Tuesday, January 28, 2014

Sớ giao thừa tại tư gia


Phục dĩ:
Tam dương khai thái, Ngũ phước lâm môn.
Giờ giao thừa đảnh lễ đấng Từ Tôn,
Mùa tuế đán đón mừng xuân Khánh Triệu
Nước Bát Đức thắm hoa lòng hàm tiếu
Mây Tam Đa vờn hương giới khai minh
Hướng tâm thành: lợi lạc chúng sanh
Trình ý khẩn: quang huy quốc độ.
Duyên nay có:
Nước Việt Nam ……….
Chúng con tên: ………...
Nhân buổi giao thừa năm mới, đảnh lễ đấng Từ Tôn
Cúng dường chư Phật, Bồ-tát, Thánh Hiền
Bổn thổ Tài thần, Địa thần, Kim Niên Đương Cai Thái Tuế Chí Đức Tôn thần.
Kỳ nguyện cho đệ tử chúng con:
Thân thể vinh an, gia đình hòa lạc, dân chúng đều hưởng chữ an vui, mọi người được triêm ân phước lợi.
Giờ đây:
Trước cảnh thiêng liêng của mùa Tuế Đán, chúng con thành tâm đảnh lễ: Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam-mô Từ Thị Di Lặc Tôn Phật.
Nam-mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nam-mô Diệu Cát Tường Bồ-tát.
Nam-mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ-tát.
Nam-mô Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ-tát.
Nam-mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát.
Kim Niên Đương Cai Hành Khiển Sở Vương Chí Đức Tôn Thần.
Hành Binh Hỏa Tinh Biểu Tào Chí Đức Tôn Thần.
Kính nguyện:
Chư Phật nhủ từ bi vô lượng, ban ân lành khắp cõi nhân gian,
Chúa xuân đem phước lộc đề đa, tạo cảnh mới đại đồng hoàn vũ.
Khiến mọi người ân triêm pháp nhũ, giữ giới mà giác ngộ tâm vương,
Để chúng con tắm ánh xuân huy, niềm vui được tràn lan quốc độ.
Khắp mọi nhà: nhân phong vật phụ,
Khắp mọi người: an lạc thọ khương.
Chúng con tắm gội ánh đạo vàng,
Nhân loại xưng dương mùa xuân thủ.
Người già lão đội ân sâu: Phật từ gia hộ,
Khách thanh niên nhờ đức cả: Cam lộ huân triêm.
Cảnh vui tươi nhuần thấm, điều lợi lạc thực thi.
Cùng sát cánh chen vai làm quang huy quốc độ,
Quyết chung lòng góp sức mà phổ độ quần sanh.
Nhân dân an lạc, thế giới an bình,
Chúng con vô cùng cảm bội chư Phật chứng minh.
Mùa Tuế Đán - giờ giao thừa - Xuân Giáp Ngọ
Đệ tử chúng con chí thành dâng sớ

Monday, January 27, 2014

Những lời chúc Tết Giáp Ngọ hay nhất

CUNG kính mời nhau chén rượu nồng CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng.
VẠN chuyện lo toan thay đổi hết SỰ gì bế tắc thảy hanh thông NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong 
Cung Chúc Tân Xuân Phước Vĩnh Cửu, Chúc Trong Gia Quyến Được An Khương, Tân Niên Lai Đáo Đa Phú Quí,Xuân Đến An Khương Vạn Thọ Tường
Chúc bạn 4 chữ vàng để SỐNG:

Sống cho lẽ PHẢI
Sống cho chân THẬT
Sống biễt kiên NHẪN
Sống bằng lương TÂM.
Năm mới chúc mọi người vừa đủ:

Vừa đủ HẠNH PHÚC để giữ tâm hồn được ngọt ngào.
Vừa đủ THỬ THÁCH để giữ mình luôn kiên cường.
Vừa đủ MUỘN PHIỀN để thấy mình thật sự là một con người.
Vừa đủ HY VỌNG để thấy mình hạnh phúc.
Vừa đủ THẤT BẠI để giữ mình mãi khiêm nhường.
Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ mình mãi nhiệt tâm.
Vừa đủ BẠN BÈ để bớt cảm giác cô đơn.
Vừa đủ VẬT CHẤT để đáp ứng các nhu cầu cuộc sống.
Vừa đủ NHIỆT TÌNH để có thể chờ đợi trong hân hoan.
Vừa đủ NIỀM TIN để xua tan thất vọng mỗi khi chán

Theo laodong.com.vn

Saturday, January 4, 2014

Nguyên nhân tục đốt vàng mã

Tục đốt vàng mã bắt đầu từ đâu và Phật giáo quan niệm như thế nào về việc đốt vàng mã, phatgiao.org.vn trân trọng giới thiệu bài viết cách đây hơn năm mươi năm của một bậc danh Tăng ở miền Bắc, Hòa thượng Tố Liên về vấn đề này

Với quan niệm thông thường, sau cái chết, con người cũng có một đời sống, cũng có các nhu cầu như khi đang ở dương thế. Một số người vì quá thương tiếc người thân đã mất, sắm đủ thứ vàng mã để đốt cúng nhân ngày giỗ hoặc các dịp lễ như Rằm tháng Bảy, Tết Nguyên đán…, để người ở đã chết sử dụng ở cõi âm.

Việc làm đó đôi khi thái quá, người ta có thể sắm vàng mã với hình dáng nhà lầu, xe hơi, máy lạnh, điện thoại di động, tiền mô phỏng đô- la Mỹ, v.v…để cúng cho người đã chết.

Tục đốt vàng mã bắt đầu từ đâu và Phật giáo quan niệm như thế nào về việc đốt vàng mã, phatgiao.org.vn trân trọng giới thiệu bài viết cách đây hơn năm mươi năm của một bậc danh Tăng ở miền Bắc, Hòa thượng Tố Liên về vấn đề này.  

Phàm ở đời, cái gì cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, dưới đây sẽ biện bạch rõ cái nguyên nhân của tục đốt vàng mã.

Đọc kinh Dịch nhà Nho, chúng ta thấy rằng tục chôn người chết của nước Trung Hoa về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khanh phần mộ chí chi cả. Đến đời vua Hoàng Đế (267 trước Tây lịch) cho rằng con cháu đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận, mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng Đế đến đời Đường Ngu, cái tục lệ chôn cất người chết chỉ có thế thôi.

Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 trước Tây lịch), người Trung Hoa mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo v.v…để đem theo người chết. Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quỹ khí, tức là những đồ vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đấy. Rồi đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất phải có người hầu hạ người chét, người ta mới lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo với người chết. Đến đời nhà Ân (1765 trước Tây lịch), lại không dùng đồ mâm bát đồ đất và nhạc khí bằng tre gỗ để chôn theo người chết nữa. Thay vào cái đồ tế khí, dùng toàn đồ thật chôn theo.

Đời nhà Chu (1122 trước Tây lịch), người Trung Quốc đã bắt đầu văn minh; cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, giữa người chết với người chết đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc lễ nghi chôn cất. Số là từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ, đồ vật thật theo lệ nhà Ân để chôn theo các vua chúa đã chết; còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc nhất một thứ đồ giả thôi.

Nếu người hèn hạ mà dùng lễ nghi ngang với người sang tức khắc phải tội “Tiếm lễ”. Không những thế mà thôi, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những tuần táng, nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ, đồ yêu quý của họ khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết. Việc này chúng ta được thấy sự thật đã được chép ở sách Tả truyện rằng vua Tần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ Xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công vì Mục Công khi còn sống rất yêu quý ba anh em họ Tứ Xa đều là những người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi! Sao nở đem chôn sống để đi theo người đã tận số là Mục Công.

Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay”. Về sau người ta cũng biết đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người có “Sô linh”, sau vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng đồ gỗ “Mộc ngẫu” như trước. Sách Trang Tử chép rằng: “Vua Mục Vương nhà Chu (1001 trước Tây lịch) có người tên là Yến Sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết”.

Đức Khổng Từ đọc đến chuyện này liền nổi lòng phẩn uất mà thống mạ rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân”. Thầy Mạnh Tử cũng ác cảm với tục hình nhân thế mệnh mà nguyền một câu độc rằng: “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Đến thời nhà Hán, giới trí thức Nho học cảm động với lời tuyệt cự thống thiết của ngài Khổng, Mạnh trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục Tuần táng, không dùng người sống chôn theo với người chết nữa, nhưng lại làm ra nhà mồ để cho vợ, con, tôi tớ người đã chết ra để ấp mộ.

Còn các thức đồ ăn mặc, hành dùng của người chết kia, khi còn sống dùng những thức gì, khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vệ, người ta lại đục phỗng đá, voi, ngựa đá để bài trí chung quanh phần mộ nữa.

Đến đây chúng ta sẽ lại tìm thấy nguyên nhân của tục đốt vàng mã giấy. Đời Hán, đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Linh bắt đầu lấy vỏ cây dó và rẻ rách, lưới rách đem chế ra giấy, vì đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v… đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám cương mục có chép: “Vị vua Huyền Tôn mê thuật quỹ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hàng thủy tổ nghề vàng mã được”.dot vang ma

Đức Phật Thích Ca không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Tại sao ngày Rằm tháng Bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo mà thấy một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để cúng gia tiên. Chính nghĩa ngày Rằm tháng Bảy của Phật giáo là thế này: Ngài Mục Kiền Liên là bậc đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca.

Ngài đã tu chứng được sáu phép thần thông ; mắt trông thấy thân mẫu ngài là bà Thanh Đề bị đày đọa ỏ địa ngục, mà ngài không sao cứu được mới cầu cứu đến đức Phật. Đức Phật dạy rằng: “Dù ông thần thông đến đâu chăng nữa, cũng không thể cứu được tội nghiệp chothân mẫu của ông được. Ngày Rằm tháng Bảy sắp tới đây sẽ là ngày của chư Phật hoan hỷ, ngày của chư Tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dường chư Tăng. Các ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát”.

Chính ý nghĩa của ngày Rắm tháng Bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên và ngày Rằm tháng Bảy đâu? Tại sao lại có tục lệ mê tín dị đoan ấy?.

Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy là thế này:  Triều cua Đại Tôn nhà Đường (762) nhằm lúc Phật giáo cực thình ở Trung Quốc, vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng Trung Quốc vì ngày Rằm tháng Bảy mà bồng bột theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của nhân dân Trung Quốc vào tâu với vua Đại Tôn rằng: Rằm tháng Bảy là ngày của Diêm vương ở âm phủ xét tội phúc thăng  trầm , nhà vua nên thông sức cho thiên hạ; trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày Rằm tháng Bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.

Vua Đại Tôn đang muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đại Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ, thế là nhân dân Trung Quốc lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy để cúng gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu việc đốt vàng mã vào ngày trọng lễ của Phật giáo lại bị chư Tăng công kích bài trừ, cho nên cái lệ ngày Rằm tháng Bảy không còn có chính nghĩa nữa.

Phần  lớn dân chúng Trung Quốc hồi đó, hầu tỉnh ngộ cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống  về nghề nghiệp vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, người đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã. Vương Luân mới bàn cùng với các đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã của bọn họ.

Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi mọi người họ mạc, xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với một lũ người tức tưởi đem trăm nghìn thứ đồ mà đến có cả hình nhân thế mạng nữa.

Đem đến để làm gì? Bày đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ. Chả! Chả! Phép quỷ thần mầu nhiệm quá nhỉ! Thiêng liêng quá nhỉ! Khi mọi người đang suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên. Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài.

Chàng giả cách chết kia cũng lò dò ngồi dậy, giả vờ ngơ, trông trước, trông sau, mới bước từ quan tài ra với điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật lại chuyện với công chúng rằng: “Các thần thánh trong Tam, Tứ Phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn, bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”. Hiển nhiên trăm nghìn mắt thấy, tai nghe công chúng lúc đó ai chả nhận thấy rằng, thế này ra hình nhân có thể thế mệnh được thực và thánh thần trong Tam, Tứ phủ cùng ăn lễ đồ mã, tăng phúc, giảm thọ và miễn cho sống thêm thực.

Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì rằng không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã đến cả thiên, địa,quỷ,thần trong Tam, Tứ phủ cũng phải tiêu dùng đến đồ vàng mã nữa, cố nhiên là vàng mã phải đắt hàng. Chuyện này còn chép rõ ràng ở sách Trực ngôn cảnh giáo.

Chúng ta nên nhận thẳng rằng: “Bịa đặt ra tục mê tín, dị đoan, làm hình nhân thế mạng vào lễ Tam, Tứ phủ để đầu độc mê tín đến ngày nay là bắt đầu từ người Vương Luân, người Trung Quốc bị cái bả mê tín vàng mã do Vương Luân đầu độc đến nay đã được 1847 năm (105-1952).

Đến sự mê tín của dân tộc Việt Nam, chúng ta cũng chẳng kém thế, vì chưng trước đây, người Trung Quốc đã nắm quyền đô hộ mình hơn 1.000 năm. Cho nên phong tục của người Trung Quốc thế nào người mình cũng dập theo đúng khuôn khổ như vậy, bất luận hay, dở, phải, trái, tà, chính. Đó là nguyên tính cẩu thả, phụ họa của người mình”.

Ai cũng phải công nhận tinh thần của dân tộc Việt Nam chúng ta lý do đều nhờ Phật giáo và Nho giáo đào tạo nên cả. Xin hỏi giới trí thức Việt Nam hiện tại tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào?

Nếu các ngài tìm thấy, bần Tăng này xin can tâm vào địa ngục để chịu lấy tội vong hữu.

Nếu không tìm thấy tục đốt vàng mã do Phật giáo hay Nho giao truyền dạy, một lần nữa bần tăng thiết tha yêu cầu các ngài bỏ tục vàng mã đi, lại sẽ khuyến hóa mọi người bỏ tục đốt vàng mã đi, vì tục đốt vàng mã là do Vương Dũ và Vương Luân đầu độc dân Trung Quốc làm cho dân Việt Nam chúng ta cũng bị hại lây.

Nay chúng ta cùng nhau triệt để bài trừ mê tín đốt vàng mã, quyết nhiên giữa dân tộc Việt Nam này để dành cho chúng ta viên thành một công nghiệp kiến quốc vậy.

Hòa thượng Tố Liên

Sunday, December 22, 2013

10 quy trình của GS Châu

Chiều 16/12, GS Ngô Bảo Châu, GĐ khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán đã có buổi trò chuyện với với hơn 500 nhà khoa học trẻ, SV các chương trình chiến lược của ĐH Quốc gia Hà Nội xung quanh chủ đề “Nâng cao tính chuyên nghiệp trong nghiên cứu khoa học”.
 GS Ngô Bảo Châu-cố vấn chiến lược của ĐHQG Hà Nội cho rằng tính chuyên nghiệp trong nghiên cứu khoa học (NCKH) được thể hiện ở hai điểm chính đó là quy trình và phẩm chất.
Từ kinh nghiệm, GS đúc rút và chia sẻ 10 quy trình chuyên nghiệp.
1. Xác định phạm vi, lĩnh vực nghiên cứu. Điều này phụ thuộc vào khả năng chuyên môn. Thường là lĩnh vực nghiên cứu mà người đó được coi là chuyên gia, có thành tích trong lĩnh vực đó.
Một sinh viên, người nghiên cứu mới vào nghề phải có người hướng dẫn. Cũng có trường hợp người đó có chuyên môn nhất định trong lĩnh vực khác với lĩnh vực anh ta lựa chọn. Nhưng cả 2 trường hợp đều phải có hành trang: có người hướng dẫn, xác định được hành trang để tự tin chứ không phải đi tay không đến xứ sở mới.
2. Xác định vấn đề nghiên cứu. Theo đó tìm ra câu hỏi ban đầu là chốt quan trọng.
Để tìm ra câu hỏi đúng thì cần có kinh nghiệm nghiên cứu.
Trong môi trường hiện đại, tính chuyên nghiệp cao, sinh viên tự xác định được câu hỏi là việc khó vì chưa có kinh nghiệm thì khó xác định đó có phải vấn đề thời sự không, có trong khả năng giải quyết không. Vấn đề trong khả năng giải quyết thì không còn thời sự, vấn đề thời sự thì nằm ngoài khả năng. 
Cách nhanh nhất để xác định những vấn đề nóng hổi và không tưởng là phải tham gia các hội thảo khoa học, nghe báo cáo để nắm vững các vấn đề khoa học, xem khoa học đang đi về đâu, vấn đề gì mấp mé mà sinh viên có thể làm được. 
3. Cập nhật thông tin bằng việc tìm 1cuốn sách và 10-20 bài báo xuất hiện trong 2-3 năm gần đây có liên quan đến vấn đề đặt ra, trong đó có 5 bài báo kinh điển.
Quy trình này là bước quan trọng là nên có một nhóm bạn/đồng nghiệp tham gia theo hướng tự nguyện phi vụ lợi, cùng người nghiên cứu khám phá vấn đề mới sẽ tạo nên môi trường NCKH và gắn kết mọi người với nhau.
4 Xác định hướng giải quyết vấn đề, gồm lập kế hoạch về nhân sự, tài chính bằng việc sử dụng phương pháp đương đại. Ở bước này rất cần sự minh bạch trong việc hợp tác số người cùng NCKH ngay từ đầu.
5. Giải quyết. Làm khoa học thì có rủi ro nhưng trong đầu người leader (dẫn đầu) phải lường trước những khó khăn.
6. Gói lại công việc. Ít khi thực hiện được 100%, đến 1 mức nào đó cần gói ghém lại, làm rõ những việc làm được và chưa làm được. Quan trọng là thực sự bàn về cái gì đó mới. Bước này cũng phải chỉ ra những cái chưa làm được. Đó là tiền đề cho khoa học tiếp theo.
7. Viết bài báo khoa học. Kinh nghiệm của tôi là chọn 2 - 3 bài báo cảm thấy chuẩn thì chép tay lại, mình sẽ hiểu phong cách trình bày bài báo như thế nào. 
8. Viết xong thì có thể luân chuyển, gửi bạn bè, đồng nghiệp, xin ý kiến, trình bày ở hội nghị để nhận phản hồi. Sau đó viết lại bài báo.9. Chỉnh sửa bài báo.
10. Gửi bài báo cho tạp chí. Ở quy trình này, GS Châu đưa ra lời khuyên, nên chọn ban biên tập có quan tâm và thực sự hiểu đề tài mình thực hiện. Không nên vì bài báo của mình phù hợp được dùng ở tạp chí được xếp hạng số 10 nhưng lại gửi ở tạp chí số 3 như thế sẽ mất công và mất thời gian.
Cùng với 10 quy trình, 3 phẩm chất của công trình NCKH được GS Ngô Bảo Châu đúc kết đó là: đúng và trung thực; mới; hay, quan trọng.
Trong phẩm chất mới, điều quan trọng nhất là kết quả mới và tiếp đó là phương pháp mới. Phương pháp mới được đánh giá cao khi nó tìm ra được kết quả mới.
Theo GS Châu, điều quan trọng đối với người làm nghiên cứu khoa học đó là sự liêm chính. 

Theo vietnamnet.vn

Tuesday, December 17, 2013

Tổ đình Sắc tứ Minh Tịnh (Quy Nhơn)


Trí bửu
Sắc tứ Minh Tịnh tự thuộc hệ phái Bắc tông, do Đại lão Tăng cang Hòa thượng Thích Huệ Pháp (1887 – 1975) khai sơn sáng lập vào năm 1917, tại thảo am của hai Phật tử Trừng Quế, Trừng Qui cúng cho Ngài trên đồi cát ở khu 6, thành phố Quy Nhơn để tu học. Hòa thượng đã cải tạo thảo am, xây cất thành chùa Minh Tịnh (Quy Nhơn) và hành đạo. Tổ Khai sơn là vị Pháp sư, Tuyên Luật sư bậc danh tăng thạc đức, nổi tiếng ở miền Trung, Nam phần.
Minh tư Đạo, giác tư dân, trực chỉ vân phi thiên, nguyệt lãng.
Tịnh bổn Tâm, chương bổn Phật, viên âm lôi hưởng hải, phong triều. 

image

Tổ đình Sắc tứ Minh Tịnh tọa lạc tại số 35 đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Sắc tứ Minh Tịnh tự thuộc hệ phái Bắc tông, do Đại lão Tăng cang Hòa thượng Thích Huệ Pháp (1887 – 1975) khai sơn sáng lập vào năm 1917, tại thảo am của hai Phật tử Trừng Quế, Trừng Qui cúng cho Ngài trên đồi cát ở khu 6, thành phố Quy Nhơn để tu học. Hòa thượng đã cải tạo thảo am, xây cất thành chùa Minh Tịnh (Quy Nhơn) và  hành đạo. Tổ Khai sơn là vị Pháp sư, Tuyên Luật sư bậc danh tăng thạc đức, nổi tiếng ở miền Trung, Nam phần.
Năm 1944, triều đình nhà Nguyễn (Huế) ban Sắc tứ biển ngạch chùa  Minh Tịnh và sắc chỉ khâm ban đao điệp Tăng cang cho Hòa thượng Thích Huệ Pháp. Chính tại Tổ đình Sắc tứ Minh Tịnh, Quy Nhơn vào ngày mồng một tháng 7 năm Quý Mão, Giáo Hội Phật giáo Cổ Truyền Trung phần đã tổ chức Đại giới đàn MINH TỊNH, cung thỉnh Tăng cang Hòa thượng Thích Huệ Pháp đăng đàn tái thí Đường đầu Hòa thượng truyền giới, tấn dẫn hậu lai báo Phật ân đức.
Từ sau năm 1963, do yêu cầu mở rộng sân bay Quy Nhơn, được sự đồng thuận của Tổ Khai sơn, Hòa thượng Thích Trí Giác đã cho dời chùa và xây ngôi chùa khang trang ở vị trí hiện nay.tại số 35 đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, trên diện tích khoảng một ha.
Sau khi Tổ Khai sơn viên tịch, ngày 11 tháng 11 năm Ất Mão (1975), thừa kế đệ nhị trụ trì Tổ đình Sắc tứ Minh Tịnh, Quy Nhơn (Bình Định) là Hòa thượng Thích Trí Giác, Phó Trưởng Ban Nghi lễ Trung Ương GHPGVN, Trưởng Ban Nghi lễ GHPGVN tỉnh Bình Định, trụ trì từ năm 1975 đến nay. Kể từ khi Hòa thượng Thích Trí Giác thừa kế trụ trì, Hòa thượng đã đại trùng tu phạm vũ huy hoàng, trang nghiêm tú lệ. Tổ đường được tái thiết vào năm 1995.
Tổ đình Sắc tứ Minh Tịnh, Văn phòng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Quy Nhơn hiện nay không chỉ  là nơi chư tăng Phật tử tu học, hành đạo mà còn là địa chỉ du lịch văn hóa tâm linh của thành phố cảng Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.
Thật đúng như ý nguyện của Tổ khai sơn:
 Minh tư Đạo, giác tư dân, trực chỉ vân phi thiên, nguyệt lãng.
Tịnh bổn Tâm, chương bổn Phật, viên âm lôi hưởng hải, phong triều.
Tạm dịch là:
Hiểu Đạo và làm được Đạo, ấy là ánh sáng trăng, sao đêm Rằm.
Tâm ta vượt khỏi mê lầm, rõ bày tâm Phật viên âm khắp truyền.

Đệ tử Trí Bửu lược soạn theo thư tịch Tổ đình Sắc tứ  Minh Tịnh, Quy Nhơn- tháng 12.2013


Monday, December 16, 2013

Tăng Cang Hòa Thượng Thích Huệ Pháp (1887 – 1975)

image
Trí Bửu

Đại lão Tăng cang Hòa thượng Thích Huệ Pháp, húy thượng Chơn hạ Phước, tự Đạo Thông hiệu Huệ Pháp. Thế danh Nguyễn Lộ, sinh ngày 13 tháng 8 năm Đinh Hợi (1887), tại thôn Bồ Đề, xã Đức Quang, nay là xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Thân sinh là cụ ông Nguyễn Vĩnh, một bậc lão nho tinh thông cả Dịch lý, toán số, suốt đời mở lớp gia giáo phổ biến Nho học, cả vùng Mộ Đức – Đức Phổ có đến hàng trăm môn đệ của Người, người dân Quảng Ngãi đương thời không ai là không nghe đến tên cụ; Thân mẫu là cụ bà Lê Thị Long, con của một lão nho trong làng. Ngài là con trai thứ trong gia đình bốn anh chị em, trưởng huynh mất sớm, chị cả là thân mẫu Hòa thượng Khánh Anh, bậc cao Tăng lương đống của Phật giáo Việt Nam, em gái út lập gia đình.
Thiếu thời Ngài học chữ nho với thân sinh. Ngài thường được cụ bà dắt đi chùa Cảnh Tiên gần nhà để lễ Phật và nghe Đại lão Hòa thượng Hoằng Thanh giảng đạo. Ngài cũng được cụ Nguyễn Vĩnh dắt về Tổ đình Thiên Ấn – Thạch Sơn học hỏi giáo lý của quý Đại lão Hòa thượng Hoằng Tịnh, Hoằng Thạc, Hoằng Đức. Từ nhân duyên này, Ngài được gặp và tham gia chống Pháp với nhóm cách mạng do nhà chí sĩ Trần Cao Vân và cụ Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo.
Năm Kỷ Dậu (1909), lúc 22 tuổi, Ngài xin phép song thân cho xuất gia với Đại lão Hòa thượng Hoằng Thanh tại chùa Cảnh Tiên, được Bổn sư cho thọ giới Sa di và ban pháp danh là Chơn Phước. Ngài tinh cần chấp tác học tập qui tắc thiền môn, ngõ hầu làm long tượng Phật pháp cho tương lai.
Năm Tân Hợi (1911), Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Tổ đình Thiên Ấn và là Thủ Sa di tại giới đàn này. Năm ấy Ngài 24 tuổi, được truyền Tổ ấn với pháp tự là Đạo Thông. Sau khi đắc giới, Ngài tiếp tục tu học tại Tổ đình Thiên Ấn – Thạch Sơn.
Năm Giáp Dần (1914), Ngài đi vào Bình Định để tham học với Quốc sư Phước Huệ và Pháp sư Phổ Huệ. Duyên lành đã đến, Ngài gặp hai Phật tử Trừng Quế, Trừng Qui cúng cho Ngài một thảo am tại đồi cát ở khu 6, thành phố Qui Nhơn để tu học.
Năm Đinh Tỵ (1917), Ngài được chư Sơn thỉnh làm Đệ nhất Tôn chứng Giới đàn chùa Trừng Giác, Tuy Phước, Bình Định. Uy tín và đạo hạnh của Ngài lan rộng, nhờ sự phát tâm của tín đồ nên từ một thảo am, Ngài đã xây dựng thành ngôi Tam bảo Minh Tịnh được trang nghiêm vào năm Mậu Ngọ (1918).
Năm Giáp Tý (1924), Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A Xà Lê tại Giới đàn chùa Linh Phong, Phù Cát, Bình Định. Đến năm Bính Dần (1926), Giới đàn chùa Phước Quang, Quảng Ngãi cung thỉnh Ngài làm Yết Ma A Xà Lê.
Năm Đinh Mão (1927), Ngài được thỉnh làm Chánh Ký trường Hương chùa Long Khánh, Qui Nhơn, kiêm Giáo thọ Sư cùng quý Ngài : Trí Hải chùa Bích Liên; Như Phước chùa Liên Tôn; Hoằng Thông chùa Bạch Sa, dưới quyền Chủ giảng của Quốc sư Phước Huệ. Cùng năm này, Lưỡng Xuyên Phật học đường miền Nam thỉnh Ngài vào làm Chủ giảng, Ngài đã cho Pháp sư Khánh Anh là một học trò ưu tú nhất vào đó để thay Ngài.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài được chư Sơn thiền đức tỉnh Bình Định cung thỉnh vào ngôi Yết Ma A Xà Lê trong Đại giới đàn chùa Thiên Đức, huyện Tuy Phước.
Năm Giáp Thân (1944), tức năm Bảo Đại thứ 19, Ngài được triều đình nhà Nguyễn (Huế) sắc chỉ khâm ban đạo điệp Tăng Cang và sắc tứ Biển Ngạch chùa Minh Tịnh.
Năm Ất Dậu (1945), hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Ngài tham gia mặt trận kháng chiến và được bầu làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bình Định.
Năm Đinh Hợi (1947), Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh giới đàn chùa Thiên Bình, An Nhơn, Bình Định.
Năm Đinh Dậu (1957), tại Đại giới đàn Tổ đình Nghĩa Phương – Nha Trang (Khánh Hòa), Ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đường đầu truyền giới. Cùng năm, Hội Phật giáo Tịnh độ Tông thỉnh Ngài ngôi vị Chứng minh Đại Đạo sư Trung phần.
Năm Kỷ Hợi (1959), Hội Phật giáo Cổ truyền Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử thỉnh Ngài làm Chứng minh Đạo sư Trung phần.
Năm Nhâm Dần (1962), chư Sơn thiền đức tỉnh Bình Định tổ chức Đại giới đàn tại Tổ đình Minh Tịnh, cung thỉnh Ngài tái thí Hòa thượng Đường đầu truyền giới.
Ngài là vị Pháp sư, Tuyên Luật sư chuyên giảng kinh, luật, luận cho các trường Giới, trường Hạ, trường Hương và được cung thỉnh làm Giáo thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê và Đường đầu Hòa thượng cho nhiều giới đàn khắp nơi Trung, Nam phần.
Ngài đã khai sơn và chủ trương tái thiết, trùng tu hàng trăm tự viện. Đệ tử xuất gia hàng trăm vị, có nhiều vị xuất chúng là bậc long tượng Phật pháp, lãnh đạo Giáo hội. Đệ tử tại gia của Ngài có đến hàng vạn người.
Một phần ba cuộc đời của Ngài tuy có nhiều ảnh hưởng chính trị trong công cuộc chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng nhờ giáo lý Phật đà thấm sâu, Ngài đã hiến trọn vẹn cuộc đời phục vụ cho đạo pháp.Công hạnh viên mãn, tâm ý hoan hỷ, thân không bệnh tật, Ngài viên tịch lúc 11 giờ ngày 11 tháng 11 năm Ất Mão (1975), trụ thế  89 năm, đạo thọ 65 Hạ lạp. Tháp tàng nhục cốt của Ngài ở hướng Nam Tổ đình Sắc tứ Minh Tịnh, thành phố Qui Nhơn.
Sau khi Tổ Khai sơn viên tịch, thừa kế đệ nhị trụ trì Tổ đình Sắc tứ Minh Tịnh, Quy Nhơn (Bình Định) là Hòa thượng Thích Trí Giác, Phó Trưởng Ban Nghi lễ Trung Ương GHPGVN, Trưởng Ban Nghi lễ GHPGVN tỉnh Bình Định, trụ trì từ năm 1975 đến nay.
Đệ tử Trí Bửu cung kính đảnh lễ lược soạn theo thư tịch Tổ đình Sắc tứ Minh Tịnh.
Tưởng niệm húy nhật lần thứ 38 Tổ Huệ Pháp (11.11.Ất Mão, 1975 – 11.11.Quý Tỵ, 2013)






Wednesday, November 20, 2013

Mật Ong

image
 
Nhiều người cho rằng mật ong là một trong nhiều chất dinh dưỡng quý giá nhất mà thiên nhiên đã nhờ những con ong cần cù sản xuất, ban tặng cho con người. Để tỏ lòng trân trọng, họ còn gọi mật ong bằng những cái tên văn vẻ như “bách hoa tinh”, “bách hoa cao”, “phong đường”, “phong mật”...
Mật ong đã là món ăn ưa thích của con người từ thuở xa xưa. Hơn bốn ngàn năm về trước, dân Ai Cập và Ấn Độ đã nuôi ong để lấy mật, nhưng phải đợi tới cả ngàn năm sau, người nuôi ong mới biết được là để có mật, ong phải hút chất ngọt từ nhụy hoa.
Mật ong là thực phẩm ngọt chính của con người cho tới thế kỷ thứ 15, khi đường trắng được tinh chế.Tuy vậy, ngày nay mật vẫn còn rất phổ thông vì nó làm tăng hương vị thực phẩm, làm dịu ngọt món ăn, nước uống và cũng để trị bệnh nữa.

Ong làm mật.

image
 
Mật ong được làm từ nước ngọt nhụy hoa với 20% nước và 80% đường glucose, fructose.
Ở Bắc Mỹ, đa số mật hoa là từ cỏ ba lá (clover), berry bushes, cây dại hoa vàng (dandelion).
Ong dùng lưỡi dài như một cái ống để hút mật hoa vào bao tử riêng biệt. Ong có hai bao tử: một để chứa và tiêu hóa thực phẩm và một bao tử chỉ để chứa mật hoa. Trong bao tử này, mật hoa được các diêu tố chế biến thành mật ong.

image
 
Vào mỗi sáng sớm, một vài chú ong “trinh sát” bay lượn trong phạm vi vài cây số để kiếm hoa. Chúng sẽ hút thử một số mật nhụy mang về cho các ong khác giám định phẩm chất. Khi đã quyết định mật hoa nào tốt thì cả bầy ong sẽ kéo nhau tới hút mật hoa. Việc hút nhụy không làm hại tới hoa, mà trong khi hút lấy nhụy thì ong cũng giúp hoa thụ phấn.
image
 
Để có được một bao tử đầy mật (khoảng 70mg), ong phải hút nhụy từ vài trăm đến cả vài ngàn bông hoa. Cho nên, muốn có nửa lít mật cần tới nước ngọt của cả triệu bông hoa.
Khi về đến tổ, một nhóm ong thợ khác hút lại mật hoa này, biến chế, rồi rải rộng trong những ngăn của tổ, dùng cánh để quạt cho bay hơi nước. Sau đó mật ong được tồn trữ trong khuôn gắn kín bằng sáp, để làm lương thực suốt năm. Một năm bầy ong ăn hết từ 50 tới 100 kg mật.

Các loại mật ong.

image
 
Mật ong là một chất lỏng, hơi sền sệt, từ không mầu tới mầu hổ phách vàng nâu hoặc nâu sậm như mật mía, tùy theo loại mật hoa. Phẩm chất của mật cũng thay đổi tùy theo địa phương, loại hoa mà ong hút phấn và nhụy.
Mật ong thường được thu hoạch vào mùa Xuân và mùa Hạ, buổi sáng hoặc trưa khi ong bay đi ăn xa.
Từ tổ ong, mật được lấy ra bằng máy ly tâm, diệt trùng bằng hơi nóng và hơi lạnh, lọc vẩn cặn rồi vô chai. Để tăng thêm số lượng, người làm mật có thể pha thêm đường trắng hoặc nước ngọt của bắp vào mật trước khi tung ra thị trường.
image
 
Mật ong có thể được cất giữ ở nơi khô ráo trong nhà mà không cần để trong tủ lạnh. Để lâu, mật có thể đổi sang mầu đậm nhưng vẫn không hư vì trong mật có một loại kháng sinh thiên nhiên có thể tiêu diệt các ký sinh làm hư mật. Nhưng sau khi pha loãng với nước thì mật sẽ mau lên men và mau hư như trái cây hoặc rau đậu.
Khi giữ nơi nhiệt độ lạnh, mật có thể kết tinh. Chỉ cần để trong lò vi ba hay trong nồi nước ấm độ vài phút là mật ong lỏng trở lại.

Sữa Ong Chúa (Royal Jelly).

image
 
Đây là một chất lỏng đặc sánh, mầu trắng như sữa, do những hạch đặc biệt ở cuống họng ong thợ tiết ra.
Vì thấy rằng ong Chúa nuôi bằng mật này sống lâu hơn và cơ thể to hơn cho nên Royal Jelly đã được nhiều người ưa chuộng và giá tiền rất đắt. Nhiều người tin rằng sữa ong chúa có thể “cải lão hoàn đồng”, làm hết các vết da nhăn trên mặt, nuôi dưỡng da, thuốc bổ tăng cường sức khỏe, giúp đời sống tình dục tốt. Các nhà sản xuất còn quảng cáo là sữa ong chúa chữa được các bệnh đau gan, phong thấp khớp, thiếu máu, loét bao tử...
Phân tích cho thấy sữa ong chúa cũng chỉ có thành phần hóa chất như mật ong thường mà thôi.

Giá trị dinh dưỡng

image
 
Ngoại trừ trái cây và rau đậu, mật ong là nguồn thiên nhiên quan trọng cung cấp cho con người những chất ngọt dễ tiêu.
Trong mật ong, đường chiếm tỷ lệ 80%; còn lại 20% là nước và các chất khác. Hai thứ đường chính là glucose và fructose Ngoài đường ngọt, mật ong còn chứa khoáng chất, sinh tố B, C, các chất amino acid, một ít chất đạm, vài loại men và mấy hợp chất thơm.
Mật ong thường được ăn nguyên chất với bánh mì. Cũng có thể pha mật ong với bơ hay margarin rồi phết lên bánh mì. Mật ong có thể ăn với trái cây, khoai...
Khi nấu, một vài chất dinh dưỡng trong mật bị nhiệt tiêu hủy, nên cần giữ nhiệt độ vừa phải và chỉ cho mật ong vào nồi khi món ăn đã gần chín.
Bỏ lò, mật ong thấm với các gia vị khác vào thực phẩm nên ít bị thay đổi.
Mật ong có nhiều mùi vị khác nhau, vì đôi khi ong bay xa cả trăm cây số để hút nhụy hoa của nhiều thảo mộc khắp nơi trên trái đất. Dù mùi vị có khác nhau, mật ong không mau hư, có thể cất giữ ở ngoài tủ lạnh.

Công dụng trị bệnh

image
 
Sách tham khảo The Edinburgh New Dispensatory xuất bản năm 1811 có ghi: “Từ xưa, mật ong đã được dùng như một loại thuốc rất tốt để làm long đờm, làm mềm dịu các mụn nhọt, để rửa các vết lở loét trên da”.
Tại Úc châu và Tân Tây Lan, mật ong được phép bán như một dược phẩm để trị bệnh.
Mật ong đã và đang được dùng để chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian hoặc các nhà nghiên cứu trong những trường hợp sau:

- Mật ong bồi bổ, tăng cường sinh lực, rất tốt cho người bị bệnh đang hồi phục.
- Mật ong làm bớt căng thẳng, làm thư giãn thể xác và tâm hồn.
- Trước khi đi ngủ, uống mật ong khiến giấc ngủ ngon hơn. Theo một nghiên cứu của Viện Công Nghệ Massachusetts (Massachusett Institute of Technology-MIT), chất ngọt của mật làm não tiết ra nhiều serotonin mà serotonin lại làm dịu hoạt động của não, khiến ta ngủ dễ dàng.

- Mật làm sự tiêu hóa được dễ dàng nhờ chất đường dễ tiêu glucose và fructose.
- Mật ong làm giảm ho vì thông đàm, rất tốt cho người bị suyễn, viêm cuống phổi, ho gà.
-Mật có phấn hoa nên đã được dùng để làm cơ thể quen dần với phấn hoa, tránh dị ứng theo mùa, nhất là vào mùa xuân. Đấy cũng là nguyên tắc được áp dụng để làm người dị ứng với phấn hoa trở nên quen đi bằng cách tiêm một lượng rất nhỏ phấn hoa vào cơ thể.

- Mật ong rất tốt để làm bớt đau cuống họng, làm sạch răng miệng, làm mau lành lở miệng, lở mép nhờ có chất hydrogene peroxide.
- Mật ong làm mau lành các vết thương ngoài da, có tính cách khử trùng và là hàng rào tốt để cản sự xâm nhập của vi trùng vào các vết thương.
- Các nghiên cứu ở Ấn độ cho thấy bệnh nhân bị phỏng mà được bôi bằng mật thì da mau lành hơn là chữa với thuốc trị phỏng silver sulfadiazine.

image
 
Tổ chức Y Tế Thế Giới khuyên người đi du lịch mắc bệnh tiêu chẩy uống nhiều nước cam có pha mật ong, một chút muối và một chút baking soda đề bù lại số nước và khoáng chất mất đi.
E. Haffejee and A. Moosa phổ biến kết quả nghiên cứu trên British Medical Journal năm 1985 cũng đồng ý rằng mật ong có thể rút ngắn thời gian bị bệnh tiêu chẩy ở trẻ em.
- Mật ong rất tốt cho da: Thoa trên da, mật ong làm da mịn, mềm hơn vì mật giữ độ ẩm cho da. Mật làm bệnh trứng cá mau lành; bôi lên tóc, mật làm tóc bóng mượt và mềm.

image

- Mật ong có một lượng khá cao chất chống oxy hóa tốt tương đương như sinh tố C, nên có thể làm chậm sự lão hóa và giảm nguy cơ ung thư.
Cơ quan Kiểm Soát Bệnh Tật Hoa Kỳ lưu ý là không nên cho trẻ em dưới một tuổi dùng mật ong vì cơ thể các em chưa đủ sức chống lại loại vi khuẩn gây bệnh trúng độc thực phẩm (clostridium botulinum ), đôi khi có lẫn trong mật.

Kết luận
image 
 
Những con ong nhỏ bé nhưng với khả năng tinh xảo do thiên nhiên ban cho đã tốn nhiều công sức để tạo ra món thực phẩm ngon lành, bổ dưỡng và quý giá để cho con người tận hưởng.
Nhưng dù tốt, mật ong cũng không phải là loại thực phẩm có thể thay thế cho tất cả các thực phẩm khác. Hơn nữa, nếu lạm dụng mật ong quá mức thì chắc chắn cũng sẽ có những phản ứng bất lợi cho cơ thể. Vì thế, cho dù sẵn có mật ong để dùng, chúng ta cũng nên hạn chế ở một mức độ vừa phải thì hợp lý hơn.


Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Jun 26, 2013
Báo TN dẫn nguồn cho hay, cảnh sát đã đột kích vào bốn xưởng sản xuất mật ong ở Trùng Khánh hồi tháng 4/2013, bắt giữ 5 nghi phạm, tịch thu 38 xô đựng đầy mật ong giả mạo, 500 kg mật hoa giả mạo, theo tờ South ...

May 17, 2012

The American Honey Producers Assn. said that more than 60 million pounds of Indian honey exports reached the U.S. in the first half of 2011 and that much of it is believed to have been first produced in China, then rerouted ...