Sunday, January 17, 2010

Văn Hóa Xe Ôm


Văn hóa là khái niệm rất rộng bao hàm tất cả những hoạt động của con người trong xã hội. Do đó, mọi sinh hoạt của con người trong một xã hội đều góp phần phản ảnh nếp sống văn hóa và nền văn minh của xã hội ấy. Ở Việt Nam, có một hoạt động mà hầu như tất cả người Việt trong nước đều biết, đó là ‘xe ôm’. Hoạt động của dịch vụ này (tiếng Anh gọi là motorbike taxi) như thế nào hiện nay ở Việt Nam.

Như chúng ta biết, mô tô hai bánh là phương tiện đi lại chủ yếu ở Việt Nam. Nó trở thành nhu cầu thiết yếu trong việc đi lại của những người bình dân. Từ đó, dịch vụ xe ôm để phục vụ cho những hành khách ở những cự li ngắn cũng hình thành. Dịch vụ này rất phù hợp với người dân vì đường xá ở Việt Nam chật hẹp và giá đi xe ôm rẻ hơn nhiều so với giá taxi. Vì thế, theo quy luật cung cầu, đội ngũ chạy xe ôm cũng tự nhiên xuất hiện ở khắp các nẻo đường, nhất là bến xe hay nơi công cộng. Đội ngũ lao động này đóng góp một phần rất quan trọng trong việc phục vụ hành khách đi lại, và có thể nói họ tạo nên một hình ảnh văn hóa riêng của những xứ sở có nhiều mô tô hai bánh. Hình ảnh văn hóa ấy được đội ngũ này thể hiện thế nào ở Việt Nam ta.

Nói một cách thực tế thì đội ngũ xe ôm ở Việt Nam dù nơi thôn quê hay thành phố lớn đều thiếu tổ chức theo luật lệ chung. Nó thể hiện qua hình ảnh và phương tiện họ sử dụng. Họ không được trang bị những đồng phục, địa điểm hay phương tiện trợ giúp cần thiết. Tùy theo từng nhóm mà họ tự quy định và bảo vệ nhau. Tuy nhiên, vì không có luật quy định cụ thể nên sự cạnh tranh không lành mạnh là điều không thể tránh khỏi. Sức mạnh giành giựt và thủ thuật kéo khách là nhân tố làm nên hình ảnh cạnh tranh không được đẹp mắt, nếu không muốn nói là thiếu văn hóa.

Khi có khách, dường như tất cả đội ngũ xe ôm trong một nhóm xúm lại, tranh thủ nhanh tay lẹ mắt để giành được khách ấy cho mình. Cảnh tượng này trở nên quen thuộc và làm cho hành khách cảm thấy khó chịu và lo sợ thay vì an tâm thoải mái như mong muốn. Hơn nữa, vì sự cạnh tranh không lành mạnh nên xảy ra tình trạng giá cả không thống nhất và chênh lệch rất cao. Những khách nào ở quê lên thành thị hay những người khách nước ngoài không biết giá thì thường bị ‘chặt đẹp’. Hoặc nếu khách lạ đi không trả giá trước thì cũng có thể trở thành nạn nhân. Tình trạng này thường dẫn đến mâu thuẫn và dẫn đến những hành động hay lời lói rất thiếu văn hóa giữa đôi bên. Đó là chưa nói đến những bất cập xảy ra đối với tính mạng của những người làm nghề này.

Nói về sự bất cập, tôi liên tưởng đến bài viết ‘xe ôm đêm’ trên trang báo điện tử Bình Định. Những nỗi lo âu về cướp và sát hại luôn là nỗi ám ảnh và là sự cảnh giác cao độ của những người làm nghề này. Mặc khác, chính những người hành nghề này cũng tạo ra không ít bất cập cho hành khách. Sự thiếu trung thực trong nghề nghiệp dẫn đến tình trạng ‘chặt đẹp’ không phải là cách làm ăn lâu dài và tất nhiên không phải là văn hóa nghề nghiệp. Nếu phục vụ tốt và nhờ sự rộng rải của khách, tiền ‘bo’ có thể được biếu. Thứ tiền ấy được xem là công bằng và hợp lý vì nó xuất phát từ tấm lòng của hai bên. Có thể nói, làm nghề gì cũng có rủi ro của nó. Nhưng nếu được sự quan tâm hỗ trợ của các nhà chức trách và sự trung thực trong lao động thì sự lo âu có thể được giảm và hình ảnh văn hóa trong khi hành nghề xe ôm sẽ đẹp lên.

Thử nhìn qua đội ngũ xe ôm của nước bạn - Thái Lan, ta cũng dễ bắt gặp những hình ảnh phục vụ này nhưng cung cách và thái độ của họ hoàn toàn khác. Đội ngũ xe ôm của họ nhìn không hơn gì ta về vật chất nhưng họ được trạng bị đồng phục và có tổ chức. Họ sinh hoạt theo luật lệ rõ ràng và rất lịch sự. Có nơi, họ treo bảng giá quy định tới các địa điểm với những mức giá cụ thể. Khi có khách, khách muốn đi xe nào thì chủ của xe đó chở đi. Trong nhóm, họ biết chia sẻ, nhường khách cho nhau nên không có sự cạnh tranh chụp giựt. Điều này rất đáng suy ngẫm vì họ vừa có thể sinh sống vừa tạo được tình đồng nghiệp lẫn nhau qua cách phục vụ này. Nếu trong một ngày có nhiều khách thì thu nhập nhiều, được chia nhau nhiều và ngược lại. Do đó, sự mâu thuẫn vì lợi ích sẽ được giảm thiểu và tình đoàn kết giữa những đồng nghiệp được nâng cao.


Photo courtesy of blog.motorcycle.com

Ai cũng cần có nguồn kinh tế để sinh sống và chăm lo cho gia đình nhưng ai cũng cần có thứ cao quý hơn. Đó là tình bạn bè, tình đồng nghiệp hay tình người. Nếu trong một tổ chức dịch vụ có sự thỏa thuận với nhau, sống chia sẻ nhau thì ngoài việc có được thu nhập ta còn có thêm được sự hạnh phúc khi hành nghề. Nếu được như vậy, chính họ đang góp phần tạo nên văn hóa xe ôm và văn hóa ứng xử của người Việt. Tuy nhiên, nguyên nhân không phải chỉ từ bản thân họ mà nó bắt nguồn từ môi trường sống thiếu sự cạnh tranh lành mạnh. Vấn đề này đặt ra cho tất cả chúng ta nhiều suy nghĩ.

Tuesday, January 12, 2010

Hạnh Phúc Cùng Tu Tập

Cổng Tam Quan Chùa Từ Lâm, Quảng Ngãi


Hạnh phúc và khổ đau là hai mặt của cuộc sống, đươc biểu hiện qua thái độ và cử chỉ hành động của con người. Hạnh phúc được con người cảm nhận với mức độ và cách thức khác nhau tùy theo quan điểm và lối sống của mỗi người. Hạnh phúc trong đạo Phật cũng được phân chia đại khái có hai loại là hạnh phúc thế gian dành cho người còn hưởng thụ dục lạc và hạnh phúc xuất thế dành cho những người có tâm cao thượng sống đời sống tâm linh. Trong hai loại hạnh phúc trên, hạnh phúc cùng tu tập thuộc về loại thứ hai bởi vì nó được vun bồi qua quá trình hành trì chuyển hóa tự thân của mỗi hành giả, và sự cộng hưởng từ đại chúng. Có thể nói rằng, mùa an cư là cơ hội thuận lợi nhất để mỗi hành giả có thể cảm nhận được hạnh phúc này.

Có lẽ giải thích nôm na, hạnh phúc là loại cảm thọ hay cảm giác mà con người trải qua với nhiều cấp độ khác nhau và điều kiện hay yếu tố tạo nên hạnh phúc là thật phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, khi giới hạn vào một phạm vi hay việc làm nào đó để biểu lộ cảm thọ hạnh phúc thì những hạnh phúc ấy có thể dễ dàng được đồng cảm và chấp nhận bởi những người cùng kinh nghiệm. Ngoài xã hội, thành công trong công việc, thăng quan tiến chức một cách chân chính…có thể gọi là hạnh phúc. Những hạnh phúc như thế, trong đạo hay con đường tu tập tâm linh, được gọi là phần phụ, trợ duyên cho hạnh phúc nội tâm, thứ hạnh phúc hay cảm thọ chỉ có được do quá trình tu tập chuyển hóa tâm thức. Được sống chung và cùng tu tập là cơ hội giúp cho hành giả có thể cảm nhận được hạnh phúc ấy trong đời sống thường nhật của mỗi người.

Tổ đình Từ Lâm, Quảng Ngãi, là địa điểm an cư tập trung cho chư tăng trong và ngoài tỉnh thuộc môn phái. Năm nay là năm an cư thứ hai kể từ khi Tổ đình được phục hồi và sinh hoạt trở lại. Công việc tổ chức an cư được chuẩn bị chu đáo từ rất sớm nên mọi nhu cầu về đời sống sinh hoạt đều được đảm một cách tối đa. Hơn nữa, chương trình tu tập cũng được soạn thảo rất chu đáo và rất nghiêm túc nên hành giả có nhiều điều kiện thuận lợi để chuyên tâm phát huy năng lực tu tập của mình. Trong một môi trường thuận lợi về đời sống vật chất lẫn tinh thần thoải mái, cộng với số lượng chư tăng đông đảo, tất nhiên là đủ để cho mỗi hành giả cảm nhận được hạnh phúc của cuộc sống tu tập cộng trú. Điều cần đặt ra liệu hành giả có cảm nhận được thứ hạnh phúc an lạc khi cùng chung sống và tu tập trong môi trường an lành như thế hay không.


Tăng xá dành cho hành giả An cư

Câu hỏi đó cũng là câu hỏi chung của tất cả những ai quan tâm đến vấn đề an cư, mà cụ thể là những người đứng ra tổ chức và chính bản thân của những hành giả an cư. Mục đích chính yếu của việc an cư không ngoài câu đáp án là làm sao cho mọi người cùng được hưởng niềm an lạc ở mức đối đa. Thời đức Phật, sau ba tháng an cư, có rất nhiều hành giả chứng thánh quả A la hán (tức quả vị giải thoát sanh tử luân hồi khổ đau), hay chí ít cũng đạt được các quả vị khác làm nền tảng cho tiến trình giải thoát. Sở dĩ họ có được thành quả ấy là do sự nỗ lực hành trì tu tập miên mật của bản thân và sự trợ giúp đắc lực của các vị đạo sư, trong đó đức Phật – một nhà tâm linh siêu xuất - đóng vai trò rất quan trọng. Sự phối hợp nhịp nhàng diễn ra trong một môi trường hòa hợp cộng trú của một đoàn thể tăng già như thế ắt hẳn không thể nào không có kết quả tốt đẹp. Đó là một trong vô số điều mà chúng ta có thể nhìn lại và áp dụng để mỗi hành giả hôm nay cũng có thể đạt được sự an lạc dù là tối thiểu.


Tháp vọng Hòa thượng Khai sơn

Hạnh phúc trước tiên của việc cùng tu tập là được học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau. Không ai trên cuộc đời này cho rằng mình là hoàn hảo không cần học thêm gì nữa từ người khác trừ phi người ấy “không bình thường.” Đã không thuộc hạng người đó thì tất nhiên hành giả ai cũng cần sự trau dồi học hỏi hàng ngày. Trong chúng có bao nhiêu người là hành giả có cơ hội được soi sáng bởi bao nhiêu tính cách khác nhau. Soi sáng bằng cách chọn lựa và áp dụng linh động những tính cách khác để tạo thành cái riêng của bản thân. Từ ‘soi sáng’ được dùng để nói rằng tất cả những hành động đúng hay sai từ người khác đều có thể phản chiếu vào trong tâm thức hành giả và giúp cho hành giả thấy được giá trị của từng cái để học tập cách làm theo hay từ bỏ. Như thế thì bất cứ hành động nào đối với hành giả tu tập vững đều có thể biến thành bài học mà không có một cản lực nào trong tâm phân biệt đúng sai làm bực tức hay phiền muộn. Đó là một cách học tập có chọn lọc mà mọi hành giả đều có thể thực hiện được. Ngoài ra, kinh nghiệm thì ai cũng có vì đó là sự trải nghiệm trên cuộc đời của mỗi người. Mỗi hành giả sẽ có những kinh nghiệm khác nhau và mức độ cạn sâu khác nhau. Cho nên ai cũng có thể chia sẻ kinh nghiệm tu tập với nhau và ở điểm này, những bậc trưởng thượng là những người có nhiều kinh nghiệm và cũng là đối tượng cho hành giả hướng về học học hỏi nhiều nhất.

Hạnh phúc kế tiếp là được quan tâm nhắc nhở. Điều này mới nghe qua có vẻ lạ tai vì ít ai cho rằng được nhắc nhở là hạnh phúc, mà ngược lại còn là phiền phức và bực bội. Nỗ lực tu tập tự thân trong môi trường an cư là điều bắt buộc và cũng là hạnh phúc. Nó trở thành bắt buộc khi tâm hành giả không hài lòng với những sinh hoạt đó và có khuynh hướng lản tránh tìm đến hoạt động khác nhưng nó lại là hạnh phúc với những ai cảm thấy thích thú khi được hành trì như vậy. Phần lớn khi tập trung an cư hành giả đều mong muốn đạt được hạnh phúc thật sự từ nội tâm cho nên sự hành trì bằng cách phát nguyện “cúng dường thân tâm” tức tuân theo chương trình tu tập và tâm luôn hoan hỷ không kháng cự là rất hiệu quả. Bởi vì phát tâm như thế nên sự nhắc nhở nếu có là động lực thúc đẩy sách tấn hành giả thêm nỗ lực trong khi tu tập. Vả lại, khuynh hướng dễ duôi theo thói quen luôn là thách thức đối với sự tinh tấn. Nếu không được sự hỗ trợ của tăng chúng thì hành giả khó có thể tự giác hoàn toàn. Mà sự hỗ trợ này chỉ có thể xảy ra trong môi trường tập thể nên với hành giả cầu an lạc thì đó ắt hẳn là niềm hạnh phúc.

Hạnh phúc chia sẻ năng lượng tu tập khi an cư. Sống trong cộng đồng tất nhiên là có sự ảnh hưởng lẫn nhau dù muốn hay không. Trong một xóm bán thuốc bắc, hay xóm chợ cá, dù muốn hay không người ở trong ấy chắc chắn ảnh hưởng bởi mùi thơm hay hôi ấy. Cảm nhận bằng giác quan có thể dễ dàng hơn nhưng cảm nhận bằng tâm không phải là không thể có. Sống trong môi trường trong lành thanh tịnh, con người cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái là điều kiểm chứng được. Vậy thì, trong môi trường tu tập, năng lượng chuyển hóa tâm thức tỏa ra từ những vị chân tu hẳn nhiên sẽ tác động đến xung quanh và hành giả đều có thể cảm nhận được. Nó giống như trong một vườn hoa nếu có một đóa hoa thơm nở thì tất nhiên các loài hoa trong đó thơm lây. Hương của giải thoát tỏa ra từ năng lượng tu tập còn nhiệm mầu hơn nhiều và có khả năng ảnh hưởng chuyển hóa hơn nhiều. Điều này trong các kinh điển đức Phật đã đề cập. Đó là hạnh phúc nữa khi cùng cùng tu tập.

Tùy theo cách nhìn, mỗi hành giả sẽ có cảm nhận khác nhau về hạnh phúc khi cùng tu tập hoặc cao hoặc thấp. Nhưng có thể nói rằng niềm hạnh phúc ấy là có thật và hành giả tu tập chân chính đều có thể cảm nhận được. Người viết không có cơ hội sống chung hết khóa hạ nhưng những ngày lưu lại nơi trường hạ trước đây đã cảm nhận phần nào hạnh phúc ấy. Cầu mong rằng năm nay tất cả hành giả an cư tại Tổ đình sẽ có nhiều an lạc hơn nhờ sự hành trì miên mật và nhờ sư trợ duyên của chư tôn trưởng thượng. Hy vọng những hình thức rờm rà được giảm bớt để không làm mất nhiều thời gian cho việc hành trì tu tập và không làm nô lệ các giác quan thỏa mãn.

Bangkok, 07/09

Có Những Lớp Học Như Thế

Trong cuộc đời, có lẽ bạn đã từng tham gia nhiều lớp học và ít nhiều bạn có những kỉ niệm về chúng. Tôi cũng như các bạn và một trong những nơi để lại trong tôi nhiều ấn tuợng là lớp học đơn sơ, giản dị của Ni Sư Trí Hải đảm trách. Bởi lẽ, không gian của lớp học thật khiêm tốn, chỉ là mái hiên của tịnh thất với những bộ bàn ghế cơ động và lớp học được diễn ra trong một thời gian cũng khá đặc biệt - vào buổi sáng tinh mơ. Thời gian ấy đối với các tự viện thì bình thường, nhưng đây là lớp học dành cho Tăng ni và Phật tử khắp nơi trong thành phố.

Tuy nhiên, chừng ấy cũng chưa đủ mà yếu tố quan trọng quyết định là sự dạy và học của thầy và trò. Có thể nói không khí học tập thật thoải mái, linh hoạt, đượm tình đạo và nhiều hơn nữa…

Bạn có thể thắc mắc tại sao lớp học diễn ra trong một thời gian và không gian như thế mà lại đông đảo. Câu hỏi ấy nếu có tôi xin để dành cho các bạn suy nghĩ. Điều tôi thường suy nghĩ và muốn chia sẻ cùng các bạn là sự lãng phí nhân tài của Phật giáo quê nhà.

Chào các bạn.

Saturday, January 9, 2010

Tôn Giáo Hữu Thần và Tôn Giáo Vô Thần

Khi nói đến tôn giáo người ta thường định nghĩa và hiểu đó là hữu thần giáo. Còn về vô thần giáo (hay thuyết vô thần) thì dường như ít hay thậm chí không được thừa nhận là tôn giáo. Tôn giáo hữu thần gồm có nhứt thần giáo và đa thần giáo. Những ai theo tôn giáo hữu thần thì thường thừa nhận là người có tôn giáo. Ngược lại, những người theo vô thần thì không thừa nhận mình thuộc tôn giáo, và thường được biết qua danh từ người không tôn giáo. Trong một số xã hội, dường như từ tôn giáo gợi lên một ý niệm xa lạ và tách biệt nào đó với phần còn lại của xã hội – phần được cho là văn minh tiến bộ, khoa học và thực tiễn. Do vậy, không tôn giáo trở thành mốt thời thượng, nhất là mốt ấy được xã hội nhiệt liệt ủng hộ và tiến dụng. Cũng vì theo mốt ấy, có nhiều người vẫn có tôn giáo, vẫn sinh hoạt tôn giáo nhưng bề ngoài vẫn phải nói rằng không tôn giáo. Đó là điều có thật xảy ra trong một số xã hội trong thế kỷ 21 này.

Tôn giáo là gì? Và con người có tôn giáo hay không? Nếu hỏi tôn giáo là gì thì khó có câu trả lời nào thỏa mãn. Tôn giáo có thể hiểu theo nghĩa linh thiêng huyền bí, nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa những giá trị của nhân loại. Nếu tôn giáo hiểu như là một phần sinh hoạt của đời sống tinh thần hay cao hơn là đời sống tâm linh không thể thiếu của con người thì không ai là không có tôn giáo. Tôn giáo như thế là cách ứng xử của con người trong đời sống tinh thần, hay đời sống văn hóa tâm linh. Một từ tương đương và dễ hiểu hơn là ‘đạo’ tức bổn phận, cách sống.

Tôn giáo, hiểu một cách tổng quát, là hệ thống những giáo điều (theo một số tôn giáo) hoặc giáo pháp do các bậc tiền bối hay những đấng giáo chủ truyền dạy lại. Những lời dạy ấy là những chân lý do các vị ấy khổ công tu luyện chứng ngộ được, là những lời hướng dẫn cách sống đạo đức mà những vị ấy trải nghiệm trong cuộc đời, là những mẫu chuyện ngụ ngôn mang tính giáo dục v.v…. Tuy nhiên, chúng cũng có thể là sản phẩm của những tưởng tượng, của những người có quyền bính, của những triết gia duy tâm duy vật nào đó. Nói chung, có rất nhiều hệ tư tưởng mà từ đó hình thành nên tôn giáo dù người ta có chính thức công nhận hay từ chối.

Trong những vị giáo chủ của các tôn giáo, có vị thực chứng và thừa nhận là ‘thầy của trời người’ như Đức Phật Gotama, nhưng cũng có những vị vì không đủ tự tin đã không thừa nhận tư cách của mình, hay do các môn đệ ‘hạ bệ’ không thừa nhận tư cách ấy. Thay vào đó, một đấng tối cao nào đó được tôn xưng như là một ‘kẻ cướp công’. Đấng tối cao này con người không được quyền biết và cũng không thể nào biết ngoại trừ những người sáng tạo ra vị ấy. Con người đã không được quyền biết thì làm gì có quyền để đạt được địa vị như vị ấy. Điều này có vẻ giống như thời phong kiến phương bắc, thần dân không được quyền nhìn mặt vị ‘thiên đế’ huống gì trở thành ‘thiên đế’. Đây thật là một cách an toàn để bảo vệ những lời dạy trong một số tôn giáo khi cho rằng chúng được sáng tạo, truyền xuống và chỉ việc tuân theo, chỉ việc lựa chọn hoặc thiên đường hay địa ngục.

Dẫu sao, những gì là tinh hoa đưa đến đời sống hướng thượng luôn được loài người tiếp nhận và phát huy. Tôn giáo hữu thần bên cạnh sự hạn chế về đức tin mù quáng và mặc khải vẫn đóng góp nhiều về chức năng xây dựng cộng đồng hòa hợp, đoàn kết, nhất là những tổ chức tôn giáo dựa trên yếu tố xã hội nhân sinh đáp ứng nhu cầu cần thiết của con người. Cách tổ chức tốt và hiểu được tâm lý con người đã giúp nhiều tổ chức tôn giáo thành công trong việc phục vụ lợi ích nhân sinh. Những mục đích như thế đáng trân trọng và khuyến khích. Đáng tiếc là những mục đích như thế thường bị những yếu tố khác lấn át và làm xấu đi bản chất của tôn giáo.

Những ai nương theo học tập và được hướng dẫn bởi những giáo thuyết có chính danh tôn giáo thì được gọi là người có tôn giáo. Những người còn lại thì sao? Những người cho rằng ‘không tôn giáo’ có thể chỉ là trên hình thức chứ thật ra họ cũng đang thực hành đời sống tâm linh của họ đấy chứ. Họ không theo giáo thuyết tôn giáo có sẵn nhưng họ cũng đang theo ý thức hệ nào đó, và đôi khi còn trung thành sống chết vì nó nữa là khác. Tất nhiên, khi đi theo hệ tư tưởng đó, họ đâu tránh khỏi sùng bái vị tạo ra nó dù thật hay chỉ là hình thức. Hơn nữa, cho dù họ không biểu lộ qua hình thức tôn giáo phổ biến nhưng chúng ta vẫn thấy được sự kính cẩn của họ không thua gì những người có tôn giáo hữu thần. Đó là chưa kể những mối quan hệ tổ tiên, ông bà, những truyền thống văn hóa tâm linh mà con người trong một xã hội nhất định phải tuân theo để một mặt ổn định xã hội, và một khác nâng cao đời sống tinh thần. Vậy thì, việc thừa nhận có tôn giáo hay không chỉ là cách hình thức, còn bản chất vẫn là như nhau.

Thật ra, trên hình thức việc thừa nhận hay không thừa nhận có tôn giáo không làm ảnh hưởng gì đến đời sống tâm linh của con người. Nhưng có một nghịch lý rằng, tôn giáo vô thần - cái mốt thời thượng được kèm theo lợi dưỡng đã ảnh hưởng không nhỏ đến cái quyết định thừa nhận quyền thiêng liêng của con người. Sức mạnh của tôn giáo vô thần không phải là thượng đế ở nơi xa xôi mà chính là những gì con người có thể nhìn thấy được trên trái đất này. Những thứ ấy có sức mạnh đến nỗi ảnh hưởng cả những người dù có tôn giáo hữu thần cũng phải dối mình để thốt lên là vô thân. Sức mạnh của thượng đế vô thần thật là nể phục.