Sunday, January 31, 2010

Năng Lượng Trợ Duyên

Trong sự nghiệp của một người, sự thành tựu hay thất bại ngoài yếu tố chính là sự nỗ lực của bản thân người đó, còn có vô số những yếu tố phụ khác góp phần cho ra kết quả. Những yếu tố phụ tùy mỗi người, mỗi trường hợp có khác nhau. Gia đình bạn bè, người thân, tiền bạc v.v. là những yếu tố phụ mà ai cũng trải qua trong cuộc sống. Chính những yếu tố ấy tác động và góp phần làm thăng hoa hay tha hóa cuộc sống con người.

Câu nói gần mực thì đen gần đèn thì sáng của người xưa phản ánh đúng với phần lớn những người phàm tình chúng ta. Những yếu tố vừa nêu nếu là “thiện” thì sẽ tác động tích cực hướng chúng ta đến con đường thiện dù đó là con đường nào, phương diện nào, phạm vi nào, vị trí hay địa vị nào. Còn ngược lại thì kết quả sẽ hướng theo chiều xấu ác, sa đọa, tiêu cực, chán đời yếm thế.

Vậy thì, ngoài yếu tố chính là nỗ lực của bản thân của mỗi người, những yếu tố phụ ảnh hưởng như thế nào? Có lẽ cụ thể và thiết thực nhất là lấy đời sống xuất gia làm ví dụ bởi đó là những kinh nghiệm mà chúng tôi đã ít nhiều trải nghiệm qua. Trong Phật giáo có câu nói rất hay “hổ ly sơn hổ bại, tăng ly chúng tăng tàn”. Hổ dù là một loài chúa tể sơn lâm nhưng khi rời khỏi địa bàn của chúng là nơi núi rừng thì dù có sức mạnh, có vũ khí lợi hại chúng vẫn bị thảm bại trước những đối thủ yếu hơn. Ý nghĩa này gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ để không rơi vào trường hợp tự cao, tự mãn, ỷ lại, chủ quan… Đối với loài hổ thì vậy còn đối với người xuất gia thì như thế nào?

Ca dao Việt Nam có câu: ‘một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại thành hòn núi cao’. Ba cây tượng trưng cho số nhiều thì có thể làm nên ngọn núi, làm nên một sự vững chắc mà không dễ phá hoại được. Vậy thì chữ Tăng với ý nghĩa là sự hòa hợp thanh tịnh của một đoàn thể tỳ kheo Tăng hay Ni gồm ít nhất bốn người thì sức mạnh có lẽ chúng ta có thể suy ra được vậy.

Ba cây mà mất một thì sẽ không vững, chư Tăng, Ni mà sống rời rạc không giữ được sự đoàn kết hòa hợp thì đó là biểu hiện sự suy tàn, thất bại. Nhưng như thế nào là ly chúng? Phải chăng mỗi chùa ít nhất phải bốn thầy sống chung với nhau? Tất nhiên là không thể đáp ứng yêu cầu đó nhất là ở những nơi xa xôi không đủ ‘túc số’. Vậy thì từ trên phải được hiểu như thế nào cho đúng ý nghĩa. Như đã đề cập, Tăng là sự hòa hợp thanh tịnh. Cho nên, ly sự hòa hợp, đoàn kết và thanh tịnh là ly chúng vậy.

Một vị có thể sống trong cộng đồng tăng chúng gồm nhiều người nhưng nếu sống không phù hợp với tinh thần “Tăng” thì vị ấy cũng đang ly chúng. Tuy nhiên, vị ấy sẽ có may mắn là được tác động bởi những yếu tố phụ “thiện” nên ít nhiều có thể giúp vị ấy quay về con đường mà vị ấy chọn một cách đúng đắn. Ngược lại, nếu một vị sống một mình trong một ngôi chùa dù không kề cận chúng nhưng nếu vị ấy sống phù hợp với ý nghĩa chữ Tăng thì vẫn là người bất ly chúng. Tuy nhiên, nếu không may vị ấy có tư tưởng sai lệch thì dễ đi lạc đường hơn vì các yếu tố phụ giờ đây thường hướng theo chiều “ác” và tất nhiên đưa vị ấy càng lúc càng xa lý tưởng.

Trở lại sự tác động của yếu tố phụ, với người xuất gia thì Thầy Tổ, Đàn Na là yếu tố phụ tác động dễ thấy nhất. Thầy Tổ tức những bậc đạo sư dẫn đường có vai trò quyết định rất lớn sự thành tựu của học trò và hướng họ đến con đường đúng đắn. Sự ‘giãi đãi’ nếu có của đệ tử nếu được kịp thời can thiệp động viên và giáo dục của Thầy Tổ có thể đem đến kết quả tốt. Đàn Việt những người trực tiếp hay gián tiếp trợ duyên Tam Bảo cũng đóng góp không nhỏ cho sự thành tựu của chư Tăng. Khi thọ nhận từ Đàn Việt người nhận thấy được trách nhiệm nặng nề của mình phải làm gì trước thái độ cung kính và tin tưởng của họ. Nếu khước từ thì không hợp lẽ đạo, còn thọ nhận mà không hoàn thành bổn phận thì là một sự mắc nợ khó đền. Điều đó đặt ra cho người xuất gia sự lựa chọn tiếp tục hay từ bỏ con đường của mình và khi đã chọn thì tất nhiên phải nỗ lực đi cho đúng.

Sự trợ duyên của Đàn Việt, với một số cá nhân thì coi đó là sự hãnh diện, là điều tất yếu được hưởng. Từ suy nghĩ đó, có người tỏ ra thờ ơ với trách nhiệm của mình nên sự thiệt hại dễ dàng xảy đến. Tuy nhiên, nếu vị nào ý thức rằng được sự tin tưởng và cúng dường của Đàn Việt là kết quả của sự tu tập tốt và từ đó nỗ lực phát huy thêm nhân lành thì vị ấy sẽ tiến bộ và sự trợ duyên của Đàn Việt có ý nghĩa quan trọng. Sự trợ duyên ấy một mặt là tạo điều kiện cho người xuất gia đủ duyên lành để tiếp tục mục đích hướng đạo, một mặt là nguồn động viên, là sự nhắc nhở cho vị ấy nhìn lại chính mình với những gì đã và đang xảy ra. Từ đó, vị ấy sẽ điều chỉnh thái độ, thói quen…để phù hợp với vai trò vốn phải có của mình.

Ở điểm này, người viết xin phép được nói lời tri ân đến các bậc tôn sư, những ân nhân Phật tử, những người đã tạo ra những yếu tố phụ tích cực giúp cho bản thân đi vững vàng hơn. Thái độ và sự tin yêu của quý Phật tử là món quà vô giá mà các vị đã ban tặng. Nó sẽ là hành trang để người xuất gia chúng tôi có thêm sức mạnh đi hết con đường của mình. Tất nhiên, đó cũng là quy luật nhân quả và trùng trùng duyên khởi. Do đó, không nên hiểu tu là để cầu điều đó nhưng không cầu chúng vẫn đến như trường hợp chư tôn túc trưởng thượng vì đó là nhân quả và cũng là sự mầu nhiệm của sự tu tập vậy.

Lễ Hội Ăn Chay ở Thái Lan

Hàng năm, cứ mỗi độ tháng 9 Âm lịch về, du khách đến Thái Lan đều có thể thấy cảnh các biểu ngữ lớn và vô số cờ trang trí màu vàng rực dễ gây sự chú ý được treo dọc đường nơi có các hàng quán bán thức ăn hay ngay trước các nhà hàng. Cảnh tượng này có nghĩa là Lễ Hội Ăn Chay hàng năm một lần nữa đến với mọi người trên đất Thái. Lễ hội này có nguồn gốc khi nào, hình thức tổ chức ra sao và nó mang ý nghĩa gì mà nhiều người hưởng ứng tham gia như thế? Nhận thấy đây là một lễ hội mang đậm nét văn hoá nên người viết mạo muội tìm kiếm và tổng hợp những thông tin về lễ hội này để giới thiệu đến cùng độc giả.

Lễ Hội Ăn Chay hay “Cửu Hoàng Thắng Hội” là một lễ hội của người Thái độc nhất có nguồn gốc từ một hải đảo phía nam của tỉnh Phuket khoảng 180 năm trước và dần dần lan rộng ra hầu hết tất cả các tỉnh thành trên đất Thái. Điều khá ngạc nhiên hơn là lễ hội này thật sự có nguồn gốc từ người Hoa chứ không phải từ người Thái. Lễ hội bắt nguồn từ những người Hoa nhập cư tập trung đến Phuket vào đầu thế kỉ 19 để làm việc ở các mỏ thiết, nguồn cung cấp kinh tế cho đảo. Theo các nhà sử học địa phương, và khoảng năm 1825, một bịnh dịch huyền bí đã tấn công những người thợ mỏ gốc Hoa và do đó những vị lãnh đạo đã phải họp để tìm nguyên nhân gây bịnh. Họ nhận thấy rằng các lễ nghi truyền thống của họ bị sao lãng. Do đó, họ ra lệnh cộng đồng thợ mỏ phải thực hành một kì hạn ăn chay như là một hình thức sám hối. Sau 9 ngày, bịnh tự nhiên hết một cách huyền bí như khi nó xuất hiện.

Lúc bấy giờ, không ai muốn sống đói khổ trong những ngày liền như vậy nữa nên các vị trưởng lão trong làng quyết định chọn một sự thoả hiệp. Họ phát nguyện mỗi năm vào ngày kỉ niệm này, người Hoa trên đảo sẽ thực hành một kì hạn thanh tịnh bằng cách ăn chay. Họ dâng các lễ vật cúng các vị thần và tuân giữ các điều luật một cách nghiêm ngặt bao gồm ăn thức ăn chay tịnh, không dâm dục, không uống rượu.

Cách tự khắc khổ này giống Ấn giáo nên một cách tự nhiên nó cuốn hút du khách Thái đến đảo và chính họ mang ý tưởng Lễ Hội Ăn Chay này về các tỉnh thành nơi họ sinh sống.

Theo một thuyết khác nói rằng Lễ Hội Ăn Chay là lễ kỉ niệm của những người theo Đạo giáo ở những thế kỉ trước có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc. Huyền thoại kể rằng lễ hội bắt nguồn từ thời kì dân làng bị nạn lụt lội, hoả hoạn, đói khát và Bồ Tát Quan Âm đã ứng hiện cứu dân chúng thoát khỏi nạn đó. Để tạ ơn Ngài, người dân đã thỉnh 9 vị Thần Hoàng tham gia cùng với họ để tổ chức lễ hội thanh tịnh, nhờ đó mà tội của họ và của tổ tiên họ sẽ được tiêu trừ. Như là một phần của sự thanh tịnh, các vị tham gia lễ hội phải nghiêm túc thực hành việc ăn chay. Trong 10 ngày, việc ăn thịt, trứng hay các thứ hành hẹ đều bị cấm.

Ngày nay, Lễ Hội Ăn Chay được tổ chức ở hầu hết mọi tỉnh thành trên cả nước Thái Lan. Lá cờ trang trí màu vàng rực mà ta nhìn thấy có chữ [1] màu đỏ thật lớn ở giữa. Chữ này có nghĩa là chay tịnh. Những người bán thức ăn dọc những con đường có treo cờ đều chỉ bán thức ăn chay và các nhà hàng cũng phải điều chỉnh cách thức để chế biến các món ăn không có thịt.

Ở Phuket, lễ hội được tổ chức khắp các miếu, đền, hội quán, chùa người Hoa và ngay cả các nhà hàng lớn. Những người tham gia tin rằng Lễ Hội Ăn Chay và những lễ nghi thiêng liêng sẽ đem lại cho họ nhiều may mắn. Trong thời gian 10 ngày, họ thực hành ăn chay với mục đích thanh lọc thân tâm và tạo phước. Đồng thời họ phải tuân theo 10 điều luật sau đây:

1. Giữ thân thanh tịnh trong suốt lễ hội

2. Rửa sạch các dụng cụ nhà bếp và dùng riêng biệt với các thứ khác

3. Mặc đồ trắng trong suốt lễ hội

4. Giữ thân tâm đúng phép

5. Không ăn thịt

6. Không dâm dục

7. Không uống rượu

8. Người có tang không được tham dự lễ hội

9. Phụ nữ có thai không đuợc xem các lễ nghi

10. Phụ nữ trong thời hành kinh không được tham gia các lễ nghi

Bangkok, Lễ Hội Ăn Chay được nhìn thấy rõ nhất là ở Yaowarat hay Chinatown - khu phố đặc trưng của người Hoa. Lễ hội bắt đầu vào ngày mồng 1 tháng 9 âm lịch với những lễ nghi giống như lễ nghi ở Phuket. Trong suốt 10 ngày, ngoài việc ăn chay, họ còn sắm sửa rất nhiều lễ vật để dâng cúng các vị thần và tụng kinh cầu an cho gia đình cũng như cầu siêu cho tổ tiên. Một số nơi còn cung thỉnh chư tăng đến để tụng kinh trong suốt 10 ngày. Ngoài ra, họ còn tổ chức diễu hành ruớc hương đăng dọc theo các con đường vào một đêm đã định trước. Dịp này, họ cũng tạo phước bằng việc bố thí phát quà cho dân chúng nghèo hay phóng sanh chim cá.

Ở một số nơi, nhất là ở Phuket bên cạnh việc thực hành các lễ nghi và ăn chay tịnh như truyền thống, họ còn tổ chức các hình thức vui chơi giải trí như hát nhạc kịch, múa lân, múa rồng. Đặc biệt, hình thức lễ hội có tên gọi là “Ma Song” với những trò biểu diễn thật rùng mình. Họ dùng vật nhọn đâm qua mặt, mũi v.v. mà không bị thương tích gì cả. Các hình thức này chì mang tính dân gian giải trí.

Lễ Hội Ăn Chay không chỉ giới hạn ở khu người Hoa mà nhiều người Thái và ngay cả người ngoại quốc cũng vui thích thay đổi để ăn chay. Thật sự thì các du khách được thông tin trước về lễ hội để họ có thể lên chương trình tham quan Thái Lan trùng với dịp này.

Trước ngày lễ hội, người ta đã chuẩn bị đồ chay thay cho thịt. Thông thường họ chuẩn bị các sản phẩm làm từ đậu hủ giàu chất protein. Trong suốt 10 ngày lễ hội, ước tính việc bán thịt giảm 70% so với ngày thường.

Các món ăn trong suốt lễ hội không thiếu món gì và rất thú vị. Tất cả các món ăn Thái đuợc ưa chuộng đều có sẵn nhưng chỉ thay đổi khác một chút. Thay vì súp tôm cay thì có súp chay cay, thay vì cà ri gà thì có cà ri đậu hủ…

Lễ Hội Ăn Chay là một trong những dịp cho du khách tham quan Thái Lan tốt nhất mặc dù nó rơi vào mùa mưa. Vào dịp này các tiệm ăn và nhà hàng thi nhau trổ tài nấu các món ăn Á châu quen thuộc và hấp dẫn vốn có của nó. Nhìn chung lễ hội vừa mang tính lễ hội vui chơi sinh hoạt vừa mang tính văn hoá giáo dục nhất là trong xã hội Á châu.

Hạnh Chơn (tổng hợp)



[1] Chữ này có âm Hán Việt là trai có nghĩa là chay tịnh, tiếng Thái là jeh, đọc là chê

Chuyện Xuất Gia ở Thái Lan

Xuất gia là một hạnh nguyện cao quý được đức Phật dạy cho hàng đệ tử khi họ muốn bước vào con đường của các bậc thánh, con đường giải thoát. Xuất gia mang ý nghĩa trọng đại quyết định giá trị giải thoát khổ đau của một con người trong hiện tại và tương lai. Do đó, khi đến với con đường này đòi hỏi vị ấy phải phát tâm bồ đề dõng mãnh và một chí nguyện mạnh mẽ để vượt qua những chướng ngại, chứng quả bồ đề. Tuy nhiên, khi Phật giáo bị ảnh hưởng bởi những tín ngưỡng dân gian thì bên cạnh ý nghĩa xuất gia như đã đề cập còn có những mục đích khác. Trong bài này, người viết xin giới thiệu về những trường hợp xuất gia ở Thái Lan – một đất nước Phật giáo, một đất nước của những chiếc y vàng.

Đến với đất nước nước Thái Lan, hình ảnh quen thuộc mà bất cứ ai cũng có thể thấy vào mỗi buổi sáng là từng đoàn các sư đang đi khất thực trong bộ y vàng truyền thống của Phật giáo Nam tông. Họ là những vị lìa bỏ gia đình, sống đời sống phạm hạnh tại các chùa hay các tu viện lớn. Hằng ngày, vào buổi sáng họ phải đi khất thực để nhận thức ăn do hàng Phật tử tại gia cúng dường và đồng thời chú nguyện cầu phước cho các thí chủ. Thức ăn ấy được các sư thọ vào thời gian không quá ngọ và qua giờ ấy toàn bộ đều được bỏ vì các sư không được thọ thực buổi chiều. Đó là truyền thống giới luật của Nam tông. Với đời sống kham khổ như vậy, vì sao có nhiều vị xuất gia!?

Trước hết, nói về trường hợp các sư là những người xuất gia theo ý nghĩa đức Phật dạy – vì mục đích giải thoát khổ đau. Họ đến với con đường xuất gia bằng sự phát tâm bồ đề mong cầu sự an lạc giải thoát khi sống đời sống ấy. Do đó, họ chuẩn bị hành trang tư lương cho mình bằng việc học kinh điển và các phương pháp hành trì. Họ chú trọng đến những môn học và pháp môn có tính chất quan trọng và có lợi lạc trên con đường tịnh hoá thân tâm. Tất nhiên, họ cũng tham gia nhiều sinh hoạt xã hội nhưng có lẽ đó là yếu tố phụ, bổ sung thêm kinh nghiệm. Việc quan trọng là họ dành hầu hết thời gian cho việc thực tập thiền và các nghi thức cần thiết. Do đó, họ đạt được nhiều an lạc.

Bên cạnh xuất gia với mục đích cao cả như trên thì vẫn có những hình thức xuất gia theo truyền thống. Ở Thái Lan, xuất gia là một nhiệm vụ thiêng liêng mà hầu như tất cả những thanh thiếu niên Thái đều thực hành một lần trong đời. Họ có thể chọn cho mình một dịp nào thuận lợi nhất rồi đến thưa với các sư trưởng để xuống tóc cho mình. Thông thường, vào mùa an cư có rất nhiều thanh thiếu niên đến xin xuất gia trong ba tháng. Thời gian ấy, họ ở chùa học tập kinh điển, giáo lý, đạo đức Phật giáo và tập hành trì theo nội quy thiền môn. Đó là cơ hội tốt để họ rèn luyện thân tâm, chuẩn bị cho cuộc sống thế tục sau này. Vì thế, sau khi mãn khoá tu xuất gia, họ trở về nhà trong sự đón mừng và kính trọng hơn. Vị thế của họ được nâng lên và là tâm điểm để các cô để mắt?

Tuy nhiên, không phải ai cũng tu hết ba tháng mà có rất nhiều người tu một tháng hay một tuần. Do đó, họ chọn một thời gian thích hợp nào đó để đến chùa tu tập. Hình thức cũng giống như trên nhưng thời gian hành trì ít hơn thôi. Thành phần này đa số là con nhà khá giả. Khi xuất gia và hoàn tục, họ đều làm lễ linh đình như là lễ hội ăn mừng. Có lẽ đó cũng là dịp họ làm phước, gieo duyên với Tam bảo.

Trường hợp xuất gia có thời hạn, bên cạnh mục đích học tập đạo đức còn có mục đích khác nữa là báo hiếu. Theo truyền thống người Thái, người con trai đi xuất gia quấn được chiếc y vàng để cho cha mẹ nhìn thấy là họ đã báo hiếu một phần rồi. Vì người Thái tin rằng y vàng là ruộng phước nên khi có người con đi tu là họ tạo được phước báo để hồi hướng cho cha mẹ hiện tại và sau khi qua đời. Do đó, cha mẹ cảm thấy vui và mãn nguyện khi thấy con mình xuất gia dù chỉ trong thời gian ngắn. Lâu ngày, hình thức này trở thành phong tục và phổ biến.

Một hình thức xuất gia báo hiếu nữa cũng rất “phong tục” là khi có người thân trong gia đình mất, con trai hay cháu trai có thể xuất gia để báo hiếu. Vì theo người Thái, khi xuất gia là tạo phước báo và công đức nên người này dùng hình thức xuất gia như kết quả đạt được để dâng cho người thân đã mất. Lại nữa, ngay khi quan tài vẫn còn đặt tại chùa (ở Thái Lan, đám tang hầu như được tổ chức ở các chùa) thì người con hay cháu đó xuống tóc, đắp y vàng ngồi một chỗ phía trước quan tài. (Cũng cần nói thêm là theo phong tục Nam tông, khi xuất gia là được quấn y vàng giống như các vị lớn vậy. Điều này khác với giới luật Bắc tông, vị xuất gia phải trải qua thời gian tu tập, đến khi thọ Sa di hay Tỳ kheo mới được đắp y vàng). Vị xuất gia ấy với y vàng ngồi trên một chiếc ghế phía trước để cho vong linh cha mẹ hay ông bà nhìn thấy. Nhờ đó, họ sanh tâm hoan hỉ mà siêu sanh cõi an lành. Vị xuất gia chỉ cần ngồi một chỗ hay làm công việc của nhà sư và gia đình xem vị ấy như bao vị xuất gia khác chứ không phải là con cháu thông thường. Khi quan tài được thiêu xong, người con hay cháu đó hoàn tục trở lại sinh hoạt như một người con cháu bình thường. Đó là niềm tin của người Thái.

Ngày nay, xã hội Thái ngày càng bị Tây phương hoá nên phong tục phần nào cũng mai một. Mục đích xuất gia cũng có phần thay đổi. Xuất gia với mục đích chân chính cũng có mà xem xuất gia như cơ hội tiến thân cũng không hiếm. Quá trình đô thị hoá khiến cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn. Do đó, ở nông thôn, một số mong được xuất gia để được có cơ hội lên các thành phố học, nâng cao kiến thức. Đó là một điều hiển nhiên ở bất cứ lĩnh vực nào. Nếu họ tiếp tục con đường xuất gia làm vị sư thì rất được kính trọng ở xứ Thái. Tuy nhiên, nếu họ không tiếp tục nữa thì có thể hoàn tục và việc hoàn tục ở Thái là một chuyện bình thường, thậm chí những người hoàn tục còn được xem trọng hơn những người khác không xuất gia. Do đó, sau khi học xong có nhiều vị không ở chùa nữa. Đó là sự khác biệt của Phật giáo Thái so với các nước Phật giáo khác.

Nhìn nhận và đánh giá truyền thống này tốt hay xấu là không thể chính xác được vì đó là truyền thống văn hoá tâm linh có giá trị riêng của nó. Về mặt khách quan mà nói, việc các sư có trình độ, sau khi hoàn tất các chương trình đào tạo, lại hoàn tục là một mất mát cho việc bổ nhiệm nhân sự điều hành công tác giáo hội và hoằng pháp. Cho dù, những vị cư sĩ ấy cũng rất tích cực nhưng không thể đóng góp nhiều cho giáo hội như họ là một vị sư. Tuy nhiên, việc Phật giáo đào tạo ra những con người có trình độ và đạo đức để phục vụ ngoài xã hội cũng là một điều rất quý chứ không phải vô ích như nhiều người nghĩ. Với những gì học được từ môi trường đạo đức Phật giáo, tất nhiên họ sẽ phục vụ xã hội với thái độ tốt hơn, hiền hoà và lịch sự hơn. Do đó, theo luật bão hoà, không có gì mất và chỉ là sự chuyển đổi vai trò xã hội. Đào tạo được những con người có trình độ và đạo đức không bao giờ thừa cả và điều quan trọng nhất là làm sao đào tạo được những con người như thế.

Thursday, January 21, 2010

Chùa Quảng Phước , Thái Lan

Chùa Quảng Phước (Wat Anamnikayaram) ở địa chỉ 27 đường Praccharat, Bangsue, Bangkok, 10800, Thái Lan. Tiểu sử chùa được ghi trên tấm bảng trước cổng chùa như sau:

Wat Anamnikayaram thuộc cộng đồng Phật tử Việt Nam. Chùa có tên khác là Wat Yuan Bang Pho. Lịch sử chùa liên quan đến sự kiện năm 1778 khi Ong Chiang Chun và đoàn người Việt rời Hà Tiên Việt Nam đến Bangkok. Vua Taksin cho phép họ sống ở khu vực Phahurat ngày nay. Sau đó, Ong Chiang Chun bị bắt vì làm gián điệp và bị xử tử. Những người Việt khác bị trục xuất khỏi Thái Lan. Vào triều đại vua Rama I, những người này được phép trở lại định cư nơi họ sống trước đây, và chùa Anamnikayaram tọa lạc tại Bang Pho. Thời gian sau, nhiều người Việt di cư đến Thái Lan, đặc biệt vào thời vua Rama IV.


Bảng ghi tiểu sử chùa bằng tiếng Anh va Thái

Cổng chùa


Mặt tiền chùa

Mặt bên

Mặt bên


Chư Tăng đang hành lễ bên trong Chánh điện


Chư Tăng và Phật tử đang hành lễ trong Chánh điện

Tượng Tổ sư Diệu Trạm

Tháp thờ Tổ sư

Chùa Long Sơn, Thái Lan

Chùa Long Sơn (Wat Tham khau noi) tọa lại tại 03 Chaokunen, Bannue Mueng, Kanchanaburi, 71000, Thái Lan.

Bảng hiệu chùa



Mặt tiền chùa