Friday, March 18, 2011

Sự tiếp nhận giá trị Phật giáo ngày nay

Ngày nay, thế giới như nhỏ lại nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Ngồi một chỗ, chúng ta có thể biết được những gì đang xảy ra trên thế giới. Sự kỳ diệu của khoa học ví như một loại thần thông đang được sử dụng để làm cho con người gần lại nhau hơn, sống đầy đủ hơn. Tuy nhiên, thật trớ trêu là mặc dù thừa hưởng thành quả ngoạn mục ấy, con người ngày càng khủng hoảng về mặt đời sống tinh thần. Thực trạng ấy khiến nhân loại đang lẩn quẩn đi tìm những giải pháp để giải quyết nó. Và rồi nhiều người đã tìm đến những trò chơi giải trí, hưởng thụ dục lạc, theo đuổi lý tưởng siêu nhiên và đặc biệt là tìm đến các tôn giáo như là giải pháp đáng tin cậy nhất. Được xem như là một tôn giáo, Phật giáo đã đóng vai tích cực trong việc hướng con người đến một đời sống tâm linh lành mạnh trên toàn cầu từ xưa đến nay. Vai trò này đang phát triển rất mạnh ở các nước tiên tiến nhưng lại có phần chậm lại ở những nơi đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta thử tìm hiểu vài nguyên nhân về vấn đề này như thế nào?

Có lẽ ai cũng thừa nhận rằng xã hội Âu - Mỹ là nơi phát triển đỉnh cao về khoa học và hưởng thụ vật chất nhưng cũng là nơi có nhiều nỗi bất an nhất về tinh thần. Nhờ khoa học phát triển, đời sống vật chất của cư dân ở đây đã đạt mức sống khá cao. Tuy nhiên, khoa học chưa thể làm họ thỏa mãn về đời sống tâm linh bởi sự giới hạn của nó. Vả lại, đa số họ theo truyền thống tôn giáo đặt trọn niềm tin vào một vị thượng đế tối cao có thể ban phước hay giáng họa cho nên họ cũng không có nhiều cơ hội để được hướng dẫn những giải pháp cho những vấn đề mà họ thắc mắc. Do đó, mặc dù đời sống vật chất dồi dào, tri thức được nâng cao nhưng họ lại thấy bất an về đời sống tinh thần. Họ nhận thấy rằng vật dục vẫn không thể phủ lấp những lo âu và chỉ có niềm tin vào thượng đế không thể nào thỏa mãn nhu cầu tìm tòi và giải quyết những khủng hoảng mà họ thường đối mặt. Để thỏa mãn sự đam mê nghiên cứu cũng như giải quyết những bất an hằng ngày, họ đã tìm học triết lý, học thuyết, tôn giáo cả Tây lẫn Đông. Sau những năm nghiên cứu và thực nghiệm, các nhà trí thức đã tìm thấy ở Phật giáo một kho tàng văn hóa tâm linh quý giá. Chính giá trị tâm linh này đã đáp ứng sự tìm cầu của họ cũng như có thể giúp họ giải quyết triệt để những bất an mà họ đang đối mặt trong cuộc sống. Do đó, họ đã đến với đạo Phật như là một truyền thống tôn giáo thứ hai, thậm chí chuyển hẳn thành Phật tử. Hiện tượng này đã rất phổ biến khắp các nước phương Tây trong thời đại ngày nay.

Ngược lại, xã hội Á đông hạn chế về phát triển khoa học kỹ thuật nhưng phát triển rất đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo có giá trị tinh thần rất cao. Trong các tôn giáo tồn tại hiện nay, có thể nói Phật giáo có sự ảnh hưởng sâu rộng khắp các nước Á đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Ở Việt Nam, Phật giáo đã du nhập và phát triển hơn 20 thế kỷ qua và đóng góp rất nhiều giá trị văn hóa, đạo đức, tâm linh cho dân tộc. Chỉ cần đọc lại lịch sử dân tộc thì chúng ta có thể thấy rõ được điều đó một cách cụ thể và rõ ràng. Do đó có thể nói rằng Phật giáo không ngừng đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào của đất nước cho đến thời đại hiện nay.

Song song với sự phát triển xã hội hiện đại trong thời hội nhập, các nền văn hóa ngoại lai được tự do giao lưu và có tầm ảnh hưởng nhất định đối với đời sống người Việt. Văn hóa vật chất, hưởng thụ vốn là ước mơ của những xã hội chậm phát triển đã từng bước thâm nhập vào các tầng lớp xã hội, nhất là giới trẻ Việt Nam. Hệ quả của nó đã làm thay đổi cách sống, lối suy nghĩ và niềm tin của giới trẻ một cách nhanh chóng. Những giá trị truyền thống trong đó có giá trị đạo Phật cũng ít nhiều bị trầm xuống bởi sự hào nhoáng, hấp dẫn của vật chất, điều mà giới trẻ đang quan tâm, mong ước; và bởi sự thiếu hiểu biết hay thiếu thông tin thiết thực về những giá trị ấy. Điều mâu thuẫn là trong khi chúng ta hô hào quay về giá trị truyền thống mà lại thiếu phương tiện thông tin hay cách truyền bá, giáo dục; còn khuyến khích hạn chế sự tai hại của vật dục thì chính chúng được quảng bá nhang nhảng suốt ngày đêm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đó là một trong những mặt trái của nền kinh tế thị trường mang lại.

Chúng ta có thể tự hỏi rằng tại sao trong xã hội văn minh lại có nhiều người bất an về tinh thần như thế? Trong khi các nhà khoa học miệt mài làm việc để phát minh ra những điều mới nhằm phục vụ cho con người và giúp cho nhân loại có cuộc sống tốt hơn thì nhu cầu thỏa mãn của con người cũng không ngừng gia tăng. Do đó, mặc dù nhiều tiện nghi vật chất được đưa vào sử dụng và đời sống con người cũng không ngừng được cải thiện nhưng khoảng trống về tinh thần dường như ngày càng rộng thêm. Càng thỏa mãn đời sống vật dục con người càng cảm thấy khủng hoảng về đời sống tâm linh. Sự khủng hoảng ấy không thể giải quyết nếu như tiếp tục theo đuổi vật dục và không có sự quay về với sự bất an nội tâm. Ý thức được nỗi bất an, nhiều người đã tìm chỗ nương tựa và tôn giáo là chỗ đáng tin cậy nhất. Khác với những tôn giáo hữu thần dạy con người đức tin mãnh liệt vào thượng đế, đạo Phật dạy họ con đường đưa đến chấm dứt khổ đau có thể đạt được ngay trong hiện tại bằng cách thực hành “bát chánh đạo”. Giáo lý này càng được khẳng định giá trị khi văn minh khoa học càng phát triển. Đây là nền tảng khiến cho các học giả trí thức tìm đến đạo Phật ngày càng đông ở các nước phương tây.

Xã hội Việt Nam đa phần phụ thuộc vào nông nghiệp và thiên nhiên. Sự ảnh hưởng của nền văn hóa nông nghiệp khiến nhiều người tìm đến tín ngưỡng, tôn giáo phần lớn là để cầu nguyện, van xin. Trong quá trình hội nhập, Phật giáo cũng bị ảnh hưởng và cũng phải sử dụng các yếu tố tín ngưỡng, văn hóa bản địa để hướng con người đến với giáo lý chính thống. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, những người đến với Phật giáo để học hỏi giáo lý và tu tập thật là hiếm trong khi phần lớn là lễ bái và cầu xin. Giá trị cao tột của Phật giáo ít được quan tâm trong khi những hình thức lễ nghi, huyền bí thì lại thu hút rất nhiều người. Những hình thức thu hút quần chúng không phải là không tốt nhưng nó chỉ là bề mặt nổi, bề ngoài của vấn đề. Nó không thể giúp cho con người vượt qua khổ đau hay bất cứ điều gì bất an mà con người có thể đối mặt xét về lâu dài.

Trước hiện trạng đạo Phật đang bị hình thức hóa quá nhiều, các nhà chức trách phải lựa chọn hình thức nào cho thích hợp nhất và phải đề xuất hướng đưa đạo Phật về đúng vị trí của nó. Bên cạnh phục vụ nhu cầu lễ bái, cầu xin bình an của người dân, Phật giáo cần hạn chế những hình thức tín ngưỡng bị ảnh hưởng bởi văn hóa bản địa và cúng cấp những hình thức mới phù hợp hơn, hiệu quả hơn. Vè trước mắt có thể nhiều người chưa quen với cái mới nhưng trải qua một thời gian chúng sẽ trở thành nề nếp. Để thực hiện vần đề lớn này, không thể là các cá nhân mà phải là toàn thể Phật giáo mà trước hết là cơ quan lãnh đạo. Nếu không thì các đoàn thể cá nhân chỉ như con én mùa xuân, có thể làm cho con người nghĩ về Phật giáo thuần túy nhưng vĩnh viễn không thể đưa Phật giáo về giá trị thực của nó.

Sunday, March 13, 2011

Kỳ vọng từ Hội thảo Hoằng pháp

Những ngày qua, khi đọc những thông tin về ‘Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc’ diễn ra tại Bình Dương những người con Phật không ai là không hân hoan và mong mỏi những thành tựu đạt được từ cuộc hội thảo ngay hiện tại và tương lai. Hình thức tổ chức, địa điểm tổ chức, truyền thông đưa tin, số người tham dự…khá ấn tượng. Điều đó cho thấy sự thành công trước nhất của nó là một trong những sự kiện Phật giáo được nhiều người quan tâm nhất, một dịp hiếm có để quy tụ hơn 1000 đại biểu từ hầu hết các tỉnh thành trong cả nước về tham dự và đóng góp trí tuệ của mình cho Phật sự truyền bá chánh pháp. Trong niềm vui chung ấy, người viết cũng một lòng hướng về cầu nguyện cho Hội thảo thành công tốt đẹp và nhân đây cũng xin bày tỏ một vài suy nghĩ với hy vọng chia sẻ và học hỏi từ chư tôn, thiện hữu tri thức.

Như vậy, đến thời điểm hiện tại Ban hoằng pháp đã tổ chức được bốn cuộc Hội thảo Hoằng pháp và số bài tham luận đóng góp cho Hội thảo cũng lên đến con số hàng trăm. Về mặt số lượng thì đây là một thành công lớn. Bởi lẽ, hằng năm cụ thể là từ năm 2008 đến nay, Ban hoằng pháp liên tục tổ chức được những cuộc Hội thảo lớn với số lượng tham dự đông đảo. Đặc biệt, Hội thảo năm 2010 và năm nay 2011 được tổ chức rất quy mô và có tầm ảnh hưởng rộng lớn đối với Phật giáo và xã hội. Đồng bào Phật tử địa phương và những vùng lân cận có cơ hội tham dự, chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật văn hóa và những chương trình văn nghệ Phật giáo đặc sắc. Các bạn trẻ có cơ hội tham gia tình nguyện viên phục vụ cúng dường và học hỏi Phật pháp sống động từ chư tôn đức và các đại biểu, từ đó tăng thêm kinh nghiệm sống cho bản thân. Những người nghèo khó cũng được thừa hưởng phước báo từ Hội thảo với những món quà vật chất và những bài pháp tinh thần từ chư tôn đức. Đó là thành tựu trước mắc trước mắt, dễ thấy.

Từ bốn lần Hội thảo, chắc chắn Ban hoằng pháp sẽ rút ra kinh nghiệm rằng Hội thảo Hoằng pháp tiếp theo sẽ tổ chức hằng năm hay 2-3 năm một lần để sao cho hiệu quả của nó tốt nhất; rằng tất cả những bài tham luận sẽ được tập hợp in ra ngay hay đúc kết và biên tập lại rồi xuất bản làm tài liệu cho hoằng pháp viên. Ban hoằng pháp chắc chắn cũng đánh giá được những thành tựu và hạn chế từ việc áp dụng những kết quả của Hội thảo trước đây vào thực tế cuộc sống để điều chỉnh chương trình Hoằng pháp sắp tới cho thích hợp với điều kiện mới.

Đã bốn kỳ Hội thảo rồi, có lẽ Ban hoằng pháp đã xây dựng cho mình một chương trình hay kế hoạch Hoằng pháp cụ thể cho từng vùng miền và những chính sách hỗ trợ thiết thực cho các Hoằng pháp viên có tâm phụng sự chúng sanh nhưng thiếu phương tiện. Trong các phương tiện ấy phải kể đến là sự trợ giúp của chính quyền sở tại, Ban đại diện Phật giáo sở tại và phương tiện đi lại nếu có thể. Nếu như Hoằng pháp viên cầm giấy giới thiệu của Ban hoằng pháp đến đâu bất kể Nam hay Bắc đều được trợ giúp đến đó thì Ban hoằng pháp đã thành công về mặt tổ chức, còn ngược lại thì dễ hiểu.

Về kế hoạch Hoằng pháp, hai vấn đề lớn không thể thiếu của người tu nói chung và Hoằng pháp viên nói riêng là giáo lý và thực hành. Thực hành là cốt tủy của người tu nên có lẽ không cần phải bàn. Hơn nữa, thực hành là biểu hiện của đạo đức, là thân giáo, là điều kiện không thể thiếu của Hoằng pháp viên. Điều cần bàn ở đây là giáo lý, là phương pháp hỗ trợ thực hành sao cho có hiệu quả nhất. Ví dụ, tổ chức các lễ hội, nghi thức tụng kinh… là chúng ta đang hành trì nhưng hình thức và cách thức tổ chức như thế nào để thu hút tín đồ và có thể truyền dạy giáo lý thì cần phải học hỏi. Đây là điều Ban hoằng pháp cần trợ giúp các tự viện, ít nhất là phương pháp cơ bản.

Đối với Hoằng pháp viên, có thể họ thông kinh điển và có kinh nghiệm Hoằng pháp nhưng đa số các vị trụ trì thì không phải như vậy. Do đó, việc biên soạn và phát hành giáo trình Hoằng pháp cơ bản cho tất cả tăng ni và Phật tử là điều hết sức bức thiết. Lý do là một tập thể hơn 1000 người với kinh nghiệm dày dặn truyền lại những kinh nghiệm và phương pháp qua giáo trình sẽ giúp cho tăng ni đỡ tốn rất nhiều thời gian băn khăn tìm đi lối thoát cho Phật sự Hoằng pháp. Giáo trình ấy như kim chỉ nam để tăng ni và Phật tử có thể sử dụng mà không phải lo lạc lối khi truyền bá chánh pháp. Được như vậy thì thành tựu của hội thảo sẽ vang vọng đi xa trong cũng như ngoài nước.

Không ai trong những người con Phật nghĩ rằng hội thảo chỉ là ‘đến hẹn lại lên’, xong rồi mọi thứ đâu vào đấy mà luôn mong mỏi rằng mỗi lần Hội thảo là mỗi lần Ban hoằng pháp đánh giá và rút kinh nghiệm để đưa ra những chương trình mới thích hợp hơn, là mỗi lần tìm ra giải pháp để khắc phục những khó khăn và tìm sự hợp tác mới. Sau kỳ Hội thảo này, những mong mỏi thiết tha trên có thành hiện thực không, chúng ta hãy chờ đợi.

Monday, March 7, 2011

Cải đạo và những động cơ

Khái niệm ‘cải đạo’ được hiểu một cách phổ quát là bỏ đạo mình đang theo để chấp nhận một đạo mới. Hiện tượng ‘cải đạo’ chỉ có thể xảy ra khi có ít nhất hai đạo cùng tồn tại trên cùng một lãnh thổ nào đó.

Theo hiến pháp Việt Nam, việc theo hay không theo một tôn giáo[1] là quyền tự do của công dân và không ai có quyền xâm phạm quyền ấy. Điều đó có nghĩa là, công dân được quyền quyết định niềm tin của mình một cách tự nguyện mà không bị áp lực từ bên ngoài. Những hành vi hay thủ đoạn mua chuộc, ép buộc, lừa đảo bằng bất cứ hình thức nào đều được xem là xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng. Vậy thì, sự ‘cải đạo’ cũng có thể xem là quyền tự do của con người và nó đã xảy ra khắp nơi trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Không ai có quyền cấm người khác cải đạo khi họ có những lý do chính đáng, nhưng chúng ta có quyền tư vấn, can thiệp và thậm chí phản đối khi những động cơ đưa đến sự cải đạo không lành mạnh xuất phát từ một trong hai phía hay cả hai.

Cũng như bác sĩ chẩn đoán bịnh nhân để tìm căn nguyên của nó, việc tìm hiểu động cơ cải đạo là ta đang chẩn đoán nguyên nhân của hiện tượng này. Nhận thức rõ tướng trạng của động cơ cải đạo thì ta mới hy vọng sẽ tìm ra giải pháp ‘cứu chữa’ hay ít nhất là ngăn chặn không cho chúng lan tràn thêm nữa. Dĩ nhiên, vi khuẩn mầm bịnh thì luôn luôn thay đổi nên công viêc ‘chẩn đoán’ cũng phải không ngừng hoạt động. Có thể nói rằng, đây là công việc không của riêng giới nào mà là công việc chung của mọi giới – những người đang quan tâm theo dõi sự thay đổi hàng ngày của hiện tượng cải đạo và những hậu quả đáng lo ngại cho đất nước Việt Nam chúng ta. Do vậy, mọi người đều có thể đóng góp công sức nhỏ bé của mình bằng những khả năng và phương tiện có thể. Trên phương diện truyền thông, việc xuất bản và phổ biến những thông tin về động cơ của việc cải đạo và hậu quả của nó gây ra được xem là một đóng góp tích cực mà nhiều vị đã và đang thực hiện, và mọi người đều có thể làm được. Những nhân chứng cụ thể và những sự kiện lịch sử chứng thực sẽ hiển lộ những động cơ không trong sáng của việc cải đạo và do đó sẽ bị đối phương phán ứng bằng nhiều hình thức quy chụp, đã kích khác nhau. Tuy nhiên, kết của tích cực của những thông tin chính xác sẽ giúp cho những người đang bị cải đạo hiểu rõ được bản chất của nó và thoát khỏi cạm bẫy. Âu cũng là việc nên làm vậy.

Theo lịch sử Việt Nam, tất cả các tôn giáo được nhà nước công nhận đều có nguồn gốc từ ngoài lãnh thổ Việt Nam. Phật giáo được truyền vào Việt Nam rất sớm và phát triển rõ ràng nhất là vào hạ bán thế kỷ thứ II khi trung tâm Phật giáo Luy Lâu được hình thành.[2] Suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, Phật giáo Việt Nam chứng tỏ thực sự là một đạo từ bi vì không hề khởi xướng tranh giành quyền lực, tín đồ dẫn đến đến cảnh đau thương, chết chóc, chia rẽ, thù hận, v.v…như các tôn giáo khác đã và đang làm. Ngay cả dưới hai thời đại Lý và Trần khi Phật giáo là quốc giáo, Phật giáo cũng hòa đồng với các giáo phái khác và do đó mới có câu nói ‘tam giáo đồng nguyên.’

Lão giáo và Nho giáo cũng được cho rằng truyền vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ I – II nhưng vai trò ảnh hưởng của hai đạo này không lớn đối với xã hội Việt Nam mãi cho đến thế kỷ XI khi mà Nho giáo có vai trò chính yếu trên vũ đài chính trị kéo dài tới thế kỷ XIX. Lão giáo và Nho giáo nên xem là hệ thống triết lý hơn là tôn giáo và do đó từ ‘đạo’ có vẻ thích hợp với hai giáo phái này. Lão giáo thì không có hệ thống tổ chức giáo hội và tồn tại chỉ là các ‘hội quán’ hay nhóm nhỏ thực hành đạo lý hướng về cõi thần tiên. Nho giáo thì chủ trương thực hành thuyết ‘tề gia, trị quốc, bình thiên hạ’ nên chú trọng vào đời sống hiện thực thay vì đề cập đến thế giới bên kia. Đặc biệt, Nho giáo đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống chính trị phong kiến ở nước ta từ thế kỷ XI cho đến đầu thế kỷ XX. Cả hai giáo phái này đều không có đề cập về việc cải đạo.

Thiên chúa giáo lấy năm 1533 làm mốc lịch sử truyền giáo vào Việt Nam.[3] Suốt 361 năm kể từ khi truyền vào Việt Nam đến năm 1884, Thiên chúa giáo có nhiều nỗ lực trong việc truyền giáo nhưng kết quả thật khiêm tốn. Thậm chí, tôn giáo này còn bị nhà nước cấm hay hạn chế sự truyền đạo. Tuy nhiên, sau khi triều đình Huế phải ký hòa ước công nhận Pháp đô hộ Việt Nam vào năm 1884, Thiên chúa giáo tại Việt Nam được tự do và công khai truyền đạo. Dưới sự ủng hộ của thực dân Pháp, Thiên chúa giáo phát triển rất mạnh về cơ sở vật chất lẫn tín đồ. Đặc biệt, dưới thời Ngô Đình Diệm, được sự bảo trợ của chính quyền, Thiên chúa giáo đã gây nhiều tổn thương cho Phật giáo nhằm mục đích phát triển tín đồ. Sau khi đất nước độc lập, Pháp và Mỹ đã rút khỏi Việt Nam, Thiên chúa giáo Việt Nam vẫn còn là một bộ phận của Giáo hội Công giáo Roma (Roman Catholic Church) và tồn tại đến ngày nay.

Một tôn giáo khác cũng có nguồn gốc từ Cơ Đốc giáo là Tin lành. Tin lành là phong trào kháng cách (Protestantism) tách ra từ Giáo hội Công giáo Roma xảy ra vào thế kỷ XVI ở châu Âu. Sau đó, tôn giáo này được truyền đi các châu lục khác và hiện nay rất thịnh hành ở Hoa Kỳ. Tin lành là tôn giáo sau cùng được truyền vào Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ thứ XIX trong thời kỳ Pháp đô hộ. Đầu tiên là các mục sư Tin lành thuộc Giáo hội Tin lành Pháp và sau đó là các mục sư đến từ tổ chức CMA thuộc Bắc Mỹ. Hiện nay, hệ thống tổ chức của các Giáo hôi Tin lành ở Việt Nam không phụ thuộc vào tổ chức Tin lành ở nước ngoài nhưng được hậu thuẩn rất mạnh về tài chính nhất là từ Hoa Kỳ. Cả Thiên chúa giáo và Tin lành đều có chủ trương và áp dùng nhiều hình thức để cải đạo nhằm mục đích phát triển tín đồ và nhiều lý do khác.

Một tôn giáo nhất thần khác cũng có chủ trương cải đạo rất ráo riết trên khắp thế giới là Hồi giáo. Tuy nhiên, Hồi giáo ở Việt Nam chiếm tỷ lệ tín đồ rất ít nên chiến lược cải đạo chưa thấy biểu hiện rõ ràng cho đến hiện tại.

Hai đạo còn lại là Cao Đài và Phật giáo Hòa hảo được thành lâp tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Nhìn chung, giáo lý của hai đạo này gần gũi với truyền thống Á đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Họ cũng có những quy định để bảo vệ và phát triển tín đồ. Tuy nhiên, phần lớn tín đồ theo hai đạo này là tự nguyện hơn là vì vật chất hay mua chuộc.

Sau khi sơ lược về các tôn giáo được công nhận tồn tại ở Việt Nam, chúng ta có thể xác định được tôn giáo nào có chủ trương cải đạo và từ đó tìm hiểu những mô thức mà họ đã và đang áp dụng và mục đích cuối cùng của họ là gì? Trước hết, chúng ta cần phân biệt rõ rằng tìm hiểu thêm về triết lý hay đạo đức của một truyền thống khác, ngoài truyền thống của mình không phải là cải đạo vì chúng ta không hề bỏ đạo gốc của mình; rằng hợp tác với các tôn giáo khác vì mục đích lợi ích chung (nếu có thể) cũng không phải cải đạo; và rằng ngay cả trường hợp nam nữ tiến đến hôn nhân nhưng vẫn tôn trọng truyền thống riêng của mỗi người cũng không gọi là cải đạo. Như vậy, việc cải đạo chỉ có thể xảy ra khi chúng ta chấp nhận từ bỏ đạo gốc của mình, từ bỏ truyền thống tâm linh, tổ tiên của mình để theo một cái hoàn toàn mới. Cũng cần lưu ý rằng, tiếp thu học hỏi những điều mới để làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần, và tâm linh của mình không phải là cải đạo.

Vào thời Nho giáo thịnh hành ở nước ta, nhiều người chạy theo Nho giáo để có cơ hội thăng quan tiến chức, rồi quay sang công kích Phật giáo. Tuy nhiên, họ cũng không hoàn toàn bỏ truyền thống của họ và do đó không ai cho rằng họ cải đạo. Ngược lại, thời Pháp đô hộ Việt Nam và thời Mỹ - Diệm, nhiều người cũng muốn tiến thân trên con đường tương tự nhưng họ không có quyền lựa chọn như trước. Nghĩa là họ phải chấp nhận cải đạo để theo Thiên chúa nếu họ muốn mau đạt mục đích. Và từ đây vấn đề cải đạo trở nên phổ biến với nhiều động cơ khác nhau từ hai phía. Động cơ chủ yếu của các tín đồ là hưởng lợi và một phần niềm tin cứu rỗi, còn động cơ của các nhà truyền giáo là lợi dụng sự ủng hộ của tín đồ để củng cố sức mạnh chính trị của họ. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, người ta buộc phải lựa chọn lối sống cho mình, và nhiều người đã đi theo con đường mới.

Sau khi đất nước độc lập và thống nhất, con đường quan quyền của người dân không còn phụ thuộc vào bất cứ tôn giáo nào mà nằm ở những người cộng sản. Vậy thì động cơ của việc cải đạo là gì? Đối với các tín đồ, động cơ cải đạo trước hết là con đường tiến thân vì họ được giúp đỡ vật chất lẫn tinh thần, điều kiện học tập, và vì đạo lý ơn nghĩa của người Việt. Kế đến là sự yên tâm, chắc chắn sẽ được cứu rỗi bởi đã được các nhà truyền giáo viện dẫn kinh thánh hứa hẹn như thế. Ngoài ra, cũng không loại trừ trường hợp mua chuộc bằng vật chất, hù dọa về tinh thần và đặc biệt là chiến thuật ‘mạnh hiếp yếu’. Nghĩa là, nếu một vài người người Phật tử sống trong xóm đạo thì sớm hay muộn gì cũng phải cải đạo hay chuyển đi nơi khác. Làm sao có thể sống trong một môi trường mà sự tính toán cải đạo luôn là ý niệm thường trực của nhiều người.

Trường hợp của những người thuộc dân tộc thiểu số ở tây nguyên thì sao? Động cơ của họ là cần sự cứu rỗi của Chúa hay sự cứu rỗi của những nhà truyền giáo. Có lẽ họ cần cả hai nhưng sự cứu rỗi của những nhà truyền giáo thực tế hơn là sự cứu rỗi của Chúa trời vì chính những người này mới đem của cải vất chất đến để thay đổi cuộc sống nghèo khổ của họ hiện tại. Họ cũng có ‘ông Giời hay ông Giàn’ để cầu nguyện nhưng đời sống của họ cứ nghèo. Vì lẽ đó, khi được giới thiệu một đấng quyền năng hơn, có thể làm cho họ thoát nghèo qua sự trợ giúp của các nhà truyền giáo thì việc chấp nhận Chúa trời cũng là dễ hiểu. Marx nói ‘vật chất quyết định ý thức’ có lẽ là đây. Tuy nhiên, cái lợi trước mắt có thể là mối hiểm họa lâu dài khi mà ‘ông Giời’ của họ không còn đất sống (mất đi văn hóa dân tộc) thì họ trở nên mất gốc, thành nô lệ của cái mới. Đây chính là điều lo ngại của chúng ta.

Công bằng mà nói, động cơ cải đạo của tín đồ không hẳn hoàn toàn như trên đã nói mà cũng có những trường hợp tích cực đáng suy ngẫm. Đó là khi họ không tìm thấy trong truyền thống của họ những điều họ mong muốn, những điều có thể giúp họ giải quyết nỗi khổ niềm đau của họ, nhưng họ lại tìm thấy ở truyền thống khác. Nguyên nhân là họ không gặp được thầy lành, bạn tốt cùng đạo với họ, có thể giúp đỡ họ; trong khi đó họ lại được giúp đỡ tận tình bởi những người từ tôn giáo khác. Tính thiết thực của tôn giáo đã thuyết phục họ chứ không phải những giáo lý cao siêu huyền diệu đọc thì không hiểu mà hành thì không ai hướng dẫn. Đó chính là điểm yếu của Phật giáo hiện nay. Đức Phật là một người ‘nói và làm’ thiết thực nhất trên thế gian này nhưng tiếc rằng đệ tử học và hành theo đức Thế Tôn thì quá ít. Đây là nguyên nhân sâu xa khiến cho kho tàng Phật pháp vô giá khó có thể đến với quần chúng bình dân ở những nước đang phát triển và do đó không giữ chân họ lại được khi có biến cố xảy ra với họ.

Nếu động cơ của tín đồ có thể sơ lược như trên thì động cơ của các nhà truyền giáo là gì? Theo nguyên lý, các nhà truyền giáo chân chính khi giới thiệu một nền giáo lý mới cho người khác thì ắt hẳn giáo lý ấy phải có giá trị giúp đời, đem lại lợi ích cho con người. Cái giá trị ấy như thế nào thì tùy ở mỗi tôn giáo. Vì ý niệm giúp đời, các nhà truyền giáo đã không ngại gian lao dấn thân khắp nơi để truyền bá đạo lý của mình. Việc làm ấy nếu chỉ đơn thuần như thế thì còn gì cao quý cho bằng. Hẳn nhiên, động cơ giúp đời phải dựa trên nền tảng tự do và tự nguyện. Nghĩa là mình truyền giáo nhưng phải tôn trọng quyền tự do chọn lựa của người khác và nếu họ muốn theo đạo của mình thì đó phải hoàn toàn là sự tự nguyện của họ. Động cơ như thế đáng trân trọng biết bao. Ngoài ra, những sự trợ duyên vật chất và tinh thần mà các nhà truyền giáo đem đến cho những người dân còn thiếu thốn cũng là nguồn an ủi lớn lao và đáng trân quý. Với động cơ cao thượng như thế thì sẽ không có một nhà truyền giáo chân chính nào có tâm niệm tìm cách cải đạo hay mua chuộc tín đồ; sẽ không có vị nào nghĩ đến tranh giành tín đồ để thực hiện mục đích riêng cho mình. Động cơ cao đẹp này được tất cả các vị giáo chủ của các tôn giáo lớn dạy và hành như thế. Ngày này, các nhà truyền giáo nếu muốn tìm đủ mọi cách để cải đạo thì đó là hành động trái ngược với lời dạy của vị giáo chủ của mình và trái với đạo đức con người. Đem vật chất cứu giúp để tỏ ra thương hại người và lợi dụng vào đó để cải đạo thì đâu phải là động cơ của những nhà truyền đạo chân chính. Đáng buồn là nó lại đang xảy ra trên đất nước Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy rằng trước khi Thiên chúa giáo và Tin lành truyền vào Việt Nam thì không có chuyện cải đạo hay nói đúng hơn là tranh giành tín đồ. Ngoại trừ hai tôn giáo này cộng với Hồi giáo có chủ trương và đường lối cải đạo, Phật giáo và các tôn giáo còn lại không hề có quan niệm này. Sự truyền giáo là đem đến cho tín đồ những giá trị đạo đức và tâm linh để giúp họ vượt qua nỗi khổ niềm đau, lý giải những bế tắc trong cuộc sống. Do vậy, cùng lúc họ có thể thực hành nhiều truyền thống vẫn không có mâu thuẩn gì. Tuy nhiên, khi các tôn giáo nhất thần truyền vào thì vấn đề trở nên phức tạp và đôi khi căng thăng. Từ đó, chúng ta có thể lý giải phần nào bản chất của các tôn giáo này.

Con người có quyền chọn lựa cuộc sống hạnh phúc về vật chất và tâm linh cho mình. Khi họ tìm thấy nơi đâu đáp ứng nhu cầu thì họ đi theo là chuyện không có gì lạ. Tuy nhiên, hậu quả trước mắt và lâu dài của việc cải đạo cần phải phân tích rõ ràng để mọi người cùng thấy. Ba vấn đề chúng ta cần quan tâm là liệu rằng cải đạo có đem đến: chia rẻ tình đoàn kết dân tộc, phá vỡ nền văn hóa Việt và đánh bậc gốc rễ thế hệ trẻ không?! Mỗi người hãy cùng suy ngẫm.

Trước tình trạng cải đạo không lành mạnh thì Phật giáo cần làm là gì? Phật giáo không thể làm một cách rập khuôn theo các tôn giáo khác mà hãy phát huy những giá trị vốn có của mình cộng với phương thức lãnh đạo thích hợp. Trước hết, Phật giáo cần phải có một quyển kinh nhỏ, ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ về nội dung giáo lý Đức Phật để phân phát cho tất cả tín đồ. Điều thiếu sót hiện nay là rất nhiều Phật tử sau khi quy y rồi cũng không có được một quyển kinh nào để biết trì tụng huống gì những người chỉ đến chùa mà chưa quy y. Thứ hai, củng cố đoàn hoằng pháp. Phải có một nguồn tài chánh cho ban hoằng pháp để ban này có thể cử nhân sự đi khắp mọi miền đất nước thuyết pháp. Chúng ta không thể mong mỏi ban hoằng pháp làm việc tốt hơn trong khi mọi thứ họ phải tự lo từ đầu đến cuối. Hơn nữa, ban hoằng pháp cũng chỉ có thể làm tốt khi các chùa cơ sở được tổ chức tốt. Giáo hội phải quan tâm, hướng dẫn và trợ duyên cho họ thực hiện công tác tổ chức này thay vì để họ tự nguyện. Thứ ba, cải cách công tác từ thiện. Ban từ thiện phải nên hợp tác với ban hoằng pháp để vừa giúp vật chất vừa trao giáo pháp. Các dự án từ thiện phải có tính hệ thống, lâu dài nhất là vấn đề y tế, hướng nghiệp cho cộng đồng Phật giáo và người dân thay vì chỉ bố thí vật chất một cách tự phát. Tất nhiên, công việc ấy cũng có lợi ích nhưng nếu chỉ vì vật chất thì Phật giáo sẽ tụt hậu.

Việc cải đạo diễn ra phức tạp và tinh vi. Do vậy, tiếng nói của mỗi người con Phật là đang đóng góp bảo vệ và duy trì ngôi nhà chánh pháp. Hy vọng Đại hội hoằng pháp sắp đến sẽ có nhiều giải pháp thiết thực hơn.



[1] Tôn giáo (tiếng Anh gọi là religion) là thuật ngữ dùng để chỉ chung cho các truyền thống tâm linh, đặt biệt là các tôn giáo nhất thần phát triển mạnh ở phương tây. Trong các văn bản pháp lý, người ta gọi chung các ‘đạo’ là tôn giáo để có sự thống nhất trong công việc hành chánh hay quan hệ giao tiếp. Thật ra, từ ‘đạo’ mang nhiều ý nghĩa hơn và có thể biểu đạt nội hàm tương đối đầy đủ hơn so với từ tôn giáo, và do đó nó thích hợp với các truyền thống phương đông. Hơn nữa, từ ‘đạo’ không gây hiểu lầm về hệ thống tín điều như các tôn giáo nhất thần sử dụng.

[2] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, quyển 1.

[3] Theo Sách trắng tôn giáo Việt Nam

Wednesday, February 2, 2011

Cái Tết tuổi thơ

Tết trong tâm trí của tôi lúc còn tuổi thơ thật là trong trắng, ngây ngô và thơ mộng. Những tâm trạng chờ đợi, háo hức, mong mỏi cái Tết như ngự trị trong tâm khi những ngày mùa xuân sắp đến. Hình bóng của bộ quần áo mới, chiếc mũ, đôi dép và bao mừng tuổi của người lớn tặng cho hiển hiện trong đầu như là một giấc mơ bình dị. Âm thanh nổ giòn của những trái pháo năm nào cũng vang vọng bên tai nghe thật vui tươi và rộn rã. Và đặc biệt hơn, sự mong mỏi được về quê nội – một vùng quê nghèo sao mà da diết và mãnh liệt. Có lẽ, chính những điều giản đơn ấy làm cho Tết trở nên thiêng liêng và ấm cúng trong lòng thơ ấu của tôi.

Rồi năm tháng trôi qua, dòng đời như một thứ thuốc tẩy vô hình làm phai mờ đi bao tâm trạng của một thời đáng nhớ. Chúng đã cùng với thời gian cất cánh bay đi để nhường chỗ cho những tâm tư mới. Những suy niệm về thế sự đổi thay, về sự thăng trầm của kiếp sống, và ý niệm về văn hóa tổ tông đang ẩn hiện trong tôi như đóm than hồng trong bếp lửa. Do vậy, tôi đón Tết với một tâm trạng có một chút lạnh nhạt, nhưng vẫn giữ tâm thế bình yên quán sát những sự kiện xảy ra để hiểu thêm về cuộc sống, về lòng người xưa nay, và về truyền thống văn hóa Việt.

Ngày ấy, khi tôi còn nhỏ. Trước Tết cả tháng là chúng tôi đã nghĩ đến cái Tết và những món quà nho nhỏ. Chúng tôi nghĩ đến cái Tết cũng phải thôi vì đó là dịp hiếm có để chúng tôi có thêm một bộ đồ mới, một đôi dép và cái mũ mới. Ở vùng quê, ba mẹ quanh năm lam lũ làm ăn để nuôi mấy anh em chúng tôi được cắp sách đến trường đã vất vả lắm rồi. Tết đến, ba mẹ lại thêm gánh nặng lo âu về cái lễ nghĩa và cái ăn cái mặc cho con cái. Biết thế, chúng tôi có dám đòi hỏi gì đâu bởi có đòi cũng chắc gì đã có. Tôi còn nhớ năm ấy, mẹ tôi bảo đem cái quần của anh tôi may lại mà vận. Thế rồi, bà tháo chỉ ra và bảo tôi đem đến tiệm may nhờ họ cắt may lại theo số đo của tôi. Đợi gần cả tháng rồi cái quần ấy ấy cũng may xong. Nó không phải là thứ vải mới hoàn toàn nhưng nó lại mới mới tôi và tôi nhận nó, sử dụng một cách mãn nguyện. Cái hạnh phúc tuổi thơ sao mà đơn sơ quá.

Những ngày cận Tết, quê tôi có tục cúng tất niên để tạ ơn những người vô hình ẩn hiện đâu đó gia hộ cho gia đình bình yên. Không biết phong tục được truyền lại từ bao giờ mà cứ mỗi lần cúng như thế bà và mẹ tôi đều phải chuẩn bị ít nhất một con vịt để tế lễ. Những con vật tế lễ này có khi được nuôi trước đó vài tháng để chuẩn bị hay được mua từ chợ về. Đến khi bắt đầu cắt tiết canh (cắt cổ), bà và mẹ tôi đều miệng đọc lâm râm những lời đại khái: tôi vì cúng bái tế lễ nên mới sát sanh; đây là việc tôi không thể không làm, chỉ mong các vị tha thứ cho. Thế rồi, họ mới tiến hành. Có những lúc cắt tiết canh xong, con vịt vẫn vùng lên chạy thêm vài bước như thể là nó muốn thoát chết hay là vì đau đớn lắm chăng? Có lẽ chính nó mới biết được điều đó cụ thể nhất. Những lúc ấy, tôi thường có mặt để giúp bà và mẹ khi cần. Tôi đứng nhìn với tâm trạng thương hại của một đứa trẻ nhà quê ngây ngô. May là bà và mẹ tôi chưa bảo tôi làm việc đó nên tôi cũng chưa cắt cổ bao giờ. Lớn lên, tôi xa nhà nên tôi cũng không biết hàng năm mẹ tôi còn làm điều đó nữa không. Tôi biết rằng trong lòng bà và mẹ tôi vẫn luôn ẩn tạng tâm thiện ngay trong lúc sát sinh. Nhân gian mấy ai toàn thiện. Cái quý là khi làm việc gì mình biết nó thế nào cũng tốt lắm rồi. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ rằng mẹ tôi bây giờ không còn tế lễ theo phong tục ấy nữa.

Ngày 30 Tết cũng là ngày chạp mả quê nội tôi. Do vậy, con cháu tập trung về trước thăm viếng, thắp hương mồ mả ông bà để tưởng nhớ, sau là anh em bà con gặp nhau thăm hỏi sau những ngày dài làm ăn vất vả. Sau khi dâng cúng ông bà tổ tiên xong, bữa cơm ấm cúng của dòng họ được bày ra để cùng nhau thưởng thức. Ngày trước, việc đốt pháo còn chưa cấm. Quê nội tôi tuy nghèo nhưng thích đốt pháo cho vui nhà vui cửa và năm nào cũng ráng dành tiền để đem về vài ba dây pháo. Tôi thì mê pháo đến nổi năm nào cũng đòi về quê nội cho được để thưởng thức tiếng pháo và nhặt những viên pháo còn sót lại. Có lần, tôi nhặt được mấy viên pháo lớn và tôi thích lắm. Tôi đặt nó bên dưới rồi để tấm tole kê bên trên. Tôi bắt đầu châm ngòi nổ và một tiếng nổ lớn làm văng tấm tole lên cao rồi rơi xuống từng mảnh. Cái trò nghịch ngợm của tôi làm mọi người hú vía và tôi cũng không khỏi bị một trận ‘nổ giòn’ từ các anh bà con.

Từ ngày tôi xa nhà thì những kỷ niệm trên cũng dần đi vào dĩ vãng. Đã lâu lắm rồi tôi chưa có dịp để thưởng thức lại khung cảnh sum họp ấm cúng ngày xưa. Mà tôi nghĩ nếu bây giờ sum họp lại, có lẽ tâm trạng tôi cũng khác bởi sự thay đổi của thời gian và hoàn cảnh xung quanh. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng ý nghĩa về nguồn cội tổ tông sẽ không mất đi mà vẫn thiêng liêng và cần gìn giữ nó. Nó là sợi dây liên kết giữa chúng ta với tổ tiên và với thế hệ con cháu mai sau.

Bao mùa xuân trôi qua, tôi thấy mình cũng trưởng thành lên. Mỗi lần Tết đến tôi lại có cảm nhận khác nhau về cuộc sống. Với trẻ thơ, Tết là mùa an vui và hạnh phúc trong tà áo mới du xuân. Với người lớn, tâm trạng buồn vui lẫn lộn không sao miêu tả hết bởi cái vui của người này lại là cái buồn của người kia, cái được của vị này là nỗi âu lo của kẻ khác. Nhưng tôi thấy trong họ vẫn có cái chung là sự mong cầu cuộc sống tốt đẹp hơn, bình yên hơn và thịnh vượng hơn. Sự mong cầu là mẫu số chung nhưng con đường đi tới trăm ngả, ngàn phương.

Còn tôi thì chỉ mong ước mọi người có cuộc sống ấm no, sống thân thiện hơn, biết hưởng thụ vừa phải và biết chia sẻ với cộng đồng xung quanh. Sự sang trọng xa hoa của ta có ý nghĩa gì khi mà bao kẻ lầm than đói rách đang sống quanh ta. Tôi tự nghĩ, lẽ nào tâm hồn con người thời hiện đại cũng trở nên thờ ơ và chai lì, không còn rung động trước nổi khổ của nhân sinh. Tết đến rồi, mùa xuân an vui lại về. Cầu mong mọi người được sống an lạc.