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, phẫn hận, tật đố, thân kiến, biên kiến, hư ngụy, vị kỷ, hẹp hòi, làm phương hại đến sự thanh tịnh an lạc của nội tâm và gây cản trở chúng ta tu hành.
2. Ứng cúng: A-la-hán là bậc đáng được mọi người tôn kính cúng dường. Vì sao? Vì các Ngài là bậc chân tu, phạm hạnh, thành tựu vô lượng công đức, phước huệ trang nghiêm, xứng đáng làm bậc mô phạm cho những hành xử và ngôn hạnh của chúng ta.
3. Bất sanh: A-la-hán đã tận trừ tất cả phiền não lậu hoặc, không còn gây tạo ác nghiệp, do đó, không còn chuyển kiếp đầu thai thọ khổ luân hồi.
II. Ảnh hưởng của La-hán đối với Trung Quốc
Từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, những bậc Thánh tăng La-hán đạo hạnh cũng dần dần đi vào tín ngưỡng dân gian, sống gần gũi với nhân dân. Lúc đầu, mọi người chỉ thấy hiếu kỳ và yêu thích hình tướng kỳ lạ khác thường của các Ngài. Nhưng sau đó, thấy khả năng phi hành biến hóa pháp lực vô biên thì ca ngợi, tán thán, khởi lòng ngưỡng mộ, cuối cùng, cảm được tấm lòng từ bi, vị tha, cứu nhân độ thế của các Ngài thì tỏ niềm cung kính. Do đó, A-la-hán mặc nhiên được nhân dân tiếp nhận, nhất là trong hội họa, điêu khắc, thơ ca, tiểu thuyết Phật giáo dùng La-hán làm nhân vật và đề tài cho rất nhiều câu chuyện. Đến nay, Trung Quốc còn có không ít núi non, thực vật, thức ăn, vật dụng… vẫn lấy La-hán để đặt tên như: núi, có động La-hán; cây, có tùng La-hán; ẩm thực, có rau La-hán, cơm chay La-hán; trang phục, có áo La-hán, giày La-hán.
III. Xuất xứ 16 vị La-hán
Y cứ theo kinh điển ghi chép thì ban đầu chỉ có 16 vị La-hán. Ngày nay, chúng ta thường nói 18 vị La-hán là do sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc được thêm vào hai vị. Điểm này, chúng tôi sẽ bàn lại ở phần sau.
16 vị La-hán xuất hiện sớm nhất trong Pháp trụ ký, quyển kinh thư do vị Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la (Hán dịch: Khánh Hữu) thuyết tại Srilanka. Dưới đây, tôi xin nói sơ lược về nội dung Pháp trụ ký:
Sau khi đức Phật Niết-bàn 800 năm, tại nước Sư Tử (nay là thủ đô của Srilanka), có một vị La-hán tên Nan-đề-mật-đa-la đạo hạnh trang nghiêm, biện tài vô ngại, có thể lý giải tất cả mọi nghi vấn, khiến mọi người ai nấy đều được an vui. Vì thế, nhân dân trong nước đó rất thương kính Ngài.
Nhưng rồi một hôm, Ngài nói với mọi người:
- Này các vị, trách nhiệm hoằng dương Phật pháp ở thế gian của tôi đã tạm xong, không bao lâu nữa tôi sẽ xa các vị, ai có thắc mắc gì thì cứ hỏi, tôi giải đáp cho.
Nghe vậy, ai cũng thương tiếc, tủi khóc sụt sùi. Thấy thế, Ngài an ủi:
-  Này các vị! Vạn sự vạn vật trên đời có sanh ắt có diệt, có hợp ắt có tan, chẳng vật gì thường trụ cả, xin chớ quá bi thương. Chỉ cần các vị nương theo Phật pháp tu hành thì tự nhiên sẽ có kết quả. Tôi sống trên đời này hay không cũng không có gì khác cả!
Nghe Ngài nói, lúc này, họ mới chịu nín khóc, hỏi:
- Thưa tôn giả! Ngài sắp xa chúng con rồi, không biết còn có vị La-hán nào tiếp tục lưu lại thế gian không?
- À, đương nhiên là có! Cách đây 800 năm, trước lúc đức Thế tôn sắp niết-bàn, Ngài đã đem chánh pháp vi diệu phó chúc cho 16 vị La-hán cùng với đệ tử của họ, bảo họ tiếp tục lưu lại nhơn gian dốc sức hộ trì hoằng dương để Phật pháp được trường tồn mãi trên thế gian.
- Thưa tôn giả! Đó là 16 vị La-hán nào? Mọi người  giục hỏi.
Thấy vậy, Nan-đề-mật-đa-la nêu rõ danh tánh và trú xứ của 16 vị La-hán, Ngài nói:
1. Tân-độ-la-bạt-la-nọa-xà (còn gọi là  Tân-đầu-lô-phả-la-đọa), vị tôn giả này trú tại Tây-cù-đà-ni-châu.
2. Ca-nặc-ca-phạt-sa, vị tôn giả này trú tại nước Ca-thấp-di-la.
3. Ca-nặc-ca-ly-nọa-xà, vị tôn giả này trú tại Đông-thắng-thần-châu.
4. Tô-tần-đà, vị tôn giả này trú tại Bắc-cu-lô-châu.
5. Nặc-cự-la, vị tôn giả này trú tại Nam-thiệm-bộ-châu.
6. Bạt-đà-la, vị tôn giả này trú tại Đam-một-la-châu.
7. Ca-lý-ca, vị tôn giả này trú tại Tăng-già-trà-châu.
8. Phạt-xà-la-phất-đa-la, vị tôn giả này trú tại Bát-thích-noa-châu.
9. Thú-bác-ca, vị tôn giả này trú tại núi Hương Túy
10. Bán-thác-ca, vị tôn giả này trú ở cõi trời Đao Lợi.
11. La-hỗ-la, vị tôn giả này trú tại Tất-lợi-dương-cù-châu.
12. Na-già-tê-na, vị tôn giả này trú tại núi Bán-độ-ba.
13. Nhân-yết-đà, vị tôn giả này trú tại núi Quảng Hiếp.
14. Phạt-na-bà-tư, vị tôn giả này trú tại núi Khả Trụ.
15. A-thị-đa, vị tôn giả này trú tại núi Thứu Phong.
16. Chú-trà-bán-thác-ca, vị tôn giả này trú tại núi Trì Trục.
Có người hiếu kỳ hỏi:
- Thưa tôn giả, nhưng sao 800 năm nay không ai thấy hình dáng các Ngài?
- Mười sáu vị Đại A-la-hán này cùng chư đệ tử thường tham dự pháp hội khắp các tự viện. Có điều, khi các Ngài quang lâm toàn bộ cách ăn mặc giống hệt như người thường nên hàng phàm phu mắt thịt chúng ta không biết các Ngài là Đại A-la-hán đó thôi - Nan-đề-mật-đa-la đáp.
- Thưa Ngài, đến khi nào thì 16 vị La-hán ấy mới xa thế giới của chúng con?  Mọi người khẩn thiết hỏi.
- Mười sáu vị La-hán phải ở mãi đến khi nào thọ mạng con người sống đến 70.000 tuổi, khi Phật pháp đã hưng thịnh ở nhơn gian thì các Ngài mới ra đi. Lúc ấy, 16 vị La-hán sẽ vân tập lại một chỗ, vận thần thông dùng kim ngân, trân châu, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách các món bảo vật của thế gian kiến tạo một bảo tháp, rồi thỉnh xá-lợi của Phật an trí vào bên trong. Sau đó, cùng chúng đệ tử bay lên hư không nhiễu quanh tháp, xưng tán đức Như Lai, rải các thứ hương thơm, hoa báu cúng dường rồi thưa với đức Phật : “Bạch đức Thế Tôn! Nhiệm vụ Ngài giao, chúng con đã hoàn thành viên mãn. Bây giờ, chúng con muốn chuyển sanh đến quốc độ khác để hoằng dương Phật pháp”. Nói xong, các Ngài dùng chơn hỏa tam muội thiêu thân giữa hư không, nhục thân cháy không còn mảy may.– Nan-đề-mật-đa-la tận tình trình bày để mọi người hiểu rõ việc lưu lại thế gian của 16 vị La-hán.
IV. Nguyên nhân đưa đến 18 vị La-hán
Sau khi Pháp trụ ký được Pháp sư Huyền Trang dịch ra Hán văn, 16 vị La-hán được đông đảo Phật giáo đồ Trung Quốc hân hoan đón nhận, ca tụng nồng nhiệt. Nhưng trong kinh điển chỉ có 16 vị La-hán, không có danh xưng “Thập bát La-hán”. Thế thì, xuất hiện thêm hai vị nữa là do đâu? Tên các Ngài là gì? Lai lịch thế nào? Hành tung ra sao? Vì sao các Ngài được Phật giáo đồ đời sau chọn đưa vào hàng 18 vị La-hán?
Thật ra, 18 vị La-hán là do từ 16 vị diễn biến phát triển, dần dần thêm vào thành 18 vị. Nguyên nhân chủ yếu là từ khi bắt đầu có hội họa, tiếp đến là điêu khắc, sau cùng là văn học.
Thời Ngũ Đại, cách đây hơn 1000 năm, tại Trung Quốc, có họa sĩ Trương Huyền vẽ tượng 18 vị La-hán. Đây là tượng 18 vị La-hán sớm nhất mà chúng ta được biết.
Triều nhà Tống, đại văn hào Tô Đông Pha phát hiện những bức tượng đó ở đất Đam Nhĩ (tức Nam Hải sau này) nên cao hứng làm 18 bài Tán (một thể văn cổ sau truyện ký, dùng văn tự ngắn gọn để ca tụng hay phê bình thiên nhiên và con người) ca ngợi, nhưng Tô Đông Pha không ghi rõ tên từng vị. Do đó, chúng ta chẳng biết hai vị La-hán 17 và 18 trong bức họa chung qui là ai.
Sau đó không lâu, Hòa thượng Quán Hưu cũng vẽ tượng 18 vị La-hán. Tô Đông Pha từ Nam Hải trở về, lúc đi ngang qua chùa Bảo Lâm ở Thanh Hiệp nhìn thấy bức họa này thì ông viết tiếp 18 bài Tán nữa. Điểm khác nhau giữa lần này và lần trước là ở mỗi bài Tô Đông Pha đều chú thích rõ ràng tên từng vị. Ông cho rằng vị 17 là tôn giả Nan-đề-mật-đa-la, vị 18 là tôn giả Tân-đầu-lô. Nhưng Tân-đầu-lô là gọi tắt của Tân-độ-la-bạt-la-nọa-xà, vị La-hán đầu tiên trong 16 vị mà Tô Đông Pha không nhận ra điều này nên đã lập lại hai lần tên của một tôn giả.
Còn tượng 18 vị La-hán của Trương Huyền và Hòa thượng Quán Hưu vẽ thì, vị 17 được thêm vào là tôn giả Nan-đề-mật-đa-la, người nói Pháp Trụ Ký giới thiệu danh tánh, trú xứ, sự tích 16 vị La-hán; vị 18 là Pháp sư Huyền Trang, vị Cao tăng đời Đường sang Ấn Độ thỉnh kinh và là người phiên dịch “Pháp Trụ Ký”, làm như vậy cũng không có gì vô lý quá đáng. Sai là ở chỗ Tô Đông Pha đã bỏ ngài Huyền Trang mà trùng lập lại Tân-độ-la-bạt-la-đọa.
Đến đời Tống, niên hiệu Hàm Thuần năm thứ 5 (CN 1269), ngài Chí Bàn viết quyển Phật Tổ Thống Ký, không tán thành việc đưa tôn giả Nan-đề-mật-đa-la vào hàng 18 vị La-hán, vì tôn giả là người giới thiệu 16 vị La-hán, thời gian cách nhau giữa các Ngài đến 800 năm, làm sao có thể kết hợp Ngài với các  nhân vật trong tranh được. Hơn nữa, còn thêm vào tôn giả Tân-đầu-lô tạo nên sự trùng lập càng làm mất đi ý nghĩa. Do đó, Ngài đề xuất nên đưa hai vị tôn giả Ca-diếp, Quân-đồ-bát-thán vào hàng 18 vị La-hán. Ngài Ca-diếp là một trong mười vị đệ tử lớn của Phật, và Ngài Quân-đồ-bát-thán cũng là vị đệ tử được đức Phật rất quý trọng. Lúc tuổi xế chiều, đức Phật  từng dặn:
“Ta nay đã 80 tuổi rồi, sống cũng không còn bao lâu, Ca-diếp, Quân-đồ-bát-thán, Tân-đầu-lô, La-hầu-la bốn vị hành đạo giáo hóa sau Ta nên lưu lại ở đời một thời gian nữa, thay Ta hoằng dương Phật pháp hóa độ chúng sanh.”
Đến khi 18 vị La-hán được truyền vào Trung Hoa, Tây Tạng, thì ngoài 16 vị La-hán vốn có, người ta còn thêm vào cư sĩ  Pháp Tăng (Đạt-ma-đa-la) và Bố Đại Hòa thượng. Pháp Tăng là người núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc. Thường ngày, Ngài tôn thờ 16 vị La-hán và luôn được cảm ứng, ngày nào cũng thấy Phật ngự giữa mây phóng quang. Hình vẽ của Ngài là lưng mang hòm kinh, bên cạnh có con hổ nằm. Bố Đại Hòa thượng tương truyền là hóa thân của Bồ-tát  Di-lặc.
Trong Bí Điện Châu Lâm Tục Biên quyển 4, cũng có tượng 18 vị La-hán. Đời nhà Thanh vua Cao Tông từng viết lời ca ngợi vào bức họa, nhưng vua thay tôn giả Ca-diếp bằng Hàng Long La-hán và tôn giả Di-lặc bằng Phục Hổ La-hán, làm như vậy khác xa với những ý kiến ở phần trước. Mặt khác, việc vua Cao Tông đưa hai vị Hàng Long, Phục Hổ thay ngài Ca-diếp và ngài Di-lặc cũng có người không tán thành vì Long, Hổ là hai con vật tượng trưng của Đạo giáo, không liên hệ gì mấy đến Phật giáo.
Tổng hợp những ý kiến trên, ta thấy sự xuất hiện của 18 vị La-hán hoàn toàn không có căn cứ trong kinh điển, chỉ do các họa sĩ họa nên, ngoài 16 vị La-hán, vẽ thêm vào hai vị và được quần chúng tiếp nhận rộng rãi mà thôi. Từ đó, mỗi khi nhắc đến La-hán là mọi người đều nói 18 vị La-hán, không ai nói 16 vị La-hán. Còn về hai vị được thêm vào là hai vị nào thì do mỗi người mỗi ý kiến nên không ai tìm tòi nghiên cứu làm gì.■
Thích Đạo Luận
(Nguồn: TS. Pháp Luân số 60)

Phản biện nhà thơ Huy Cận về các vị La Hán chùa Tây Phương

Hôm qua, hôm nay và mai sau luôn lẫn lộn trong tâm thức của chúng ta. Mà trong bài thơ Các Vị La-hán Chùa Tây Phương của Huy Cận có “các vị La-hán” là hôm qua, “chùa Tây Phương” là hôm nay, khi Huy Cận ghé thăm chùa, và niềm tin của Huy Cận về cuộc sống mới là mai sau, một sự hướng về. Như thế, Huy Cận đã sáng tác một bài thơ với những hình tượng như cũ như mới, trộn lẫn hôm qua, hôm nay và mai sau. Bài thơ đó khiến chúng ta tự nhìn lại văn hóa, lịch sử và xã hội hiện tại của chính mình

Bài thơ Các Vị La-hán Chùa Tây Phương ra đời vào năm 1960, trong bối cảnh miền Bắc Việt Nam tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, làm hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ. Bài thơ khắc họa những pho tượng La-hán ở chùa Tây Phương, qua đó thể hiện những suy tư của tác giả về con người: cha ông Việt Nam thời phong kiến. Từ đó, tác giả nêu lên niềm tin của mình vào một thời đại mới.

 Ấn tượng sâu sắc của Phật tử về 18 vị La Hán chùa Tây Phương.

Hình tượng La-hán trong bài thơ rất mới lạ. “Khi đọc bài thơ Các vị La-hán chùa Tây Phương của Huy Cận, một nhà nghiên cứu văn học cho rằng: Nhà thơ vẽ ra những hình vẽ bên ngoài chủ yếu là để thể hiện nội tâm của những vị A-la-hán, mà cũng chính là nội tâm đau đớn, quằn quại, vật vã, đầy đau khổ, của những con người nơi trần thế…”. Chúng ta sẽ xem xét lại quan điểm, nhận định trên của nhà nghiên cứu văn học đó. Đồng thời, chúng ta cũng sẽ phân tích bài thơ Các Vị La-hán Chùa Tây Phương để làm sáng tỏ những luận điểm của nhà thơ Huy Cận.

Các vị La-hán chùa Tây Phương

Tôi đến thăm về lòng vấn vương

Há chẳng phải đây là xứ Phật

Mà sao ai nấy mặt đau thương?

Lời thơ mở đầu toàn bài nghe thật êm ái, gợi ngay những nỗi niềm băn khoăn của tác giả. Giọng thơ êm ái vì những âm điệu hài hòa, gieo vận chuẩn: “phương”, “vương”, “thương”, và cũng do thể thơ bảy chữ vốn rất quen thuộc với người Việt Nam. Niềm vấn vương của tác giả được hai câu thơ cuối tô đậm, diễn thành một câu hỏi rõ ràng, để lưu xuất toàn bộ ý thơ. Đến đây, tác giả khắc họa ba pho tượng La-hán, sau đó miêu tả toàn thể nhóm tượng, rồi đưa ra nhận định và kết thúc bài thơ với những ý tưởng về một thời đại mới.

Chùa Tây Phương là một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây[2]. Chùa khánh thành năm 1792, trong bối cảnh Việt Nam ở thế kỷ XVIII, đất nước đang bị loạn lạc do hai họ Trịnh, Nguyễn phân tranh, khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra, vua Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà… tức là trong thời kỳ mà xã hội Việt Nam rất rối ren. Trong chùa Tây Phương có mười tám pho tượng La-hán nổi tiếng, rất đặc sắc. Người thợ xưa dùng đôi tay tài hoa và tâm hồn thành kính của mình để tạc nên các pho tượng. Còn Huy Cận ngày nay đã khéo léo đưa các pho tượng ấy lên thơ ca, với nghệ thuật “điêu khắc bằng lời”. Nhưng Huy Cận không mang sự thành kính của những người thợ xưa và Huy Cận đã muốn hiện thực hóa những gì thiêng liêng nhất của nền văn hóa Việt Nam, theo ý Huy Cận.

Đây vị xương trần chân với tay

Có chi thiêu đốt tấm thân gầy

Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt

Tự bấy ngồi y cho đến nay.

Pho tượng đầu tiên được miêu tả với chân dung gầy guộc, trơ xương. Bởi vị La-hán này gầy nên có “vòm mắt sâu”, sao Huy Cận lại đảo ngữ thành “sâu vòm mắt” để liên tưởng thành “Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt”? Còn “Tự bấy ngồi y cho đến nay” là Huy Cận có ý gì, trong khi mọi pho tượng gỗ đều cứ giữ hoài một tư thế, đều ở mãi chỗ nó được đặt vào mà thôi?…

Pho tượng đầu tiên được giới phê bình văn học đánh giá là có thế giới nội tâm đau khổ vì (nhân vật mang hình tượng ấy) chỉ mãi suy tư về nỗi khổ của nhân loại. Sự đánh giá này là gượng ép, do chủ yếu là dựa vào câu thơ thứ ba. Một người ốm thì đâu có gì lạ. Mà một vị tu hành khổ hạnh đến nỗi ốm gầy teo như thế thì càng cho thấy ý chí cao cả của người ấy, chứ đâu thể đánh giá là người ấy thụ động hay yếm thế. Sang pho tượng thứ hai, Huy Cận khắc họa:

Có vị mắt giương, mày nhíu xệch

Trán như nổi sóng biển luân hồi

Môi cong chua chát, tâm hồn héo

Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.

Có hàng lọat động từ mạnh như: giương, nhíu, nổi sóng, vặn, sôi. Lại có các tính từ chỉ trạng thái: héo, chua chát. Pho tượng này có trạng thái chuyển động mạnh mẽ, trái với pho tượng thứ nhất có vẻ tĩnh. Tượng này cũng mô tả hình dáng một vị tu khổ hạnh. Qua ngòi bút của Huy Cận, pho tượng này sinh động hẳn lên. Huy Cận đã thổi vào tượng một số tính chất, mà đến cuối bài thơ chính ông đã nói như thế này về quần thể tượng: “Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại”. Thế thì, sự mâu thuẫn do tâm hồn nhạy cảm của Huy Cận thật hơi khó hiểu. Ta phải nắm bắt thế nào các ý tưởng của Huy Cận đây? Rõ ràng là Huy Cận muốn nói rằng: ông La-hán này yếm thế, bế tắc trước cuộc sống, vì thế ông ta “Môi cong chua chát, tâm hồn héo” và bàn tay nắm chặt lại, thật mệt mỏi… Các nhà nghiên cứu văn học cũng khẳng định như thế. Lẽ nào mọi người đều cho rằng các Thánh nhân của Phật giáo lại tầm thường đến thế sao? La-hán là một con người, quan niệm này rất đúng. Nhưng cho rằng La-hán là một người như mình thì quả thật vô cùng sai lầm. Mình có thể từ bỏ mọi ràng buộc vật chất và tình cảm… được không? Nhưng các vị La-hán thì làm được đấy! Với tinh thần “xả thân cầu đạo, xả phú cầu bần”, các ngài đâu cần dung dưỡng một thân thể tươi đẹp, thanh lịch, sung sức... Không màng đến ngoại hình, các Thánh nhân ấy chỉ an trú trong đạo đức cao thượng, siêu phàm. Chúng ta không hiểu đúng như sự thật thì chớ, sao chúng ta lại phải uốn nắn sự thật cho vừa với tư tưởng của mình? Không chừng chúng ta lại đang xúc phạm chính “cha ông thời quá khứ” của mình đó! Sau đây là vị La-hán thứ ba:

Có vị chân tay co xếp lại

Tròn xoe tựa thể chiếc thai non

Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối

Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn...

Đây là một pho tượng ngồi bó gối. Có vài hạng người ngồi bó gối: người ngồi chơi vô tư như con trẻ, người buồn phiền sợ hãi, người hay thích ngồi kiểu đó… Khi Huy Cận ví một vị Thánh nhân như một chiếc thai non, do dáng ngồi đặc biệt của ông ta, thì cũng chưa phải là Huy Cận chê Thánh nhân ấy tuy cách nói đó có phần không hay. Nhưng, chính chữ “nhưng” trong câu thơ thứ ba làm ta hiểu ngược lại. Mẫu câu có hai vế, vế sau nối với vế trước bằng chữ “nhưng” thì hai vế ấy trái nghĩa nhau. Huy Cận muốn nói về pho tượng thứ ba: ông La-hán này nhỏ bé, nhưng có đôi tài rộng dài và cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn. Làm sao Huy Cận biết được điều đó? Trong thập bát La-hán của nhà Phật không có vị nào có sở hành này. Nếu như một vị Thánh thích chia xẻ mọi điều với nhân loại thì đâu riêng gì chuyện buồn. Mà “nghe đủ chuyện buồn” là ám chỉ một ý không tốt, bởi từ “đủ”. Ví dụ khi nói: “mi ăn đủ thứ” là chê đó thôi…


Như thế, qua ba khổ thơ, nhà thơ đã khắc họa ba pho tượng La-hán điển hình mà nhà thơ đã thấy ở chùa Tây Phương. Về văn chương, thơ phú, lối nói… thì Huy Cận diễn tả nhuần nhuyễn, đọc lên nghe hay. Nhưng về nội dung hiện thực thì Huy Cận đã dùng một cặp kính có tên là “chủ nghĩa hiện thực” để nhìn nhận về một quần thể Thánh tượng tôn giáo theo kiểu của mình. Thánh La-hán là những bậc tu hành đắc đạo trong nhà Phật, ngay thời nay cũng có. Họ không phải là thần tiên nào ở trên trời rớt xuống. Và văn hóa Phật giáo đã là văn hóa Việt Nam trong quá khứ, ngay hiện tại cũng đâu thể phân chia. Phủ nhận văn hóa Phật giáo là phủ nhận văn hóa Việt Nam, là khinh thường bao đời cha ông của mình vậy.

Sang khổ thơ thứ sáu và thứ bảy, Huy Cận tả chung về quần thể tượng:“Mỗi người một vẻ, mặt con người”. Câu này hơi khó hiểu. Ý Huy Cận phải chăng là: “Mỗi tượng một vẻ, mặt con người”?

Sự khắc họa đậm nét của Huy Cận về quần thể tượng với những từ ngữ nhấn mạnh như: “cuồn cuộn đau thương”, “trăm vật vã”, “không khóc cũng đổ mồ hôi”, “mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau”… đều cho ta cảm nhận là nhà thơ đang bộc lộ những nhận thức chủ quan của mình. Có phải ngài đang chủ động “để tâm hồn treo ngược trên cành cây” không? Huy Cận có ý tốt khi muốn ca ngợi thời đại mới dân chủ, tự do, không tăm tối… nhưng nhà thơ đã không khéo lắm. Cuộc sống rất đa dạng, không có gì là toàn ác, cũng không có gì là toàn thiện, và tư cách Thánh nhân không phải là một trò đùa để cho ta bàn luận linh tinh…

Câu thơ “Quay theo tám hướng hỏi trời sâu” có ý vị kém, tuy hơi lạ tai. Trong bài Tràng Giang, Huy Cận cũng đã từng nói đến trời sâu: “Nắng xuống trời lên sâu chót vót”… Quả thật là nhà thơ đang bị treo ngược rồi.

Đối với “Một câu hỏi lớn. Không lời đáp” của Huy Cận, mọi người đều cho là câu: “Trời ơi, sao khổ thế?”. Trong lịch sử Phật giáo, thái tử Sĩ-đạt-ta đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi trên, câu hỏi muôn thuở của nhân sinh, nên ngài mới thành Phật và khai sáng ra đạo Phật. Hàng đệ tử của đức Phật cũng đều biết lời đáp. Còn Huy Cận thì, tự nhà thơ đã nói rõ rồi…

Còn câu thơ “Cho đến bây giờ mặt vẫn chau” là đã nói đến thời điểm nào, khi cuối bài thơ Huy Cận lại nói rằng “Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại”? Thật sự chúng ta khó mà hiểu được ý tứ của Huy Cận, nếu như không được gợi ý đầy đủ.

Khổ thơ thứ tám thể hiện ý chuyển tiếp khéo léo của Huy Cận bằng một câu hỏi:

Có thật trên đường tu đến Phật

Trần gian tìm cởi áo trầm luân

Bấy nhiêu quằn quại run lần chót

Các vị đau theo lòng chúng nhân?

Như rắn lột da để lớn lên, như người phải chịu đau khi cắt khối u để được lành mạnh… mà như vậy thì đó là lẽ thường, đâu cần hỏi “có thật”. Chư La-hán đều đã cởi áo trầm luân xong rồi, nên các ngài không cần “tìm” nữa. Các bậc ấy đều đã giải thoát sanh tử, đều đã qua khỏi những lẽ phàm tình, qua khỏi những con sông vui thích của giác quan và đã đến được cảnh giới không thay đổi. Tuy chưa bằng chư Phật và chư đại Bồ-tát về công đức, nhưng các bậc A-la-hán cũng đã là hàng đạo sư của nhân loại rồi.

Liên tiếp các khổ thơ sau, Huy Cận đưa ra nhận định rằng: quần thể tượng La-hán ở chùa Tây Phương chính là cha ông người Việt Nam ở thế kỷ XVIII, thời kỳ xã hội Việt Nam rối ren, mọi người đều phải chịu nhiều đau khổ. Do đó, “Các vị La-hán chùa Tây Phương” (câu thơ được lập lại hai lần ở đầu bài và ở khổ mười bốn, đồng thời cũng là tên bài thơ), chính là “Cha ông yêu mến thời xưa cũ” của Huy Cận. Huy Cận hoàn toàn không cần biết La-hán là Thánh, là Phật gì cả. Đối với Huy Cận, La-hán đơn giản chỉ là tên của những pho tượng mà thôi. Mà ta không rõ là theo Huy Cận thì thông thường hạng người nào sẽ được nhân loại tạc tượng để tưởng nhớ, để sùng bái?

Thế thì, tại sao mọi người khi đọc bài thơ này cứ một mực cho rằng La-hán là thế nọ thế kia. Vậy là mọi người sai chứ Huy Cận không sai. Huy Cận không sai, Huy Cận chỉ đem những hình ảnh thiêng liêng của văn hóa Phật giáo nói chung, của văn hóa Việt Nam nói riêng ra để làm ẩn dụ cho vài ý tưởng của mình thôi. Huy Cận đã làm cho bao nhiêu người hiểu lầm, đưa đến nhận định: “Nhà thơ vẽ ra những hình vẽ bên ngoài chủ yếu là để thể hiện nội tâm của những vị A-la-hán…” (đầy đau khổ?...)

Tóm lại, bài thơ Các Vị La-hán Chùa Tây Phương của Huy Cận sáng tác theo thể thơ mới và có phong thái của thơ thất ngôn trường thiên. Bài thơ này rất lưu loát, uyển chuyển về âm điệu, ngôn từ. Nhưng tứ thơ lại không sâu sắc và bị mâu thuẫn giữa thực tế (các Thánh La-hán, quần thể Thánh tượng tôn giáo) với quan điểm, nhận thức của tác giả (cha ông Việt Nam thế kỷ XVIII). Tác giả đã mượn những hình ảnh rất thiêng liêng để diễn tả những ý tưởng nhỏ. Mọi người đều ngạc nhiên khi thấy hình tượng các La-hán được một nhà thơ mới đưa lên thơ ca Việt Nam thế kỷ XX. Và rồi mọi người đều ngộ nhận… Thế mới hay, khi dùng những hình tượng lớn để ẩn dụ cho những cái không tương xứng thì sẽ bị lủng củng như thế nào.

Văn học vốn là tấm gương phản ánh mọi sự kiện của thời đại, mà nhà văn là những vị thư ký trung thực ghi chép lại các sự kiện ấy. Huy Cận sáng tác bài thơ này vào thời đại mới của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ đó mọi người đều hăng hái chiến đấu, phục vụ cho tổ quốc. Nếu như Huy Cận muốn dùng những hình ảnh xưa cũ để nói về những cái mới thì Huy Cận nên tìm hiểu rõ ràng. Văn hóa Việt Nam với bề dày 4000 năm sẽ có rất nhiều điều để chúng ta khai thác…

Thơ là tiếng nói của tâm hồn, nhưng đâu thể suy diễn, cảm nhận linh tinh được. Ví như một hôm nào đó ta đến nhà bạn chơi, chợt ta chỉ tay lên hình cụ ông, cụ bà trên bàn thờ nhà bạn mà ví von này nọ… thì chuyện gì sẽ xảy ra nhỉ?  Phải chi Huy Cận chỉ khắc họa hình ảnh các pho tượng La-hán chùa Tây Phương thôi, đừng cài những ý riêng của mình vào, thì bài thơ còn có giá trị. Rồi từ nhận thức về các phẩm chất Thánh nhân được khắc họa trung thực qua lời thơ, chắc chắn đọc giả sẽ có được những sức mạnh tâm linh nào đó để đóng góp cho thời đại mới…

Hành Vân

[1] Đây là một đề làm văn lớp 12 bổ túc tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên quận Phú Nhuận, Tp.HCM, năm 2004. Nguyên văn đề bài đó là trích đoạn trên và thêm câu hỏi sau: “Anh, chị có cùng suy nghĩ đó không? Hãy phân tích bài thơ để làm rõ ý kiến của mình.”.

[2] Nay thuộc huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

CÁC VỊ LA-HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG
Huy Cận

Các vị La-hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về lòng vấn vương
Há chẳng phải đây là xứ Phật
Mà sao ai nấy mặt đau thương?


Đây vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay.


Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng biển luân hồi
Môi cong chua chát, tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.


Có vị chân tay co xếp lại
Tròn xoe tựa thể chiếc thai non
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn…


Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen.


Mỗi người một vẻ, mặt con người
Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.


Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.


Có thật trên đường tu đến Phật
Trần gian tìm cởi áo trầm luân
Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
Các vị đau theo lòng chúng nhân?


Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?
Sống lại cho tôi hỏi một câu:
Bác tạc bấy nhiêu hình khổ hạnh
Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?


Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão
Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời
Là cha ông đó bằng xương máu
Đã khổ, không yên cả đứng ngồi.


Cha ông năm tháng đè lưng nặng
Những bạn đương thời của Nguyễn Du
Nung nấu tâm can, vò võ trán
Đau đời có cứu được đời đâu.


Đứt ruột cha ông trong cái thuở
Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ
Bao nhiêu hy vọng thúc bên sườn
Héo tựa mầm non thiếu ánh dương.


Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la
Sờ soạng cha ông tìm lối ra
Có phải thế mà trên mặt tượng
Nửa như khói ám, nửa sương tà.


Các vị La-hán chùa Tây Phương!
Hôm nay xã hội đã lên đường
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.


Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hóa gần!
Những bước mất đi trong thớ gỗ
Về đây, tươi vạn dặm đường xuân.


27-12-1960 (Bài thơ cuộc đời. NXB Văn học, Hà Nội, 1963)


Nguồn: phatgiao.org.vn

Saturday, July 13, 2013

LUẬN GIẢI VỀ CHỮ THÍCH

Gần đây, có nhiều người nêu ra một thắc mắc khi thấy danh hiệu của các vị Tăng Sĩ đều mở đầu bằng chữ Thích tỷ dụ như Thích-Tâm-Châu, Thích Tâm Giác, v.v… và do đó nêu lên những câu hỏi: 
- Chữ Thích có nghĩa gì? 
- Tại sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích?  Người tại gia tu Phật có dùng chữ Thích được không? 
- Chữ Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu, thịnh hành vào thời nào? 
với mục đích diễn xướng và luận giải về chân nghĩa những danh từ Phật Giáo, đặng làm tài liệu nhận xét chung, nơi đây đề cập đến từng vấv đề giải đáp để cùng liễu giải và xác luận: 
I. Chữ Thích có nghĩa gì?  
Theo sự dịnh nghĩa danh tự thông thường thì chữ Thích có nghĩa: cổi ra, nới ra, giải thích rõ ràng nghĩa sách tỷ dụ như chữ Thích-Hỗ là giải thích cho rõ nghĩa một chữ, một câu: Thích Huấn là giải thích cho rõ những lời huấn giáo. 
Ngoài ra, chữ Thích lại cũng có nghĩa buông thả như trong sách có chữ: “Kiên trì bất thích” tức là giữ vững không buông, và, chữ “Khai thích vô cô” tức là buông tha cho kẻ không tội. 
Chữ Thích cũng lại còn có nghĩa tiêu tan hết những nỗi sân hận trong lòng như giảng câu “Tâm trung vi chi thích nhiên” phải hiểu rằng trong lòng đã được tiêu tan hết cả phần nào điều sân hận không còn vướng vấp một chút ân hận, não phiền gì nữa. 
Tuy nhiên, chân nghĩa chữ Thích mà các vị tu hành đặt trước pháp hiệu chỉ có nghĩa đơn thuần là: 
a) coi mình là Thích tử, tức là đệ tử của Phật, bởi theo quan niệm Trung-Hoa từ đời Tấn cho rằng những ai theo đạo của đức Thích-Ca phải nên lấy theo họ Thích mà chữ Thích tức là họ Thích-Ca cho dễ xưng hô. 
b) một vị tu theo hạnh khoáng nhiên không vướng mắc phiền não thế cảnh. 
Tóm lại thì chữ Thích chư Tăng hay dùng là theo họ Phật Thích-Ca, ngụ kỳ chung còn có ý nghĩa hiểu rành sự lý, tâm hồn buông thả, tiêu hết não phiền, không còn mảy may trần lụy. 
II. Tại sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích? Người tại gia tu phật có dùng chữ Thích được không? 
Thật ra, khi Phật giáo truyền qua Trung-Hoa vào khoảng thời Hán, những vị mặc dầu tu theo đạo Phật, trở thành Tăng-sĩ có bỏ đi giòng họ thế tục, nhưng thường theo hai điều kiện: 
1. Tự đặt cho mình theo họ Trúc có nghĩa tu theo nguyên tắc tu trì của các bậc Tăng-Già từ Tây-Trúc truyền sang. 
2. Hoặc theo họ của bậc Sư-Trưởng đã truyền giáo cho mình tỷ dụ như Ngài Chi-Tuần nguyên trước họ Quan, nhưng vì thụ giáo với ngài Chi-Khiêm nên đổi thành họ Chi, ngài Bạch-đạo-Hiển nguyên họ Phùng nhưng học thầy là Bạch Thi Ly Mật nên đổi thành họ Bạch v.v…như vậy là khi đạo Phật mới truyền qua Trung-Hoa từ đời Hán, khoảng 25 - 220 T.L. hầu như theo một tục lệ thông thường như vừa trình bày.  Kịp đến thời Đông-Tấn khoảng 317 - 349 T.L. Ngài Đạo-An người Thường-Sơn, tỉnh hà-Bắc, sinh năm 312, xuất gia từ 12 tuổi, học hạnh rất siêu việt đã đề xướng việc cải biến để những vị tu hạnh xuất-gia theo Phật nên theo họ của Phật, và do đó, những Tăng-sĩ thụ đại-giới (Giới Tỳ Khưu: 250 giới) lấy theo họ Thích tử. 
Viện dẫn lý do này, Ngài Đạo-An nêu ra một đoạn trong kinh Tăng-Nhất A-Hàm có chép: “Bốn con sông lớn chảy vào bể cả, tự nó không còn danh tự gốc của con sông mà chỉ có danh tự là “bể cả”.  Việc định họ cho người tu hành cũng như thế.  Xưa ở Ấn-Độ có 4 giòng họ là: Sát-Lỵ, Bà-La-Môn, Trưởng-giả, Cư-sĩ.  Đối với những ai gọt bỏ râu tóc, khoác 3 tấm áo pháp như Phật chế định, nguyện xin xuất gia học đạo thì không còn giữ giòng họ gốc mà chỉ kêu là: Sa-Môn tức là đệ-tử của đức Phật Thích-Ca mà thôi. 
Trong kinh Đại-Bát Nhã xác định rằng: “Phi sa-Môn, phi Thích-Ca tử” có nghĩa nếu không phải là bậc Sa-Môn tức là bậc xuất-gia theo Phật thì chưa phải là đệ-tử của đức Thích-Ca. 
Bởi những lý do trên, chỉ khi nào phát nguyện xuất-gia và đã thụ đại-giới mới được xưng là thuộc giòng họ Thích tức là đệ-tử chính của Phật và sau nầy coi các bậc Tỳ-Khưu là hàng trưởng-tử của Phật nên được đổi họ thế gian mà lấy theo họ Thích vậy. 
III. Chữ Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu? 
Thịnh hành vào thời nào?  
Đúng ra họ Thích-ca là họ của đức Phật mà theo lịch sử là một giòng họ quý tộc trước đó kêu là Sát-Lỵ mà sau đổi ra là Thích -Ca (Sakya). 
Theo kinh điển ghi chép thì 10 vị đại đệ-tử của Phật như Ma-Ha Ca-Diếp, Mục Kiền Liên, Tu-Bồ-Đề v.v… không dùng họ Thích mà khi Phật-Giáo truyền qua Trung Hoa tới thời nhà Tấn, Ngài Đạo-An xướng xuất việc lấy họ Thích làm họ cho người đi xuất-gia, rồi từ sự kiện, chính Ngài theo phong tục cổ truyền, trước đó theo học với Ngài Trúc-Phật Đồ-Trừng ngài Đạo-An lấy luôn tên là Trúc Đạo An và sau vì lấy cớ những người đi xuất-gia đều lấy đấng Thích-Tôn làm gốc, vì thế Ngài đổi tên là Thích-Đạo-An cho đến sau nữa Ngài Thích-Tuệ-Viễn nối nghiệp thầy mà cũng xưng là Thích-Tuệ-Viễn.  Kịp đến thời nhà Đường, Ngài Tuệ-Năng khi dâng sớ lên Vua Đường Cao -Tôn để xin cáo từ việc cớ già yếu hay bệnh cũng xưng là Thích-Ca Tuệ-Năng. 
Như thế, họ Thích là sự thay đổi của giòng họ Sát-đế-Lỵ, một giòng họ quý phái thuộc Ấn-Độ, cho đến khi Phật-Giáo truyền qua Trung-Hoa và thịnh hành từ sau sự khởi xướng của Ngài Đạo-An thời Đông-Tấn. 
Riêng tại Việt-Nam có lẽ cũng chỉ quan niệm một vị xuất gia theo Phật  là thuộc giòng Thích-tử, còn trong sử sách, danh hiệu các vị Thuyền-sư không mấy khi có thêm chữ Thích, ví dụ như Ngài Cảm-Thành, Ngài Khuông-Việt, Ngài Viên Chiếu v.v… Cho mãi đến thời gần đây mới có Điều-Ngự-Tử Thích-Mật-Thể, một vị khởi xướng dùng chữ họ Thích để ký tên trong văn liệu là cuốn Việt-Nam Phật Giáo Sử Lược ấn hành vào năm 1943 và có thể là một khởi đoan phong trào lấy họ Thích đối với Tăng chúng Việt-Nam. 
Tóm lại, chữ Thích là danh xưng của một giòng họ y theo giòng họ của đấng Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, có nghĩa theo chữ Phạn Sakya tức là bậc Năng-nhân tức là một bậc có năng lực phát hiện tấm lòng nhân từ vô lượng. 
Ngoài ra, theo chân nghĩa thế gian thì chữ Thích cũng có nghĩa khiến lòng mình tiêu tan hết mọi phiền não, một hạnh quý giá của người tu hành những pháp môn quý giá. Do đó, chỉ những vị nào đã thụ đại-giới tức là một vị chính thức gia-nhập Thích-Môn mới được coi là hàng Thích-Tử. 
Cũng vì thế, những người tại gia cho đến hàng Sa-Di mà lấy họ Thích là một sự kiện tiếm xưng, và cũng nhân y theo chân nghĩa luận giải, những vị nào dù có hình tướng xuất-gia mà không giữ theo giới hạnh của bậc xuất-gia mà dùng chữ Thích cũng là tiếm xưng họ Phật, bởi những người tu hành mà không giữ giới thì không còn Tăng cách và không xứng đáng là người Thích-Tử nữa vậy. 
Họ Thích rất cao đẹp, nhưng phải được nêu lên đối với những bậc tu hành chân chính, đầy đủ đức hạnh đáng cho tín đồ củng phục thì không cần phải xưng họ Thích mà thiên hạ đều tôn là bậc xứng đáng trong giòng họ Thích-Ca vậy. 
Trích: Giải Luận Giáo Lý của tác giả Giác Không do Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn. 

Theo thuvienhoasen.org

Tại sao pháp tự của tu sĩ Phật giáo thường bắt đầu bằng chữ ''Thích''?

Pháp tự của đệ tử nhà Phật thời kỳ đầu không có chữ Thích (ví dụ các ngài Ma-Ha Ca-Diếp, Mục Kiền Liên, Tu-Bồ-Đề… là đại đệ tử của Phật đều không sử dụng chữ Thích).
Khi Phật giáo truyền qua Trung Hoa tới thời nhà Tấn, Ngài Đạo An xướng xuất việc lấy họ Thích làm họ cho người đi xuất gia, rồi từ sự kiện, chính Ngài theo phong tục cổ truyền, trước đó theo học với Ngài Trúc Phật Đồ Trừng ngài Đạo-An lấy luôn tên là Trúc Đạo An và sau vì lấy cớ những người đi xuất gia đều lấy đấng Thích Tôn làm gốc, vì thế Ngài đổi tên là Thích-Đạo-An cho đến sau nữa Ngài Thích Tuệ Viễn nối nghiệp thầy mà cũng xưng là Thích Tuệ Viễn.  Kịp đến thời nhà Đường, Ngài Tu Năng khi dâng sớ lên Vua Đường Cao Tôn để xin cáo từ việc cớ già yếu hay bệnh cũng xưng là Thích Ca Tuệ Năng. Sau đó Phật Giáo truyền qua Việt Nam thông qua đường Trung Hoa (Bắc Tông) nên Việt Nam cũng học theo.

Theo sự dịnh nghĩa danh tự thông thường thì chữ Thích có nghĩa: cởi ra, nới ra, giải thích rõ ràng nghĩa sách tỷ dụ như chữ Thích-Hỗ là giải thích cho rõ nghĩa một chữ, một câu: Thích Huấn là giải thích cho rõ những lời huấn giáo.

Ngoài ra, chữ Thích lại cũng có nghĩa buông thả như trong sách có chữ: “Kiên trì bất thích” tức là giữ vững không buông, và, chữ “Khai thích vô cô” tức là buông tha cho kẻ không tội.

Chữ Thích cũng lại còn có nghĩa tiêu tan hết những nỗi sân hận trong lòng như giảng câu “Tâm trung vi chi thích nhiên” phải hiểu rằng trong lòng đã được tiêu tan hết cả phần nào điều sân hận không còn vướng vấp một chút ân hận, não phiền gì nữa.

Tuy nhiên, chân nghĩa chữ Thích mà các vị tu hành đặt trước pháp hiệu chỉ có nghĩa đơn thuần là:

a) Coi mình là Thích tử, tức là đệ tử của Phật, bởi theo quan niệm Trung Hoa từ đời Tấn cho rằng những ai theo đạo của đức Thích Ca phải nên lấy theo họ Thích mà chữ Thích tức là họ Thích Ca cho dễ xưng hô.

b) Một vị tu theo hạnh khoáng nhiên không vướng mắc phiền não thế cảnh.

Pháp danh gồm hai chữ: Chữ đầu chỉ sự liên hệ đến thế hệ trong môn phái theo bài kệ của Ngài Tổ môn phái đó. Chữ thứ hai là do vị Bổn Sư chọn lựa dựa trên ý nghĩa của tên người đệ tử (thế danh) để tạo thành một chữ kép mang ý nghĩa hay, đẹp và có tính khuyến tu. Do Thích bắt nguồn từ Thích Ca chỉ Phật, rất cao quý nên không được đặt bừa bãi mà chỉ có những người chân tu cao đẹp thật sự mới nên sử dụng pháp danh này.
 
Theo http://facts.baomoi.com/

Friday, June 14, 2013

Thơ mộng những bãi biển Quy Nhơn

Cập nhật 08:44, Thứ Bảy, 15/06/2013 (GMT+7)
Quy Nhơn có nhiều bãi biển đẹp, ví dụ như bãi biển Chính, bãi Bầu, bãi Dại, bãi Dài, bãi Nhơn Lý, bãi Quy Hòa, bãi Xép, bãi Bàng...
Ngoài bãi Chính chạy dọc theo thành phố có bờ cát rất lài, có lưới bảo vệ, tắm được, sóng luôn mạnh và gió thật trong lành... thì những bãi khác đều là những bãi đá và cát hoang sơ chỉ để ngắm nhìn và tận hưởng gió mát chứ ít có công trình du lịch, do vậy mà biển Quy Nhơn như những thiên đường của tạo hóa. Bài viết xin đề cập tới hai bãi biển là bãi Bàng và bãi Xép.
Bãi Bàng


Nằm nép mình dưới chân đường Quy Nhơn - Sông Cầu, ở vị trí giáp ranh giữa thành phố Quy Nhơn và huyện Sông Cầu (Phú Yên). Cách TP Quy Nhơn 12km, khu du lịch Bãi Bàng như một cái gạch nối gắn liền giữa núi và biển.

Núi xanh, biển xanh và rừng cây xanh đã làm nên sự dịu mát của mùa hè ở biển. Những ngày nghỉ cuối tuần, Bãi Bàng thu hút nhiều khách du lịch ở TP Quy Nhơn đến nghỉ ngơi, giải trí, tắm biển, câu cá...
Được bao bọc bởi những dãy núi chạy dài uốn hình cánh cung vươn ra biển và những hòn đảo ngoài khơi, biển Bãi Bàng sạch đẹp, xanh mát, hiền hòa, là nơi tắm biển lý tưởng. Những ngôi nhà sàn nho nhỏ, những chiếc võng đong đưa dưới tán cây xanh, hàng dừa trĩu quả, rặng phi lao lả lơi, những chậu cây kiểng cổ thụ được cắt tỉa công phu... đã góp phần làm nên nét thi vị cho khu du lịch mini này.

Sau khi tắm biển hoặc câu cá, dạo rừng, leo núi, leo gành, tham quan làng chài Bãi Bàng... du khách có thể thưởng thức đặc sản gà chỉ, các loại hải sản tươi sống được chế biến khéo léo, ngon miệng nhưng giá cả rất bình dân.
Khu du lịch Bãi Bàng không thu tiền vé vào cổng. Tại đây có cho thuê nhà chòi, đồ tắm, phao bơi, kính lặn...
Bãi Xép

Từ thành phố Quy Nhơn, ta theo đường Quy Nhơn - Sông Cầu hướng về phía Nam. Chạy xe máy đúng 10km sẽ đến cầu Bãi Xép, rẽ vào con đường bê tông đổ xuống con dốc ngắn vài chục mét là đến điểm du lịch sinh thái Bãi Xép - nơi giao hòa giữa trời mây non nước, bốn mùa ngát xanh.


Từ một vùng đất vốn là triền núi hoang sơ, bên rừng bên biển, 6 năm qua, theo cùng với sự hình thành con đường Quy Nhơn - Sông Cầu, chủ nhân nơi đây đã dành nhiều thời gian, kinh phí và công sức, để từng bước xây dựng vùng biển - núi rộng 4 ha này thành một điểm Du lịch sinh thái đầy hấp dẫn, nhằm phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, thư giãn cuối tuần của nhân dân Tp. Quy Nhơn.
Nhiều du khách trong và ngoài nước, trên đường du lịch xuyên Việt, cũng đã ghé lại nơi này để đắm mình trước cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. Đặc biệt, du khách ở các tỉnh Tây Nguyên xuống Quy Nhơn hầu hết đều chọn Bãi Xép để nghỉ ngơi, tắm biển, câu cá suốt cả ngày.


Ở Bãi Xép, vườn cây ăn quả, rừng dừa, rừng dương, bãi cỏ xanh, biển xanh và núi xanh... tất cả đều là một màu xanh làm dịu mát những ngày hè nắng gắt. Lợi thế của điểm du lịch sinh thái này là tuy nằm sát bãi biển nhưng lại ở trên một khu đất cao, từ đây có thể mở tầm mắt hướng về dãy Phương Mai, hòn Ngang, hòn Đất và vịnh biển Quy Nhơn xinh đẹp.

Đặc biệt, về ban đêm, ngồi ở nhà vọng cảnh của điểm du lịch Bãi Xép, du khách có thể ngắm nhìn thành phố Quy Nhơn rực rỡ ánh đèn màu cùng hàng trăm bè khai thác tôm hùm giống với những ngọn đèn như sao sa trên biển, thật thơ mộng và huyền ảo.

Đến với điểm Du lịch sinh thái Bãi Xép, du khách sẽ được thư giãn trước cảnh quan thiên nhiên được tôn tạo, chăm sóc bởi bàn tay con người, đi kèm với những dịch vụ phục vụ du khách vui chơi, giải trí, dạo rừng, tắm biển, câu cá (khách tự mang theo cần câu)...
Nếu có một chút máu phiêu lưu, mạo hiểm, du khách có thể đi theo dòng suối, ngược về phía tây khoảng hơn 1 km, đến địa điểm suối Vàng, sẽ bắt gặp một thiên nhiên hoang dã với rừng cây, thác nước... đầy hấp dẫn.

Ở nơi này có phục vụ đầy đủ thức ăn như cơm, bún, phở... Trong đó có đặc sản biển, gà thả vườn với giá cả phải chăng. Có phòng nghỉ, nhà sàn với giá mềm và không thu tiền vé vào cổng. Ngoài ra còn có các dịch vụ khác như cho thuê phao bơi, đồ tắm, kính lặn...
Báo Bình Định

Sunday, June 9, 2013

Lễ hằng thuận: nét đẹp văn hóa

Lể cưới được tổ chức tại chùa theo nghi thức Phật giáo được gọi là Lễ Hằng thuận. Người khởi xướng ra nghi lễ Hằng thuận là ông Đồ Nam Tử. Ông tên thật là Nguyễn Trọng Thuật (1883 - 1940) quê ở Hải Dương. Ông vốn là một nhà nho, sau ông chuyển qua đạo Phật và là người cổ vũ phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà.
Ông Đồ Nam Tử cho rằng đạo Phật nên được dấn thân và hoà hợp vào quần chúng. Vào năm 1930, bác sỹ Tâm Minh -  Lê Đình Thám là một trong những cư sĩ tiên phong và có công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo vào những thập niên đầu thế kỷ XX, người sáng lập nên Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục - Gia đình Phật hóa phổ (1940), tiền thân của Gia đình Phật tử (1951) đã tổ chức lễ cưới cho con gái đầu lòng là bà Lê Thị Hoành với ông Hoàng Văn Tâm tại chùa Từ Đàm - Huế. Có thể nói đây là lễ cưới đầu tiên trước cửa Phật được chư Tăng chứng minh. Hưởng ứng theo lời kêu gọi của ông Đồ Nam Tử, vào năm 1971 Hoà thượng Thích Thiện Hoa đã dùng hai chữ Hằng thuận để chỉ việc kết hôn trước cửa Phật.
Hằng là luôn luôn, thuận là hòa thuận. Muốn luôn luôn hòa thuận với nhau, thì cả hai đều phải biết tương kính nhường nhịn nhau. Đó cũng là ý nghĩa của chiếc nhẫn mà tổ tiên ta đã bày ra cho mọi người noi theo. Người Phật tử muốn tìm lại cái không khí mái ấm gia đình của quê hương thân thiết ngày nào trong tình tự hài hòa của một dân tộc, thì không đâu hơn bằng mái ấm đầy tình người của một ngôi chùa.          
“Mái chùa che chở hồn dân tộc,
 Nếp sống muôn đời của tổ tông”.
Do đó, mà sự tổ chức một lễ cưới tại chùa cũng mang lại nhiều ý nghĩa cho đời sống tâm linh của chú rể và cô dâu sau này.
Buổi lễ diễn ra trước sự chứng kiến của hai họ và trước Tam Bảo chứng minh, nhứt là lại được nghe những điều giảng dạy về đạo đức làm người trong đời sống hôn nhân theo tinh thần Phật dạy trong kinh Thiện Sanh của chư Tăng Ni. Từ đây, sẽ gây một ấn tượng sâu đậm thêm trong việc đối xử của đôi nam nữ sau nầy, nhứt là, ý nghĩa rất sâu xa của chiếc nhẫn.
Khi chú rể và cô dâu trao nhẫn cưới cho nhau, điều đó nói lên, biểu trưng cho việc cư xử trong tinh thần nhường nhịn yêu thương tương kính lẫn nhau của hai người.Cuộc sống lứa đôi nếu thiếu đi yếu tính này, thì khó có thể xây dựng được hạnh phúc lâu bền. Do đó, khi hai bên trao nhẫn cho nhau, dưới sự chứng minh của Tam Bảo và hai họ, thì đây quả là một điều mang ý nghĩa thật hết sức quan trọng. Vì thế mới gọi đây là lễ hằng thuận.
Việc tổ chức một nghi thức đơn giản cho lễ cưới của người Phật tử trong chùa, mặc dù, đây không phải là một truyền thống của Phật giáo, nhưng nó cũng nói lên một ý nghĩa đặc thù trong chiều hướng xây dựng hạnh phúc gia đình trong tinh thần yêu thương qua nếp sống cư xử hòa kính của người Phật tử. Những lời phát nguyện trước Tam Bảo của cô dâu và chú rễ,  có một tác động rất mạnh mẽ cho đời sống tâm linh về sau. Vì thế, mà việc tổ chức lễ cưới trong chùa, nó cũng mang lại nhiều ý nghĩa tốt đẹp và rất là hữu ích vậy.
Hằng thuận là một nét đẹp trong đời sống lứa đôi. Trước Tam bảo, đôi bạn phát nguyện sống chung hạnh phúc theo 5 nguyên tắc đạo đức cơ bản của Phật giáo, một mặt, tạo nền tảng tâm linh hướng thượng cho đời sống gia đình, mặt khác, "lời hứa" trước Tam bảo sẽ có sức mạnh nâng đỡ cho đôi bạn vượt qua những trắc trở trong đời sống sau hôn nhân.
Đứng trên bình diện nào đó, việc làm này cần nên khuyến khích và các chùa cũng nên tạo điều kiện cho Phật tử đến chùa làm lễ hằng thuận. Tôn giáo hợp thức hóa đời sống lứa đôi, tôn giáo giúp cân bằng đời sống tâm linh và vật chất, tạo nên một đời sống hướng thượng. Trong khi gia đình là một tế bào của xã hội - Một tế bào tốt sẽ là điều kiện tốt để cấu tạo nên một cơ thể lành mạnh.
Tuy nhiên, hằng thuận chỉ thật sự có ý nghĩa khi đôi bạn trẻ cùng muốn hướng đến một đời sống hôn nhân tốt đẹp. Cùng với tình yêu thương, ý thức trách nhiệm và mục đích sống, đôi bạn trẻ cùng nhau xây đắp ngôi nhà hạnh phúc trên nền tảng đạo đức Phật giáo cho hạnh phúc được bền lâu.
Xuất phát từ mục đích tốt đẹp đó, lễ hằng thuận là một cầu nối giữa đạo và đời, giữa hạnh nguyện giải thoát và ước nguyện xây dựng một xã hội tốt đẹp của chư Tăng và hàng Phật tử tại gia.

Giác Hoa (Tổng hợp)

Lễ hằng thuận

Lễ hằng thuận là một "thuật ngữ" khá thông dụng dùng để chỉ cho nghi thức tổ chức lễ cưới ở chùa. Tại buổi lễ, nếu đôi bạn trẻ được vị chủ lễ trao truyền Tam quy, Ngũ giới thì buổi lễ sẽ được gọi thêm là Lễ hằng thuận quy y. 

Hiện nay, đám cưới ở chùa không còn là một "hiện tượng lạ" khi ngày càng có nhiều bạn trẻ muốn khởi sự đời sống lứa đôi của mình bằng một lễ thức thiêng liêng thay vì một lễ hội. Hôn nhân, vì vậy, đã trở thành một lời phát nguyện dưới sự chứng minh của chư Phật và chư Tăng: một đời sống chung với ý thức và trách nhiệm được bắt đầu bằng hai chữ "hằng thuận"...
 Lên chùa làm lễ thành hôn...
"Đây là điều rất mới đối với đạo Phật!", TT Thích Viên Giác, trụ trì chùa Từ Tân, khẳng định. "Từ ngày chấn hưng Phật giáo, một số Phật tử đã nghĩ đến việc lên chùa tổ chức lễ cưới cho con em mình dưới sự chứng minh của Tam bảo. Thế nhưng, cho đến nay, trải qua hai phần ba thế kỷ, có người vẫn cho rằng việc cử hành hôn lễ ngay trước bàn Phật là đi ngược lại với mục đích giải thoát của đạo Phật", TT cho biết thêm. 
Tuy nhiên, trên thực tế, những suy nghĩ như thế không nhiều, vì vậy, nhiều Phật tử đã nghĩ đến việc lên chùa cung thỉnh chư Tăng hộ niệm cho hôn lễ của mình. Trong khói trầm ngào ngạt, trong lời kinh nhiệm mầu, trong sắc y vàng rực rỡ và lời khuyến nhủ của chư Tăng, hôn lễ diễn ra với tất cả sự trang nghiêm, thành kính - chắp cánh cho đời sống hôn nhân bay bổng giữa đôi bờ thiêng liêng và trần tục. "Hôn nhân là một bước ngoặt lớn trong đời; hạnh phúc là sự hòa hợp giữa đời sống tâm linh và vật chất, giữa tình thương yêu và sự hướng thượng… nên một buổi lễ phát nguyện hằng thuận tại chùa là điều cần thiết đối với một Phật tử", một bạn trẻ cho biết.
Quả thật, ngày càng có nhiều Phật tử lên chùa xin tổ chức lễ thành hôn. Đám cưới tại chùa trở thành một nét văn hóa đối với Phật giáo nói riêng và xã hội nói chung. "Chúng ta không nên áp đặt giới luật của người xuất gia lên hàng cư sĩ tại gia. Khi Đức Phật còn tại thế, chính Ngài cũng đã nhiều lần khuyến nhủ hàng Phật tử tại gia sống đời sống gia đình theo đúng Chánh pháp cũng như đạo đức xã hội qua qua các bài kinh Thiện Sanh, kinh Đảnh lễ sáu phương…", nhiều vị trụ trì cho biết như vậy khi chúng tôi đặt vấn đề: nên hay không việc cử hành hôn lễ cho Phật tử tại chùa? Các ngài còn cho biết: "Chứng minh và hộ niệm cho hôn lễ của Phật tử là việc làm tùy thuận của chư Tăng. Hơn nữa, việc làm này cũng chính là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho người Phật tử tại gia Phật hóa gia đình, xây dựng đời sống gia đình hướng thiện".
Nghi thức hôn lễ tổ chức tại chùa được tiến hành như một buổi lễ cầu an với những tên gọi như: Nghi thức cầu an lễ thành hôn; Nghi thức lễ thành hôn; Nghi thức hộ niệm hôn lễ…; đơn giản hơn, nhiều người gọi là lễ thành hôn hay lễ đám cưới tại chùa. Trong nghi thức này, phần "lễ thức" thường được chú trọng hơn phần "nghi lễ" - phần chính của lễ hằng thuận chính là bài pháp ngắn của vị chủ lễ trước khi trao nhẫn cho cô dâu chú rể, khuyên đôi bạn trẻ sống đúng với Chánh pháp và đạo lý ở đời…
Thử truy tìm nguồn gốc và tên gọi của lễ hằng thuận
Ai cũng biết rằng nghi thức hằng thuận ra đời trong khoảng sáu, bảy mươi năm gần đây. Nhưng cụ thể, đó là vào thời điểm nào, do ai đặt ra, ai là người đầu tiên đến chùa làm lễ hằng thuận… thì điều đó, ngay cả những nhân vật gắn liền với Phong trào Chấn hưng Phật giáo như cư sĩ Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm,… vẫn không thể trả lời chính xác. Phải chăng, đó chỉ là những sự kiện nhỏ trong một thời kỳ đầy biến động nên đã mờ đi trong ký ức của mọi người? 
… Trong số những người con của bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, hiện chỉ còn duy nhất người con trai út là bác Lê Đình Lực, 72 tuổi, sống tại số 194, đường Giải Phóng, Q.Thanh Xuân, TP.Hà Nội. Trò chuyện với chúng tôi, bác cho biết: "Vào khoảng năm 1939 hay 1940 gì đấy, lúc đó tôi còn quá nhỏ, gia đình tôi ở Bến Ngự, tôi nhớ bố tôi đã tổ chức lễ cưới cho chị Lê Thị Hoành, chị đầu của tôi, tại chùa Từ Đàm. Nhưng bây giờ chị ấy mất rồi, chỉ còn lại anh Hoàng Văn Tầm, anh rể tôi, đang ở đường Trung Liệt, TP.Hà Nội…". Cụ Hoàng Văn Tầm, rể cả của cụ Lê Đình Thám, năm nay cũng đã 90. Hiện cụ rất yếu, giao tiếp khá khó khăn, nhưng trí nhớ của cụ vẫn còn khá tốt. Cụ cho biết: "Đó là ngày 3-3-1940, lễ cưới của tôi và cô Hoành được tổ chức ở chùa Từ Đàm. Tôi không khẳng định được chúng tôi có phải là người đầu tiên lên chùa làm lễ cưới vào thời ấy hay không, nhưng… có lẽ chúng tôi là người đầu tiên thật, bởi trước đó, tôi chưa nghe ai lên chùa làm lễ cưới cả!".
Là một trong những cư sĩ tiên phong và có công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo vào những thập niên đầu thế kỷ XX, người sáng lập nên Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục - Gia đình Phật hóa phổ (1940), tiền thân của Gia đình Phật tử (1951), phải chăng bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám cũng chính là người nghĩ đến việc Phật hóa gia đình bằng cách cung thỉnh chư Tăng cho phép những cận sự nam, nữ được tổ chức lễ cưới tại chùa với sự chứng minh của Tam bảo, và người con gái đầu lòng của bác sĩ chính là người Phật tử đầu tiên thực hiện lễ thức này?
Riêng đối với hai chữ "hằng thuận", tuy được sử dụng khá rộng rãi, nhưng qua tìm hiểu từ sách vở cũng như tham vấn trực tiếp chư tôn đức và những cư sĩ lớn tuổi, chúng tôi vẫn chưa xác định được "hằng thuận" nguyên nghĩa là gì, do ai đặt ra? Bởi theo cụ Hoàng Văn Tầm và Lê Đình Lực thì: "Tôi chưa nghe đến hai chữ hằng thuận như thế bao giờ!". Cư sĩ Võ Đình Cường và cư sĩ Tống Hồ Cầm cũng cho rằng: "Tôi không nhớ rõ lắm… nhưng hình như vào thời điểm chấn hưng Phật giáo, chúng tôi chưa từng nghe đến hai chữ hằng thuận…".
Trong ba bản: Nghi thức lễ thành hôn của HT Thích Thiện Hòa, Nghi thức cầu an lễ thành hôn của HT Thích Trí Thủ và Nghi thức hộ niệm hôn lễ của HT Thích Nhất Hạnh mà chúng tôi hiện có được, bản của HT Thiện Hòa được viết và in thành sách sớm nhất, năm 1971, trong đó, hai chữ "hằng thuận" được HT nhắc đến một lần duy nhất ở phần hồi huớng: "Hằng thuận công đức thù thắng hạnh…", hai bản còn lại không hề nhắc đến chữ này. Vậy phải chăng HT Thiện Hòa là người đầu tiên xác nhận "hằng thuận" chính là nghi thức cử hành hôn lễ tại chùa bằng văn bản? 
Về ý nghĩa của hai chữ "hằng thuận", qua tham vấn chư vị tôn túc, chúng tôi ghi nhận được hai quan điểm: 1. Hằng thuận nghĩa là tùy thuận chúng sanh mà thực hiện (theo hạnh Bồ tát của chư Tăng); 2. Hằng thuận nghĩa là thường sống với nhau hòa thuận (theo đạo vợ chồng). Trong Hoa ngọc lan, HT Thích Chơn Thiện viết: "nhà chùa đã phương tiện thực hiện theo yêu cầu của các gia chủ, và gọi đó là lễ hằng thuận. Hằng thuận vừa mang ý nghĩa phương tiện "hằng thuận chúng sanh" của nhà chùa, vừa mang ý nghĩa hướng dẫn người đời sống hằng thuận". Riêng TT Viên Giác còn đặt vấn đề: "Chữ hằng trong quẻ dịch là đạo vợ chồng. Hằng thuận, nếu hiểu theo nghĩa ấy chính là sống thuận theo đạo vợ chồng, một đạo lý sống chung hòa hợp. Đạo lý sống chung đó nhà Phật thiết lập để cung cấp cho những cặp vợ chồng sống chung hạnh phúc theo năm nguyên tắc đạo đức của người Phật tử (5 giới cấm). Tuy nhiên, theo tôi được biết, nhiều vị trụ trì vẫn ngại dùng chữ hằng thuận vì hiện nay từ ngữ này vẫn chưa được đặt một cơ sở lý giải vững vàng để trở thành thuật ngữ của Phật giáo".
Đôi điều suy nghĩ
Hằng thuận là một nét đẹp trong đời sống lứa đôi. Đối trước Tam bảo, đôi bạn phát nguyện sống chung hạnh phúc theo 5 nguyên tắc đạo đức cơ bản của Phật giáo, một mặt, tạo nền tảng tâm linh hướng thượng cho đời sống gia đình, mặt khác, "lời hứa" trước Tam bảo sẽ có sức mạnh nâng đỡ cho đôi bạn vượt qua những trắc trở trong đời sống sau hôn nhân. Đứng trên bình diện nào đó, việc làm này cần nên khuyến khích và vị trụ trì cũng nên tạo điều kiện cho Phật tử đến chùa làm lễ hằng thuận. Tôn giáo hợp thức hóa đời sống lứa đôi, tôn giáo giúp cân bằng đời sống tâm linh và vật chất, tạo nên một đời sống hướng thượng. Trong khi gia đình là một tế bào của xã hội - một tế bào tốt sẽ là điều kiện tốt để cấu tạo nên một cơ thể lành mạnh.
Tuy nhiên, hằng thuận chỉ thật sự có ý nghĩa khi đôi bạn trẻ cùng muốn hướng đến một đời sống hôn nhân tốt đẹp. Cùng với tình yêu thương, ý thức trách nhiệm và mục đích sống, đôi bạn trẻ cùng nhau xây đắp ngôi nhà hạnh phúc trên nền tảng đạo đức Phật giáo cho hạnh phúc được bền lâu. Nếu không như vậy, quả thật, hằng thuận chỉ là một việc làm "tùy thuận" theo xu thế thời đại, đánh mất đi tinh thần và trí tuệ của Phật giáo - hằng thuận, như thế, quả thật, không nên tổ chức ngay trước bàn Phật!
Xuất phát từ mục đích tốt đẹp đó, lễ hằng thuận là một cầu nối giữa đạo và đời, giữa hạnh nguyện giải thoát và ước nguyện xây dựng một xã hội tốt đẹp của chư Tăng và hàng Phật tử tại gia.

 
Khi Tây đám cưới ở chùa Ta! 
Đó là buổi lễ hằng thuận của anh John Matthews (người Canada) và chị S.R. Mills (người Anh) tại Ni viện Vạn Hạnh ngày 4-12-2004. Anh là giáo viên Trường Korea International và chị là giáo viên Anh văn Hội Việt-Mỹ, TP.HCM. Lễ cưới của John Matthews và S.R. Mills diễn ra tuy đơn giản nhưng rất trang nghiêm, đúng theo nghi thức lễ hằng thuận của Phật giáo dưới sự chứng minh của Ni sư trụ trì và Ni chúng Ni viện Vạn Hạnh cùng sự có mặt của khá nhiều bạn bè đồng nghiệp. Tuy không rành tiếng Việt lắm và cần phải có người phiên dịch những lời khuyến nhủ của Ni sư, nhưng anh chị vẫn cảm nhận được tất cả niềm hạnh phúc thiêng liêng trong một không gian ấm áp. Sau buổi lễ, anh cho biết: "Mặc dù tại quê nhà, tôi cũng đã nhiều lần đến chùa và đọc sách Phật, nhưng khi đến Vạn Hạnh, tôi mới thật sự thấy mình có duyên đối với Phật pháp. Ban đầu, tôi không nghĩ rằng chùa sẽ tổ chức lễ cưới và lại tổ chức tốt như vậy. Tôi thật sự xúc động và mong rằng sau lễ cưới này, chúng tôi sẽ trở thành những Phật tử thật sự".
Lễ cưới chín trăm nghìn!
Tức 900.000đ cho một lễ cưới với đầy đủ phần "lễ" và "tiệc" và cả một ban nhạc… sống! Đó là lễ hằng thuận của đôi bạn trẻ Vinh và Tuyết được tổ chức tại chùa Từ Tân (Q.Tân Bình). Rất có thể đây là đám cưới ít tốn kém nhất thành phố nhưng vẫn hiện diện đông đủ bà con hai họ cùng bạn bè thân hữu. Đôi bạn trẻ là thành viên của Gia đình Phật tử chùa Từ Tân, là những công nhân từ miền Trung xa xôi vào thành phố lập nghiệp. Chùa đã tạo điều kiện cho đôi Phật tử thuần thành này làm lễ hằng thuận với một bữa chay thân mật tại chùa - tất cả chỉ tốn kém 900.000đ. Ban nhạc của GĐPT cũng giúp vui cho buỗi lễ bằng những bài nhạc đạo và bài hát về lễ hằng thuận do các anh chị em Phật tử tự sáng tác. Thân mật, ấm áp, thiêng liêng nhưng vẫn không quá sơ sài cho một đám cưới nghèo - bởi vì đó là một lễ hằng thuận!
Quảng Kiến