Wednesday, August 18, 2010

Phật giáo và nhu cầu xã hội

Sự ra đời một tập sách nhỏ để ôn lại những thời gian bên nhau, kể cho nhau nghe những kỷ niệm hay kinh nghiệm trong cuộc sống là một điều phấn khởi có lẽ không riêng cá nhân ai trong khóa 5 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hưởng ứng tinh thần đề xuất của những vị có tâm huyết – những người đã tạo điều kiện hết mực cho sự gắn bó lâu dài giữa các thành viên trong khóa, người viết cũng xin được góp vài ý nhỏ góp nhặt từ những suy nghĩ nông cạn với hy vọng tô thêm một chút màu vào vườn hoa tâm linh đa sắc, lung linh và huyền diệu – vườn hoa của khóa 5 Học viện.

Khi nói đến Phật giáo, chúng ta không thể không nói đến giá trị giáo dục, nhất là giáo dục tâm linh mà đạo Phật đóng góp cho nhân loại. Phật giáo là con đường hay phương pháp huấn luyện tâm linh, huấn luyện lối sống đạo đức cho con người trong xã hội loài người. Thông qua những lời dạy của đức Phật để lại trong các bộ kinh và dựa vào phương pháp áp dụng của những nhà giáo dục tâm linh, giá trị giáo dục Phật giáo được phát huy ở mức độ khác nhau. Lời Phật dạy thì không thay đổi, phương pháp hành trì đa dạng nhưng cũng tương đối rõ ràng, chỉ còn lại yếu tố quan trọng là con người – những người biết áp dụng phương pháp sao cho thích hợp và sáng tạo để đem đến kết quả tốt nhất. Điều này đặt ra cho tất cả những nhà giáo dục tâm linh một câu hỏi lớn và buộc phải nghĩ ra giải pháp hữu hiệu nhất cho bản thân khi hành đạo.

Ở đây, người viết chỉ đề cập chia sẻ những điều thấy được từ thực tế Phật giáo nước láng giềng. Có lẽ ai cũng biết rằng Phật giáo Thái Lan được xem như là quốc giáo bởi tín đồ theo đạo Phật chiếm tỉ lệ hầu như gần hết và văn hóa Phật giáo từ xưa đã hòa nhập và trở thành văn hóa Thái. Thành tựu ấy là kết quả tuyệt vời của nền giáo dục Phât giáo đem lại. Phương pháp giáo dục có vẻ như đơn giản, hình thức, chấp chặt nhưng lại rất có hiệu quả. Ở Thái, vai trò và trách nhiệm của người xuất gia và tại gia được phân biệt rõ ràng về mọi mặt. Riêng về mặt tu tập tâm linh thì họ xác định rằng chỉ có người xuất gia mới có thể thành tựu quả vị thánh. Người tại gia chủ yếu tu tập để tích tụ công đức và phước báo, do đó, việc chứng thánh quả với họ không phải là vấn đề để họ bàn luận.

Có lẽ đọc qua quan điểm trên, chúng ta có những suy nghĩ đánh giá khác nhau hoặc tích cực hay tiêu cực và nếu nhìn từ góc độ thiết thực sẽ có điều chúng ta cần tham khảo. Phải thừa nhận rằng đối tượng mà Phật giáo nhằm đến không ai khác hơn là con người, mà con người ở đây là con người trong xã hội tức là quần chúng thuộc mọi tầng lớp xã hội. Trong đó, thành phần cư sĩ tại gia chiếm đại đa số chứ không phải những bậc xuất gia trong bất cứ thời đại nào và quốc gia nào. Do đó, trong khi giáo hóa độ sanh, đức Phật khuyến khích đời sống xuất gia nhưng Ngài lại tập trung nhiều vào đối tượng tại gia vì đây là thành phần chiếm số đông và cần được nhận sự quan tâm của đức Phật nhiều nhất. Hiểu rõ được lời dạy ấy, Phật giáo Thái đã đi đúng đường, đúng phương pháp khi họ biết áp dụng chúng để giáo hóa những người Phật tử.

Nhu cầu của người tại gia không thể là nhu cầu của người xuất gia nên không thể hấp dẫn họ nếu chỉ giới thiệu những lý thuyết lý tưởng cao siêu mà thiếu cái thực tế, gần gũi cần thiết hàng ngày. Phật giáo Thái không dạy nhiều về lý tưởng Bồ tát nhưng chính tinh thần từ bi thông qua bố thí cúng dường lại là hóa thân của Bồ tát; thay vì thuyết phục bằng ngôn từ trừu tượng họ dùng những tấm gương có thực bằng những con người thật để nhiếp hóa. Qua những điều thực tế và cụ thể, Phật tử hiểu và xác định được vị trí, nhiệm vụ, nhu cầu của họ nên họ theo đó để đóng góp và phát triển tâm linh. Họ dường như không thích bàn luận quá nhiều lý thuyết Phật giáo mà chỉ quan tâm những pháp thực hành cụ thể. Cho dù những pháp ấy đôi khi hình thức và chấp mắc, nhưng nó vẫn có gí trị giáo dục tích cực hơn nhiều so với sự bàn luận lý thuyết cao siêu mầu nhiệm nhưng chỉ là sự bàn luận suôn.

Cách giáo dục như thế được áp dụng một cách cụ thể. Ngay từ khi còn là một cậu bé hay cô bé tí xíu, chúng đã được dạy về đạo đức Phật giáo. Đó là sự tôn kính Tam bảo, kính trọng cha mẹ, những người lớn, biết lễ phép, biết chắp tay chào hỏi…. Sự giáo dục ấy diễn ra đồng thời ở gia đình, học đường và môi trường xã hội, nên chúng ta cũng không quá ngạc nhiên khi thấy các thế hệ người Thái hiền hòa và mang đậm chất Phật giáo như thế. Cũng ngay từ nhỏ, các em nhỏ được tập cho tham gia vào trong các sinh hoạt Phật giáo như lễ hội, tụng kinh, làm phước v.v…Đây là một cách giáo dục huân tập có ý thức về nhu cầu và bổn phận của chúng. Ví dụ thông qua việc cúng dường tạo phước, thay vì chỉ có những người lớn đại diện thì ở Thái tất cả các thành viên trong gia đình đều tham dự. Tâm lý chung khi tham gia một sinh hoạt, nếu trong đó có bổn phận của mình thì chúng ta sẽ thích thú hơn và sẵn sàng hơn. Đây cũng là điều cần suy nghĩ khi chúng ta tổ chức bất cứ sinh hoạt gì, đối tượng phục vụ phải là yếu tố để ý đầu tiên.

Phật giáo thật cao thâm nhưng cũng rất gần gũi với đời thường. Với mọi thành phần xã hội, Phật giáo đều có thể đáp ứng và đem lại lợi lạc nếu được áp dụng đúng phương pháp. Xác định được đối tượng và nhu cầu của đối tượng thì các nhà giáo dục tâm linh sẽ có cơ hội thành công trong quá trình áp dụng cách giáo dục. Đây lại cũng là một vấn đề đặt ra cho tất cả chúng ta - những người có nhiều ưu tư đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nói chung và cho sự hưng thịnh Phật giáo nói riêng.

Ý nghĩa Lễ Dâng Y

Ngày nay, hình ảnh dâng y trở nên quen thuộc đối với những người con Phật. Mỗi dịp tháng 7 âm lịch khi mà chư Tăng sắp mãn hạ, Phật tử lại có dịp tham dự và dâng pháp y cúng dường chư tôn đức Tăng Ni. Ý nghĩa dâng pháp y luôn được chư tôn Hoà thượng giải thích nhân dịp lễ nhưng có lẽ cũng còn nhiều người cần biết hay tìm hiểu thêm. Do đó, bài viết này nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu tìm hiểu cùa quý Phật tử. Từ sự hiểu biết ấy, hy vọng rằng các lễ dâng pháp y sẽ trang nghiêm hơn và đông đảo hơn.

Theo truyền thống Phật giáo, mỗi năm vào mùa mưa chư Tăng đều phải câu hội về một trú xứ để An cư, thúc liễm thân tâm trau dồi tam vô lậu học (giới, định, tuệ). Nhờ sự tu tập tinh nghiêm, sau 3 tháng có nhiều vị chứng đắc quả vị giải thoát cao hay ít nhất cũng được nhiều an lạc. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, An cư kiết hạ được thi hành từ thời đức Phật cho đến ngày nay. Mặc dù thời gian, hình thức đôi khi có thay đổi nhưng ý nghĩa và giá trị thiết thực của nó vẫn được duy trì. Do vậy, tuy không đạt được quả vị giải thoát như thời đức Phật nhưng kết quả lợi lạc sau 3 tháng là điều không thể phủ nhận. Sự thành tựu đạo nghiệp ấy là cơ duyên cho hàng Phật tử gieo trồng cội phước và chư Tăng được ví như ruộng tốt lành để hàng Phật tử gieo trồng hạt giống phước báo hầu mong được hạnh phúc hiện tại và tương lai. Chiếc y của chư Tăng được ví như là ruộng phước và việc cúng dường y trở thành một truyền thống trong Phật giáo.

Cũng theo truyền thống, việc dâng y chỉ được thực hiện khi mãn hạ và vị được nhận y là vị thiếu y, vị trưởng lão hay vị xuất sắc trong tu tập. Chiếc y ấy có tên gọi là kathina nghĩa là y công đức, y thưởng thiện phạt ác, y kiên định, y che thân khi nắng mưa v.v…, trong đó nghĩa y công đức được sử dụng phổ biến hơn cả. Theo Yết Ma Yếu Chỉ y kathina là loại vải thô cứng được dùng để may y phục. Luật Tứ Phần nói: sau khi tự tứ, các vị Tỳ kheo đi đảnh lễ Phật. Trên đường đi, họ gặp mưa ướt hết nên đi lại rất nặng nề (vì y quá lớn và bị ướt). Sau khi đảnh lễ xong, đức Phật hỏi thăm về tình hình tu tập của các Tỳ kheo. Biết sự việc trên, Phật cho phép các Tỳ kheo được phép nhận y công đức sau khi mãn hạ. Đó là nhân duyên có lễ dâng y kathina hay y công đức mà thường gọi là lễ dâng pháp y.

Như vậy, thọ y có ý nghĩa là phần thưởng xứng đáng cho các Tỳ kheo đã tu tập tinh tấn trong ba tháng An cư, là vinh hạnh to lớn trong đời sống tu tập và là tấm gương tinh thần có giá trị soi sáng và ảnh hưởng tốt đến đại chúng. Do đó, thọ nhận y không mang ý hưởng thụ vật chất mà là một phần thưởng tinh thần khích lệ cho việc tu trì.

Theo thời gian, truyền thống dâng y được lễ hội hoá với hình thức tổ chức trọng thể và việc dâng y được thực hiện cho tất cả chư Tăng Ni hiện diện trong đạo tràng tu tập. Vì vậy, lễ dâng y được tổ chức với phạm vi lớn hơn, rộng rãi hơn. Phật tử tham dự lễ đội trên đầu mình chiếc y và đi nhiễu theo sự hướng dẫn của ban tổ chức. Vì kết hợp giữa nghi thức truyền thống và lễ hội nên lễ dâng y thu hút sự quan tâm của quần chúng Phật giáo đồ. Đó cũng là nhân duyên hướng họ đến với những giá trị đích thực mà đạo Phật mang lại.

Một điều làm Phật tử không được vui là khi dâng y cúng dường. Vì số lượng Phật tử tham dự và dâng y bao giờ cũng nhiều hơn là chư Tăng Ni nhận y nên có sự tranh giành dẫn đến người vui kẻ buồn. Do không hiểu ý nghĩa cúng dường hay do lòng khát ngưỡng khá cao mà nhiều người muốn chính mình được dâng chiếc y lên chư tôn đức. Đó là một mong muốn tốt nhưng nếu vì đó mà cố chấp thì lại là sự sầu khổ. Bởi vì người trực tiếp dâng y hay người gián tiếp nếu tâm thanh tịnh cúng dường y đều có phước báo như nhau. Do đó, lời khuyên với quý Phật tử là hãy giữ tâm cúng dường thanh tịnh và hoan hỉ dù có được duyên đội y dâng hay không để hưởng phước báo trọn vẹn nhất.

Lớp trưởng lớp tôi

Lớp Trưởng Lớp Tôi

(Kính tặng Thầy

Cựu lớp trưởng lớp Tăng 1)


Trong lớp học bao giờ cũng có một người đại diện mà ta thường gọi là lớp trưởng. Lớp tôi cũng có lớp trưởng và ở thầy có nhiều điểm mà chúng tôi rất cảm phục. Đó là tinh thần vì tập thể cũng như sự đóng góp to lớn trong hoạt động đưa lớp đi lên.

Khi viết bài này chúng tôi không phải vì mục đích đề cao hay tâng bốc mà chỉ là những cảm nhận thực tế chúng tôi thấy được rất khách quan. Qua đó một mặt nói lên sự diễm phúc đối với tập thể lớp, một mặt là để nhắc nhở chính chúng tôi xem đó như là điều đáng trân trọng để học tập và áp dụng vào cuộc sống tự thân của mỗi người.

Với vai trò là người đứng đầu do sự tín nhiệm của tập thể đề cử, thầy ý thức được trọng trách của mình đối với lớp. Sự ý thức ấy được biểu hiện qua những việc làm cụ thể. Đó là nỗi lo toan làm sao đưa tập thể vững mạnh về mọi mặt từ học tập cho đến vui chơi, tham quan, giải trí. Khi đề ra bất cứ chương trình gì thầy đều vì tập thể trước tiên và dù việc làm ấy ảnh hưởng đến bản thân thầy cũng không màn đến, miễn sao tập thể tốt là được. Đó là tinh thần đáng ghi nhận trong bất cứ tổ chức nào.

Có thể nhiều người cho rằng đó là chuyện rất bình thường mà bất cứ người nào ở vị trí ấy cũng như vậy. Nhận xét ấy sẽ quá thiển cận vì thực tế được mấy người thực sự như vậy. Khi gặp thử thách thì nhiều người thường nản lòng dẫn đến bỏ bê công việc. Nhưng với thầy thì thầy đã cố gắng vượt qua tất cả để đứng vững lo chu toàn công việc. Thực tế đâu phải việc tốt nào cũng được mọi người ủng hộ hoàn toàn mà luôn luôn bên cạnh sự ủng hộ là sự phản đối hay bất đồng. Sự phản đối phải chăng là cơ hội tốt để làm tăng thêm những phẩm chất tốt vốn có của thầy.

Tinh thần tập thể còn thể hiện ở chỗ thầy luôn đặt lợi ích vì tập thể. Thầy âm thầm gánh vác những trách nhiệm đã được giao và chịu mọi khiển trách nếu có mà không một chút phàn nàn. Đã nhiều lần thầy can thiệp vào việc học tập nhằm giúp cho tập thể học tốt hơn và có hiệu quả hơn. Dù kết quả không như mong muốn nhưng thầy không vì thế mà nản lòng. Vì tất và là cái chung cơ mà…

Nói về sự đóng góp thì càng trân trọng hơn. Ở đây dường như ta thấy được bóng dáng của người đang hành bồ tát đạo. Hằng ngày, thầy bỏ nhiều công sức và tiền bạc để lo tài liệu cho lớp. Tuy nhỏ nhoi nhưng phần nào cũng ảnh hưởng tốt đến niềm tin yêu của tập thể. Có những lúc túng thiếu thầy phải lặn lội xa xôi để xin sự trợ duyên từ những Phật tử tín tâm. Những hy sinh ấy đôi lúc bị tai tiếng nhưng thầy cũng vẫn nhẫn nhịn và hoan hỷ.

Những ai đã từng trải qua những việc làm như vậy thì sẽ dễ dàng cảm thông và chia sẻ. Tất cả những gì thầy làm đâu phải vì danh lợi mà chỉ vì mong muốn đóng góp một chút gì đó làm cho tập thể đoàn kết và học tập tốt hơn. Đó là động lực chính thúc đẩy thầy hoàn thành sở nguyện và tấm lòng ấy thật đáng quý, đáng được trân trọng biết bao.

Sunday, August 15, 2010

Sự hộ trì của hàng Cư Sĩ

Đạo Pht t khi được khai sanh cho đến nay không ngng phát trin vì đã đem li li ích thiết thc cho nhân loi. Thành qu y là do công lao ca biết bao thế h tổ đức dày công vun đắp. Bên cnh sự hy sinh cao cả của chư tôn đức tăng ni thì công lao hộ trì ca hàng cư sĩ cũng không nh. S đóng góp ca hàng cư sĩ th hin qua rt nhiu cách thc khác nhau. Do đó, vic to điu kin để hàng cư sĩ phát huy vai trò ca họ trong s nghip ph biến Pht pháp trong nhân gian, có l, là mt vn đề ln cn quan tâm trong xã hi ngày nay.

Như chúng ta biết, đệ t ca Pht gm hai chúng xut gia và tại gia. Chúng xut gia thì tha hành s mng hong pháp để làm li ích cho chúng sanh và duy trì mng mch Pht pháp. Còn hàng cư sĩ ti gia vì còn bn buc thế s nên có vai trò chính là h trì chánh pháp. Điu đó cho thy ngôi nhà Phật pháp không thể tồn tại nếu thiếu một trong hai. Vai trò của hàng đệ tử xuất gia thì đã rõ. Còn vai trò hộ trì của hàng cư sĩ trong ngôi nhà Phật pháp xưa nay thế nào?

Vào thi đức Pht, có hai v đệ t ti gia ni tiếng là trưởng gi Cp Cô Độc và n thí ch Visakha. Trưởng gi Cp Cô Độc tên tht là Tu Đạt (Sudatta). Vì ông thường săn sóc, giúp đỡ, cung cp phẩm vật cho nhng người nghèo kh, cô đơn nên ông được gi với bit danh là trưởng gi Cp Cô Độc. Trưởng giả đã b vàng ra lót c khuôn viên ca thái t K-đà để mua khu đất này xây dng tnh xá K Hoàn dâng cúng đức Pht và Tăng đoàn. Tnh xá Kỳ Hoàn là nơi Pht và chư tăng lưu trú nhiu nht trong thi gian Pht hành đạo nơi nhân gian. Trong các kinh điển, tên tịnh xá này thường được nhc đến như là mt xác chng v địa điểm đức Pht thuyết pháp. Ngoài ra ông còn thường xuyên cúng dường Pht và chư tăng, và thỉnh Phật ch dy nhng pháp tu cho hàng cư sĩ ti gia khi ông có nhng thc mc t cuc sng. Còn n thí ch Visakha thường cúng dường thc ăn cho Pht và tăng đoàn, cúng dường thuc men, y áo cho c tăng và ni. C hai v này đều có lòng tin kiên c nơi Pht pháp và đạt được kết qu tu tp khá cao. S h trì ca hai v này không ch cúng dường phm vt mà còn đề ngh nhiu ý kiến hay liên quan đến vic bo v tăng đoàn và thường xuyên phổ biến chánh pháp cho cộng đồng. Đó ch là hai vị cư sĩ tiêu biu nht thi đức Pht.

Như vy, mc dù còn phi lo toan nhiu vic gia đình và xã hi nhưng các v cư sĩ vn đóng góp được rt nhiu cho Pht pháp. Ngày nay, trong xã hi có nhiu biến đổi và phc tp thì vai trò ca hàng cư sĩ càng quan trng hơn. Hàng cư sĩ không chỉ hộ trì chánh pháp bằng hỗ trợ vật chất mà còn bằng sự hành trì của chính bản thân và phổ biến chánh pháp đến người khác. Chính họ là si dây liên kết quan trng gia ngôi chùa và xã hi, là yếu t không th thiếu để ph biến và làm cho chánh pháp hòa nhp vào gia đình và xã hi.

Theo li Pht dy, hàng xut gia chuyên tâm lo trau di trí tu và phm hnh để làm nhng bc mô phm hướng dn cho hàng ti gia tu tp. Do đó, đời sng hng ngày ca hàng xut gia đều trông nh vào s phát tâm cúng dường t hàng cư sĩ. Vy thì, điu đầu tiên mà hàng cư sĩ đóng góp là cung dưỡng cho chư tăng ni an tâm tu hc. Bng s tiết kim chi tiêu gia đình, hàng cư sĩ đem tài sn y để cúng dường chư tăng nhm hi hướng phước báu ấy cho gia đình và thực hành hạnh tu bố thí cúng dường. Đồng thi, cũng nhân đó, h hc hi giáo pháp để biết cách tu tp, phát triển tâm linh đúng cách. Như vy, s đóng góp này là có mc đích đúng đắn nhm li lc cho bn thân và mi người. Đối vi bn thân là tu hnh b thí cúng dường để x b bớt lòng tham lam bn xn, t đó làm nhân lành để tiến bước trên con đường hc và hành theo giáo pháp ca đức Pht trong đời sng hng ngày. Đối vi tha nhân, đó là mt vic làm tt để mi người noi theo và cộng hưởng. Noi theo là học theo hạnh xả bớt xan tham và cộng hưởng là cùng hưởng những hoa quả của việc làm thiện này. Hoa qu là nhng bc tăng ni tài đức để hướng dn mi người tu tp, là nhng ngôi già lam trang nghiêm cho mi người l bái và tu học, là những giá trị tinh thần cho cộng đồng v.v. Vi s hiu biết như vy thì vic cúng dường s có nhiu ý nghĩa và nó biểu hiện mối quan hệ lợi ích đa chiều trong khi chúng ta tu tập hạnh này.

Kế đến, hàng cư sĩ có thể hộ trì bằng chính công sức của mình. Có rt nhiu Phật tử đến chùa để làm công qu tc là làm vic mà không đòi hi tr lương. chùa, có rt nhiu vic cn sự trợ giúp của hàng cư sĩ như xây dng, sa cha vt dng, làm thức ăn v.v… S đóng góp này s góp phần tiết kim rt nhiu v thi gian và tài chánh cho chùa. Li na, có nhng v hàng tháng đi vn động bn bè thân quen tiết kim tài vật để ng h cho công tác Pht s hay y lo. Công sc y cũng không phi nh vì nó đòi hi mt người có lòng tin kiên c và nhn ni, hết lòng vì Pht pháp. Bi vì đâu phi ai cũng d cm thông vic làm qung đại này và bi thiện tâm thường hay đổi thay. Tuy nhiên, việc làm này dễ đưa đến tâm ngã mạn, khoe khoan nên sự thận trọng là rất cần thiết để cho phước báo được trọn vẹn.

Hàng cư sĩ cũng đóng góp đáng k trong vic hướng dn tăng ni nhng kiến thc v xã hi hay chuyên môn. Có rt nhiu giáo sư đứng lp để truyn li cho tăng ni nhng kinh nghim và kiến thc xã hi. Ngoài ra, họ cũng là những người nghiên cứu và đóng góp rất nhiều ấn phẩm có giá trị tạo điều kiện rất tốt cho những người học Phật. S đóng góp y tht đáng trân trng bi nó đã vun thêm nhng duyên lành cho ht ging tt. Nhng ht ging ấy có th đem đến nhiu kết qu trong hiện tại và tương lai cho Phật pháp và xã hội.

Nhưng có l s đóng góp rất cần hiện nay ca hàng cư sĩđem giáo pháp ca đức Pht ph biến cho gia đình và xã hội. Hàng cư sĩ là người gn bó mt thiết vi gia đình và xã hi nên có nh hưởng trc tiếp đến cuc sng ca nhng người xung quanh. Đối với gia đình, cha m là yếu t quyết định đến vic giáo dc con cái tt hay xu. Cha m phi là tm gương cho con cái noi theo t mi lĩnh vc và có trách nhim hướng chúng đến nhng môi trường tt để hc tp. Khi cha m là Pht t thì phi hướng dn con em đến chùa hc đạo đức và giáo lý đạo Phật. Nh s hiu biết đó chúng s nhn thc được giá trị của giáo pháp khi tiếp cn vi cuc sng thc tế. Đó là cách tt nht để phổ biến và phát triển chánh pháp một cách chân chánh. Đó cũng là cách các bậc cha mẹ bảo vệ con em mình tốt nhất.

Ngày nay, vi s phát trin công ngh truyn thông hin đại, bên cnh s hu ích thì s tác hi của nó cũng không nh. Làm sao để cho mi người nht là gii tr có hng thú tìm đến nhng chương trình đạo đức hữu ích, nhất là các sinh hoạt Phật giáo? Thứ nhất cần có những chương trình bổ ích cho giới trẻ tham gia và được tổ chức thường xuyên khắp nơi. Kế đến là Pht t phi biết hướng dẫn con em tham gia hc tp và giải trí từ những chường trình này. Thông qua nhng băng ging pháp hay truyn sách, chúng ta giới thiệu đạo đức Phật giáo đến giới trẻ để tạo tiền đề cho chúng hc tp một cách có hiểu biết. Do vậy, mỗi Phật tử cũng là một nhà hoằng pháp tích cực, đem chánh pháp đi vào cuộc sống hàng ngày. Công đức của việc làm này thật là vô lượng.

Đối vi xã hi, Pht t có cơ hi tiếp xúc vi mi thành phn nên dễ dàng chia s kinh nghiệm tu học qua sự hành trì của bản thân. Thông qua công việc xã hội mà bản thân đang làm, người Phật tử thấy rõ được những thuận lợi và khó khăn trong cuộc sống và nhu cầu cần thiết của chánh pháp; từ đó, giới thiệu những pháp môn tu tập phù hợp cho những đối tượng đang mong mỏi. Sự giới thiệu kinh sách, băng đĩa thuyết pháp, các trang thông tin về giáo lý hay phương pháp tu tập; sự giới thiệu các đạo tràng thực tập hiệu quả v.v…là những cách mà Phật tử đều có thể làm được. Tuy nhiên, để việc chia sẻ kinh nghiệm có hiệu quả và để người nghe có thể chấp thuận thì chính bn thân hành giả phải đạt được sự an lạc nhất định nhờ thực hành chánh pháp. Đây là yêu cầu quan trọng quyết định sự thành tựu của hành giả tu tập và hoằng truyền chánh pháp.

Để cho sự hộ trì của hàng cư sĩ được phát huy đúng mức, việc hỗ trợ từ phía tăng ni là hết sức cần thiết. Như đôi cánh của thiên nga, thiếu một trong hai thì chúng không thể bay xa được. Cũng vậy, Phật pháp không thể trường tồn nếu thiếu một trong hai giới hay thiếu sự hỗ trợ lẫn nhau. Tăng già là điểm tựa tâm linh, là cội gốc để từ đó cành lá xanh tươi phát triển. Do đó, cội gốc trước hết phải được củng cố cho vững để có thể hỗ trợ tích cực cho cành lá mãi xanh tươi. Cội gốc tâm linh vững sẽ nuôi dưỡng cho những cành lá tinh thần tươi tốt. Trách nhiệm của cội gốc là không ngừng sản xuất dinh dưỡng đạo đức để cung cấp cho cây và nó không được phép quên vai trò chính của mình cũng như không được làm thay các chức năng khác của cây. Nếu có sự hài hòa như thế thì sẽ tạo nên một môi trường tâm linh lành mạnh cho xã hội, một môi trường cần thiết để che mát và làm dịu cái không khí bất an bởi phiền não, vô minh đang gia tăng.

Sự đóng góp của hàng cư sĩ suy cho cùng là sự tu tập tự thân của mỗi người nhằm lợi ích cho bản thân và tha nhân. Ngôi nhà Phật pháp sẽ vững hơn khi tứ chúng cùng tu tập, cùng hỗ trợ nhau bằng tinh thần và vật chất. Hiểu như thế sẽ không có thái độ phân biệt, chia rẻ do bản ngã chi phối, thay vào đó là thái độ tích cực hợp tác xây dựng vì một mục tiêu chung là sự giác ngộ giải thoát cho bản thân và tha nhân. Đó là những điều đức Phật đã dạy hơn 25 thế kỷ qua cho nhân loại.