Sunday, January 31, 2010

Kiến Tạo Niềm Vui

Niềm vui là một trạng thái tâm lí mà chắc rằng ai cũng từng trải qua dù nhiều hay ít. Nó là một yếu tố giúp con người sống khỏe hơn, yêu đời, yêu cuộc sống hơn và sống có ý nghĩa hơn. Niềm vui rất cần thiết cho cá nhân, cộng đồng và xã hội vì nó có thể tạo ra sự lành mạnh, an bình trong cuộc sống. Niềm vui do đâu mà có và chúng ta có thể tạo ra niềm vui hay là do ai đó ban tặng cho mình? Câu trả lời xem ra không mấy khó khăn nhưng để bao quát đầy đủ thì cũng không phải dễ. Nhân đây, bài viết xin nêu vài suy nghĩ về vấn đề này thông qua bốn khía cạnh tâm lý và thực hành. Có thể những khía cạnh này chưa thật đầy đủ nhưng cũng đưa ra những nhân tố tương đối phổ quát.

Trước hết, chúng ta nói một chút về mặt đối lập của niềm vui, đó là nỗi buồn. Nỗi buồn là tâm lí chán nản, thất vọng, cô đơn khi chúng ta mong muốn điều gì đó mà không toại nguyện hay gặp những nghịch cảnh xảy ra với ta. Nó cũng có thể là do ta mất đi những người thân, bạn bè, tài sản, hay thậm chí do tự ti, mặc cảm. Nói chung, nỗi buồn do lòng tham không được thỏa mãn và một phần do hoàn cảnh khách quan tác động.

Ngược lại với nỗi buồn là niềm vui, là tâm lí thỏa mãn, vui sướng khi đạt được sở thích nào đó. Niềm vui thật đa dạng và mỗi người đều có niềm vui riêng bên cạnh những niềm vui chung. Cũng như nỗi buồn, niềm vui cũng xuất phát từ tâm của mỗi người thông qua ý chí và hành động, cộng với yếu tố môi trường xung quanh. Tuy nhiên, yếu tố ‘chủ quan’ vẫn là cái quyết định phần lớn niềm vui cho bản thân, thậm chí ngay cả khi yếu tố khách quan luôn không thân thiện. Bốn khía cạnh có thể đem đến niềm vui như sau:

Niềm Vui Của Tham Đắm

Phần lớn con người cho rằng niềm vui là khi thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và cả tinh thần nhưng trong đó vất chất là quyết định. Thành đạt trong sự nghiệp là một niềm vui lớn và là ước mơ của nhiều người. Cho dù có khi phải trả giá khá đắt cho sự thành đạt nhưng họ vẫn an ủi cho mình bằng niềm vui đạt được mục đích ấy. Giàu sang có đầy đủ vật chất hiện đại, sang trọng là niềm vui vì có thể hãnh diện với bà con bạn bè khắp nơi. Dù rằng trong quá trình phấn đầu để đạt được mục đích này họ gặp không ít gian khổ, và khó khăn. Được hưởng thụ là niềm vui trong đó hưởng thụ sắc dục và vật dục được cho là hấp dẫn nhất và mãnh liệt nhất. Đây có lẽ là những điều cơ bản mà con người đều thừa nhận rằng nếu đạt được sẽ có niềm vui. Nó được chứng minh qua cuộc sống thực tiễn khi hầu như mọi người đang phấn đấu để giàu sang, thành đạt và bị cuốn theo sự hưởng thụ ấy. Nhìn chung, đây là loại niềm vui ở dạng ‘tâm tham đắm’ tức là mong muốn đạt được một điều gì đó, nó có thể là cái thấy được như tiền tài vật chất, nhưng nó cũng có thể là cái không thấy được như danh vọng, tiếng khen. Lắm khi, cái không thấy lại nguy hiểm hơn, đeo đuổi dai dẵng hơn và cũng chính là tác nhân cho sự đau khổ mà đôi khi người ta không thấy hay không muốn thấy. Do đó, niềm vui tham đắm được thừa nhận là có nhưng nó ngắn ngủi và chứa đựng mầm móng của nỗi buồn trong nó. Ở đây, tâm tham đắm được nhấn mạnh là nguyên nhân, hơn là chính vật chất.

Niềm Vui Xa Lìa (Viễn Li)

Trái với niềm vui của sự tham đắm thì có một loại niềm vui khác, niềm vui của sự xa lìa. Trong khi rất nhiều người trong xã hội tranh nhau để chạy theo niềm vui tham đắm dục lạc thì cũng có không ít người tìm niềm vui bằng con đường xa lìa dục lạc. Thái tử Tất-đạt-đa là một người xuất sắc nhất trong những người như thế trong lịch sử loài người. Với Ngài, có lẽ không có niềm vui dục lạc nào mà Ngài không có, nhưng Ngài thấy rằng đó là niềm vui tạm bợ, trói buộc con người nên Ngài đã xa lìa để tìm chân lí và sống đời sống viễn li. Ngài đã thành công và trở thành bậc giác ngộ, thấy rõ niềm vui hạnh phúc nhất là con đường xa lìa dục nhiễm, lìa tham đắm chấp trước. Cũng vậy, nếu nghiên cứu về các tôn giáo lớn khác chúng ta cũng thấy rằng chúa Jesus, Khổng Phu Tử hay Lão Tử cũng đều thực hành hạnh viễn li cả. Đặc biệt, chúng ta không thấy vị giáo chủ nào hưởng thụ dục lạc mà có thể thành tựu sự nghiệp giác ngộ và có thể đem an vui thật sự cho người khác.

Trong chiều dài lịch sử Việt Nam, chúng ta chứng kiến không biết bao nhiêu bậc thiền sư đạt được niềm vui giác ngộ khi sống xa lìa. Vị nổi bậc nhất phải kể đến là vị vua thiền sư Trần Nhân Tông. Ngài là bậc minh quân, bậc thiền sư khai sáng dòng thiền Trúc Lâm mang đậm ‘chất việt’ và được nhiều người quá yêu quý đã so sánh Ngài với Đức Phật Thích Ca. Con đường dẫn đến niềm vui này đã và đang có nhiều người học hỏi và thực tập. Tuy vậy cùng có nhiều người cho rằng đó là con đường buồn tẻ vì cô độc và thậm chí còn gán cho là cô đơn. Có lẽ vì do cách nhìn chủ quan cộng với thói quen tham đắm nên người ta cho rằng con đường xa lìa dục lạc là buồn chăng?! Và dù ai nói như thế nào, theo quan điểm nào thì thực tại niềm vui hạnh phúc vẫn hiện hữu trong những người đang thực hành hạnh viễn li. Đó là niềm vui của sự không chấp trước của tâm, của sự tự do của ý chí và hành động hướng đến sự cống hiến và giác ngộ giải thoát.

Nói niềm vui của sự xa lìa có vẻ cao siêu và trừu tượng quá, phải không?! Vậy thì ta hãy nói niềm vui gần gũi hơn, điều mà ai cũng có thể cảm nhận và thực hiện được.

Niềm Vui Được Nhận:

Niềm vui này chắc rằng ai cũng từng trải qua trong cuộc đời. Lúc nhỏ, khi mẹ đi chợ về ta nhận được vài viên kẹo, củ khoai hay bịch chè thì vui lắm. Khi lớn lên, chúng ta cũng vui không kém khi được nhận những món quà từ cha mẹ, anh em, bè bạn v.v... Những khi buồn ta nhận được lời an ủi động viên cũng là niềm vui. Khi ta thất nghiệp, được người giúp đỡ giới thiệu việc làm thì hạnh phúc lắm. Khi đói khát được nhận thức ăn nước uống thì còn gì bằng. Khi thiên tai bão lụt, nhận được món quà cứu trợ là niềm an ủi vì nó giúp ta vượt qua khó khăn. Trong một đời người, có rất nhiều thứ mà ta thọ nhận từ cuộc sống, từ những người xung quanh và từ môi trường sống nữa. Tuy nhiên, nhận có khi là niềm vui nhưng cũng có thể là nỗi buồn. Nó tùy thuộc vào thái độ, mục đích của sự nhận và một phần từ thái độ người cho. Nếu nhận với mục đích đáp ứng nhu cầu cần thiết và với thái độ tích cực thì đó là niềm vui. Có nghĩa là ta đang nghèo khổ ta cần sự giúp đỡ để vượt qua khó khăn, để phấn đấu sống tốt hơn trong tương lai thì được nhận là niềm vui. Ta đang đau khổ vì thất tình lục dục mà có người thân, bạn bè chia sẻ thì đó là niềm vui cần phải nhận. Thế nhưng cũng có người khi nhận không cảm thấy vui vì do thái độ người cho và do tâm so sánh, tự ty mặc cảm của bản thân người nhận. Nghĩ rằng ta bất tài vô dụng phải nhận của người khác thì người ấy không bao giờ có niềm vui khi nhận. Do vậy, nhận và nhận để làm điều gì có lợi ích thì ta nên vui hơn là mặc cảm tự ty. Những vị xuất gia (những vị khất sĩ) không phải đang nhận phẩm vật hằng ngày đó sao nhưng họ biết cách chuyển những thứ ấy thành sản phẩm khác làm lợi ích cho đời nên họ rất vui khi nhận và chính niềm vui ấy tạo phước báo cho người cúng dường. Nói cho cùng thì niềm vui phụ thuộc vào thái độ và mục đích của việc nhận. Tuy nhiên, không biết rằng khi nhận hối lộ người ta có vui không? Và nếu có thì nó thuộc về niềm vui của sự tham đắm vậy.

Niềm Vui Khi Cho

Cho hay bố thí cúng dường là hành động hiến dâng cái gì đó cho người cần nó hay đối tượng tôn kính. Cúng dường với tâm chân chính thì chắc chắn là có niềm vui. Vì nó thể hiện ý nguyện và lòng khát khao hay cao hơn là pháp tu tập của người thực hành. Cư sĩ Cấp Cô Độc rất vui khi ông được cúng dường trai tăng cho Phật và tăng đoàn nhân lần đầu tiên gặp Phật. Sau đó, ông dùng vàng lót để mua vườn của thái tử Kỳ Đà để cúng dường xây dựng tăng xá cho Phật và tăng đoàn. Hành động ấy là biểu hiện cao độ của niền vui khi được cúng dường. Cúng dường hay bố thí sẽ có niềm vui thật sự khi thái độ của người ấy vì người nhận hay nói cách khác là thể hiện tinh thần từ bi. Cúng dường Tam Bảo với thái độ thành kính và lòng biết ơn thì đó là niềm vui; còn với ý cầu mong đáp ứng thì niềm vui không trọn vẹn, lắm khi ưu sầu. Ở mức độ bình dân, chúng ta thường dùng từ cho hay giúp đỡ. Cho cũng là một nghệ thuật sống và ai biết nghệ thuật này thì sẽ có nhiều niềm vui khi thực hành hạnh ấy. Cho với thái độ kính trọng và trân quý thì niềm vui khó tả. Cho mà không có tâm mong cầu đền ơn hay không vì cầu danh thì phước báo và an vui lớn. Cho nên, ta thường nghe câu “của cho không quý bằng thái độ cho”. Nếu trân quý người khác thì khi có cơ hội giúp đỡ ta sẽ rất vui. Và nếu như niềm vui của người nhận một thì niềm vui của người cho gấp bội phần. Tinh thần Bồ tát dạy rằng: “nhờ có người nhận ta mới được cho, được hạnh phúc, và do đó ta phải cảm ơn họ.” Đọc qua câu ấy, ta thấy có vẻ ngược đời nhưng suy ngẫm sâu thì thật thấm thía.

Cho không chỉ là cho vật chất và cho không phải là điều khó khăn ta không làm được. Ai cũng có thể cho và cũng có cơ hội hưởng niềm vui khi cho. Một lời an ủi, một lời động viên khuyên cho người khác vơi bớt lo âu là ta đã cho rồi và vui rồi. Cho đến, tu tập tinh tấn đem lại an lạc cho bản thân và những người xung quanh cũng là cho đấy. Tôi xin kể một câu chuyện mà có lẽ nhiều người cũng từng gặp trong cuộc sống. Có một người ở trong hoàn cảnh khó khăn vì gia đình có người thân bị bịnh nan y. Mặc dù tiền tài vật chất có nhưng xem ra bịnh khó lành. Trong hoàn cảnh ấy, vị này cảm thấy sốc vì sự thay đổi nhanh và khủng hoảng vì sự lo âu. Thế rồi nhân duyên đưa đẩy, vị ấy gặp được một người biết Phật pháp nhưng chỉ muốn than van cho đỡ buồn thôi. Tuy nhiên, sau khi trao đổi một lúc, vị ấy cảm thấy được an ủi vì hiểu được phần nào sự thật cuộc đời và bắt đầu thay đổi thái độ sống như đã được hướng dẫn. Nhờ thay đổi thái độ, vị ấy đã đối mặt với hoàn cảnh, nỗ lực sống tích cực hơn, tạo phước báo nhiều hơn để thay đổi cuộc sống. Mặc dù hoàn cảnh chưa thay đổi ngay nhưng vị ấy đã có niềm vui do nhận ra giá trị cuộc sống và biết làm chủ cuộc sống. Quý vị có nghĩ rằng khi người nhận này có niềm vui thì người hướng dẫn họ sẽ vui gấp nhiều lần không?! Với tôi, điều đó là sự thật và tôi cũng có trải nghiệm.

Cuộc sống rất cần có niềm vui. Niềm vui ngắn hay dài, thật hay mộng đều xuất phát từ thái độ và việc làm của mỗi người chúng ta. Niềm vui của tham đắm bao giờ cũng là mầm mống của khổ đau, trong khi niềm vui ly dục là mục đích sống cao thượng mà các bậc thánh nhân khuyên dạy. Cho và nhận điều có thể đem đến niềm vui nhưng bao giờ sống vì mọi người cũng là niềm vui lâu hơn và ý nghĩa hơn. Cuộc sống đang rất cần sự đóng góp của tất cả mọi người và đó cũng là cơ hội để chúng ta trải nghiệm niềm vui. Thời gian đang tiến dần đến giờ khắc chuyển giao, và mọi người chuẩn bị đón nhận một năm mới. Bao ước mơ, bao hy vọng và niềm vui hạnh phúc đang dang tay chào đón chúng ta. Nhưng những ước mơ hy vọng hạnh phúc ấy luôn nhắc nhở chúng ta rằng để tiếp xúc với chúng thì hãy không ngừng bước tới và bước bằng những bước chân an lạc trong hiện tại. Bước chân an lạc là những bước chân vắng bóng của lòng tham lam, của tâm chấp trước và sự hận thù.

Nét Đẹp Lễ Hội Vu Lan

Hàng năm, ở nước ta có rất nhiều lễ hội được tổ chức với những đặc điểm và ý nghĩa đặc thù. Phật giáo một tôn giáo tồn tại xuyên suốt cùng với sự tồn vong của lịch sử dân tộc đã đóng góp vai trò nhất định trong nền văn hoá dân tộc. Những lễ hội Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hoá nên được quần chúng nhân dân hưởng ứng. Vu Lan là một lễ hội vừa mang tinh thần hiếu hạnh của Phật giáo vừa có ý nghĩa giáo dục đạo đức rất cao. Cho nên nó không còn là lễ hội của riêng Phật giáo mà đã trở thành lễ hội của dân tộc. Tại sao lễ hội này lại có ảnh hưởng lớn như vậy. Chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của nó như thế nào?

Vu lan là một lễ hội bắt nguồn từ Phật giáo Đại thừa. Theo kinh Vu Lan Bồn, Ngài Mục – kiền - liên vì lòng hiếu thảo muốn cứu mẹ ra khỏi chốn u đồ nên đã tha thiết thỉnh Phật dạy phương pháp báo hiếu. Từ đó về sau, mỗi năm cứ đến rằm tháng bảy là tất cả các tòng lâm tự viện đều tổ chức lễ Vu Lan để cho tín đồ và dân chúng noi gương hiếu hạnh của Ngài mà thực hành theo hầu báo đáp phần nào ân giáo dưỡng.

Vu Lan nói đủ là Vu Lan Bồn có nghĩa là giải đảo huyền, là giải cứu những người bị treo ngược, tức là cứu độ những người đang chịu đau khổ nơi ngã quỷ hay chốn địa ngục. Phàm là con người khi còn sống đều tạo nghiệp hoặc lành hoặc dữ. Nghiệp lành thì ít mà nghiệp dữ quá nhiều nên phần lớn bị đoạ lạc, chịu nhiều khổ đau. Trước cảnh đau thương của những người thân, chúng ta không ai không động lòng để làm điều gì đó cứu họ. May mắn thay, nhờ Ngài Mục -kiền- liên mà chúng ta biết được cách báo hiếu đúng đắn theo tinh thần Phật giáo mà đức Phật đã dạy.

Như vậy, lễ hội Vu Lan cũng có thể nói là lễ hội của lòng hiếu hạnh. Nó không dành riêng cho ai và không chỉ khi nào cha mẹ mất mới báo đáp. Trong kinh đức Phật dạy: “Điều thiện tối cao không gì bằng có hiếu, điều ác tột cùng không gì bằng bất hiếu”. Đạo hiếu được Phật dạy là đứng đầu trong các điều thiện, cho nên phàm là người ai cũng phải hành theo. Như Ngài Mục – kiền - liên là một bậc thánh còn thể hiện lòng hiếu bằng cách cung thỉnh chư tăng chú nguyện cho cha mẹ mình để được siêu thoát thì phàm phu há không noi gương theo sao. Lại nữa, trong kinh đức Phật cũng dạy cách báo hiếu cho cha mẹ khi còn hiện tiền thât rõ ràng. Đó là phụng dưỡng đầy đủ vât chất và hướng cha mẹ quy y Tam bảo, làm các điều thiện để khi lâm chung được nhẹ nhàng.

Từ ý nghĩa Vu Lan, ta thấy đây không phải là lễ hội chỉ dành riêng cho những người theo đạo Phật mà là của tất cả mọi người. Đạo hiếu đã trở thành một chuẩn mực đạo đức, người mà không có hiếu thì không thể làm gì cho xã hội. Do đó mà lễ hội Vu Lan đã ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng và trở thành lễ hội của cả dân tộc. Không ai bảo ai, hàng năm cứ đến dịp này tất cả mọi người như đều hướng tâm mình đến hai đấng song thân và tất cả những người thân quá cố. Có thể nói đây là một nét văn hoá rất đẹp và mang tính nhân văn cao.

Đạo hiếu vốn là đã là truyền thống của dân tộc. Trong thời đại đạo đức đang xuống dốc thì việc đưa con người quay về với cội nguồn tâm linh để ý thức được trách nhiệm và bổn phận của mình đối với đấng sanh thành dưỡng dục là việc hết sức cần thiết trong xã hội. Những cảnh tượng đau lòng từ đây sẽ giảm thiểu thay vào đó là hình ảnh kính trên nhường dưới của nếp sống lành mạnh vốn được trân trọng. Đó là nét đẹp trong một xã hội gọi là văn minh như hiện nay.

Để lễ hội Vu Lan nói riêng và tất cả các lễ hội khác được quần chúng tiếp nhận thì một mặt chính nó phải có ý nghĩa thiết thực, mặt khác cần có sự hỗ trợ của tất cả mọi thành phần, mọi giới trong xã hội, nhất là công tác truyền thông. Có như vậy thì mới mong rằng văn hoá nước nhà sẽ càng đa dạng hơn và cuộc sống con người càng có ý nghĩa hơn. Có lẽ những ai mang trong mình dòng máu lạc hồng thì tất nhiên không thể thờ ơ trước lễ hội mang ý nghĩa thiêng liêng này.

Năng Lượng Trợ Duyên

Trong sự nghiệp của một người, sự thành tựu hay thất bại ngoài yếu tố chính là sự nỗ lực của bản thân người đó, còn có vô số những yếu tố phụ khác góp phần cho ra kết quả. Những yếu tố phụ tùy mỗi người, mỗi trường hợp có khác nhau. Gia đình bạn bè, người thân, tiền bạc v.v. là những yếu tố phụ mà ai cũng trải qua trong cuộc sống. Chính những yếu tố ấy tác động và góp phần làm thăng hoa hay tha hóa cuộc sống con người.

Câu nói gần mực thì đen gần đèn thì sáng của người xưa phản ánh đúng với phần lớn những người phàm tình chúng ta. Những yếu tố vừa nêu nếu là “thiện” thì sẽ tác động tích cực hướng chúng ta đến con đường thiện dù đó là con đường nào, phương diện nào, phạm vi nào, vị trí hay địa vị nào. Còn ngược lại thì kết quả sẽ hướng theo chiều xấu ác, sa đọa, tiêu cực, chán đời yếm thế.

Vậy thì, ngoài yếu tố chính là nỗ lực của bản thân của mỗi người, những yếu tố phụ ảnh hưởng như thế nào? Có lẽ cụ thể và thiết thực nhất là lấy đời sống xuất gia làm ví dụ bởi đó là những kinh nghiệm mà chúng tôi đã ít nhiều trải nghiệm qua. Trong Phật giáo có câu nói rất hay “hổ ly sơn hổ bại, tăng ly chúng tăng tàn”. Hổ dù là một loài chúa tể sơn lâm nhưng khi rời khỏi địa bàn của chúng là nơi núi rừng thì dù có sức mạnh, có vũ khí lợi hại chúng vẫn bị thảm bại trước những đối thủ yếu hơn. Ý nghĩa này gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ để không rơi vào trường hợp tự cao, tự mãn, ỷ lại, chủ quan… Đối với loài hổ thì vậy còn đối với người xuất gia thì như thế nào?

Ca dao Việt Nam có câu: ‘một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại thành hòn núi cao’. Ba cây tượng trưng cho số nhiều thì có thể làm nên ngọn núi, làm nên một sự vững chắc mà không dễ phá hoại được. Vậy thì chữ Tăng với ý nghĩa là sự hòa hợp thanh tịnh của một đoàn thể tỳ kheo Tăng hay Ni gồm ít nhất bốn người thì sức mạnh có lẽ chúng ta có thể suy ra được vậy.

Ba cây mà mất một thì sẽ không vững, chư Tăng, Ni mà sống rời rạc không giữ được sự đoàn kết hòa hợp thì đó là biểu hiện sự suy tàn, thất bại. Nhưng như thế nào là ly chúng? Phải chăng mỗi chùa ít nhất phải bốn thầy sống chung với nhau? Tất nhiên là không thể đáp ứng yêu cầu đó nhất là ở những nơi xa xôi không đủ ‘túc số’. Vậy thì từ trên phải được hiểu như thế nào cho đúng ý nghĩa. Như đã đề cập, Tăng là sự hòa hợp thanh tịnh. Cho nên, ly sự hòa hợp, đoàn kết và thanh tịnh là ly chúng vậy.

Một vị có thể sống trong cộng đồng tăng chúng gồm nhiều người nhưng nếu sống không phù hợp với tinh thần “Tăng” thì vị ấy cũng đang ly chúng. Tuy nhiên, vị ấy sẽ có may mắn là được tác động bởi những yếu tố phụ “thiện” nên ít nhiều có thể giúp vị ấy quay về con đường mà vị ấy chọn một cách đúng đắn. Ngược lại, nếu một vị sống một mình trong một ngôi chùa dù không kề cận chúng nhưng nếu vị ấy sống phù hợp với ý nghĩa chữ Tăng thì vẫn là người bất ly chúng. Tuy nhiên, nếu không may vị ấy có tư tưởng sai lệch thì dễ đi lạc đường hơn vì các yếu tố phụ giờ đây thường hướng theo chiều “ác” và tất nhiên đưa vị ấy càng lúc càng xa lý tưởng.

Trở lại sự tác động của yếu tố phụ, với người xuất gia thì Thầy Tổ, Đàn Na là yếu tố phụ tác động dễ thấy nhất. Thầy Tổ tức những bậc đạo sư dẫn đường có vai trò quyết định rất lớn sự thành tựu của học trò và hướng họ đến con đường đúng đắn. Sự ‘giãi đãi’ nếu có của đệ tử nếu được kịp thời can thiệp động viên và giáo dục của Thầy Tổ có thể đem đến kết quả tốt. Đàn Việt những người trực tiếp hay gián tiếp trợ duyên Tam Bảo cũng đóng góp không nhỏ cho sự thành tựu của chư Tăng. Khi thọ nhận từ Đàn Việt người nhận thấy được trách nhiệm nặng nề của mình phải làm gì trước thái độ cung kính và tin tưởng của họ. Nếu khước từ thì không hợp lẽ đạo, còn thọ nhận mà không hoàn thành bổn phận thì là một sự mắc nợ khó đền. Điều đó đặt ra cho người xuất gia sự lựa chọn tiếp tục hay từ bỏ con đường của mình và khi đã chọn thì tất nhiên phải nỗ lực đi cho đúng.

Sự trợ duyên của Đàn Việt, với một số cá nhân thì coi đó là sự hãnh diện, là điều tất yếu được hưởng. Từ suy nghĩ đó, có người tỏ ra thờ ơ với trách nhiệm của mình nên sự thiệt hại dễ dàng xảy đến. Tuy nhiên, nếu vị nào ý thức rằng được sự tin tưởng và cúng dường của Đàn Việt là kết quả của sự tu tập tốt và từ đó nỗ lực phát huy thêm nhân lành thì vị ấy sẽ tiến bộ và sự trợ duyên của Đàn Việt có ý nghĩa quan trọng. Sự trợ duyên ấy một mặt là tạo điều kiện cho người xuất gia đủ duyên lành để tiếp tục mục đích hướng đạo, một mặt là nguồn động viên, là sự nhắc nhở cho vị ấy nhìn lại chính mình với những gì đã và đang xảy ra. Từ đó, vị ấy sẽ điều chỉnh thái độ, thói quen…để phù hợp với vai trò vốn phải có của mình.

Ở điểm này, người viết xin phép được nói lời tri ân đến các bậc tôn sư, những ân nhân Phật tử, những người đã tạo ra những yếu tố phụ tích cực giúp cho bản thân đi vững vàng hơn. Thái độ và sự tin yêu của quý Phật tử là món quà vô giá mà các vị đã ban tặng. Nó sẽ là hành trang để người xuất gia chúng tôi có thêm sức mạnh đi hết con đường của mình. Tất nhiên, đó cũng là quy luật nhân quả và trùng trùng duyên khởi. Do đó, không nên hiểu tu là để cầu điều đó nhưng không cầu chúng vẫn đến như trường hợp chư tôn túc trưởng thượng vì đó là nhân quả và cũng là sự mầu nhiệm của sự tu tập vậy.

Lễ Hội Ăn Chay ở Thái Lan

Hàng năm, cứ mỗi độ tháng 9 Âm lịch về, du khách đến Thái Lan đều có thể thấy cảnh các biểu ngữ lớn và vô số cờ trang trí màu vàng rực dễ gây sự chú ý được treo dọc đường nơi có các hàng quán bán thức ăn hay ngay trước các nhà hàng. Cảnh tượng này có nghĩa là Lễ Hội Ăn Chay hàng năm một lần nữa đến với mọi người trên đất Thái. Lễ hội này có nguồn gốc khi nào, hình thức tổ chức ra sao và nó mang ý nghĩa gì mà nhiều người hưởng ứng tham gia như thế? Nhận thấy đây là một lễ hội mang đậm nét văn hoá nên người viết mạo muội tìm kiếm và tổng hợp những thông tin về lễ hội này để giới thiệu đến cùng độc giả.

Lễ Hội Ăn Chay hay “Cửu Hoàng Thắng Hội” là một lễ hội của người Thái độc nhất có nguồn gốc từ một hải đảo phía nam của tỉnh Phuket khoảng 180 năm trước và dần dần lan rộng ra hầu hết tất cả các tỉnh thành trên đất Thái. Điều khá ngạc nhiên hơn là lễ hội này thật sự có nguồn gốc từ người Hoa chứ không phải từ người Thái. Lễ hội bắt nguồn từ những người Hoa nhập cư tập trung đến Phuket vào đầu thế kỉ 19 để làm việc ở các mỏ thiết, nguồn cung cấp kinh tế cho đảo. Theo các nhà sử học địa phương, và khoảng năm 1825, một bịnh dịch huyền bí đã tấn công những người thợ mỏ gốc Hoa và do đó những vị lãnh đạo đã phải họp để tìm nguyên nhân gây bịnh. Họ nhận thấy rằng các lễ nghi truyền thống của họ bị sao lãng. Do đó, họ ra lệnh cộng đồng thợ mỏ phải thực hành một kì hạn ăn chay như là một hình thức sám hối. Sau 9 ngày, bịnh tự nhiên hết một cách huyền bí như khi nó xuất hiện.

Lúc bấy giờ, không ai muốn sống đói khổ trong những ngày liền như vậy nữa nên các vị trưởng lão trong làng quyết định chọn một sự thoả hiệp. Họ phát nguyện mỗi năm vào ngày kỉ niệm này, người Hoa trên đảo sẽ thực hành một kì hạn thanh tịnh bằng cách ăn chay. Họ dâng các lễ vật cúng các vị thần và tuân giữ các điều luật một cách nghiêm ngặt bao gồm ăn thức ăn chay tịnh, không dâm dục, không uống rượu.

Cách tự khắc khổ này giống Ấn giáo nên một cách tự nhiên nó cuốn hút du khách Thái đến đảo và chính họ mang ý tưởng Lễ Hội Ăn Chay này về các tỉnh thành nơi họ sinh sống.

Theo một thuyết khác nói rằng Lễ Hội Ăn Chay là lễ kỉ niệm của những người theo Đạo giáo ở những thế kỉ trước có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc. Huyền thoại kể rằng lễ hội bắt nguồn từ thời kì dân làng bị nạn lụt lội, hoả hoạn, đói khát và Bồ Tát Quan Âm đã ứng hiện cứu dân chúng thoát khỏi nạn đó. Để tạ ơn Ngài, người dân đã thỉnh 9 vị Thần Hoàng tham gia cùng với họ để tổ chức lễ hội thanh tịnh, nhờ đó mà tội của họ và của tổ tiên họ sẽ được tiêu trừ. Như là một phần của sự thanh tịnh, các vị tham gia lễ hội phải nghiêm túc thực hành việc ăn chay. Trong 10 ngày, việc ăn thịt, trứng hay các thứ hành hẹ đều bị cấm.

Ngày nay, Lễ Hội Ăn Chay được tổ chức ở hầu hết mọi tỉnh thành trên cả nước Thái Lan. Lá cờ trang trí màu vàng rực mà ta nhìn thấy có chữ [1] màu đỏ thật lớn ở giữa. Chữ này có nghĩa là chay tịnh. Những người bán thức ăn dọc những con đường có treo cờ đều chỉ bán thức ăn chay và các nhà hàng cũng phải điều chỉnh cách thức để chế biến các món ăn không có thịt.

Ở Phuket, lễ hội được tổ chức khắp các miếu, đền, hội quán, chùa người Hoa và ngay cả các nhà hàng lớn. Những người tham gia tin rằng Lễ Hội Ăn Chay và những lễ nghi thiêng liêng sẽ đem lại cho họ nhiều may mắn. Trong thời gian 10 ngày, họ thực hành ăn chay với mục đích thanh lọc thân tâm và tạo phước. Đồng thời họ phải tuân theo 10 điều luật sau đây:

1. Giữ thân thanh tịnh trong suốt lễ hội

2. Rửa sạch các dụng cụ nhà bếp và dùng riêng biệt với các thứ khác

3. Mặc đồ trắng trong suốt lễ hội

4. Giữ thân tâm đúng phép

5. Không ăn thịt

6. Không dâm dục

7. Không uống rượu

8. Người có tang không được tham dự lễ hội

9. Phụ nữ có thai không đuợc xem các lễ nghi

10. Phụ nữ trong thời hành kinh không được tham gia các lễ nghi

Bangkok, Lễ Hội Ăn Chay được nhìn thấy rõ nhất là ở Yaowarat hay Chinatown - khu phố đặc trưng của người Hoa. Lễ hội bắt đầu vào ngày mồng 1 tháng 9 âm lịch với những lễ nghi giống như lễ nghi ở Phuket. Trong suốt 10 ngày, ngoài việc ăn chay, họ còn sắm sửa rất nhiều lễ vật để dâng cúng các vị thần và tụng kinh cầu an cho gia đình cũng như cầu siêu cho tổ tiên. Một số nơi còn cung thỉnh chư tăng đến để tụng kinh trong suốt 10 ngày. Ngoài ra, họ còn tổ chức diễu hành ruớc hương đăng dọc theo các con đường vào một đêm đã định trước. Dịp này, họ cũng tạo phước bằng việc bố thí phát quà cho dân chúng nghèo hay phóng sanh chim cá.

Ở một số nơi, nhất là ở Phuket bên cạnh việc thực hành các lễ nghi và ăn chay tịnh như truyền thống, họ còn tổ chức các hình thức vui chơi giải trí như hát nhạc kịch, múa lân, múa rồng. Đặc biệt, hình thức lễ hội có tên gọi là “Ma Song” với những trò biểu diễn thật rùng mình. Họ dùng vật nhọn đâm qua mặt, mũi v.v. mà không bị thương tích gì cả. Các hình thức này chì mang tính dân gian giải trí.

Lễ Hội Ăn Chay không chỉ giới hạn ở khu người Hoa mà nhiều người Thái và ngay cả người ngoại quốc cũng vui thích thay đổi để ăn chay. Thật sự thì các du khách được thông tin trước về lễ hội để họ có thể lên chương trình tham quan Thái Lan trùng với dịp này.

Trước ngày lễ hội, người ta đã chuẩn bị đồ chay thay cho thịt. Thông thường họ chuẩn bị các sản phẩm làm từ đậu hủ giàu chất protein. Trong suốt 10 ngày lễ hội, ước tính việc bán thịt giảm 70% so với ngày thường.

Các món ăn trong suốt lễ hội không thiếu món gì và rất thú vị. Tất cả các món ăn Thái đuợc ưa chuộng đều có sẵn nhưng chỉ thay đổi khác một chút. Thay vì súp tôm cay thì có súp chay cay, thay vì cà ri gà thì có cà ri đậu hủ…

Lễ Hội Ăn Chay là một trong những dịp cho du khách tham quan Thái Lan tốt nhất mặc dù nó rơi vào mùa mưa. Vào dịp này các tiệm ăn và nhà hàng thi nhau trổ tài nấu các món ăn Á châu quen thuộc và hấp dẫn vốn có của nó. Nhìn chung lễ hội vừa mang tính lễ hội vui chơi sinh hoạt vừa mang tính văn hoá giáo dục nhất là trong xã hội Á châu.

Hạnh Chơn (tổng hợp)



[1] Chữ này có âm Hán Việt là trai có nghĩa là chay tịnh, tiếng Thái là jeh, đọc là chê