Wednesday, April 10, 2013

Thừa hưởng gia tài Phật giáo



Là Phật tử, có lẽ ai cũng biết là đạo Phật do đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập và truyền bá ở đất nước Ấn Độ cách đây hơn 26 thế kỷ. Suốt 45 năm thuyết pháp, chân lý do Phật giảng dạy được xác định là nhằm đem lại lợi ích, hạnh phúc, và an lạc cho chư Thiên và loài người.[1] Nói cách khác, đạo Phật là vì mọi người, cho mọi người chứ không phải cho riêng thành phần cá nhân nào. Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp ấy được hàng đệ tử tiếp tục duy trì và phát triển khắp đất nước Ấn Độ và khắp năm châu như hiện nay bằng cách thực hành và phổ biến đến những người người chưa biết. Sự nghiệp hoằng pháp như thế không phải và không thể chỉ một mình Tăng bảo thực hiện, mặc dù Tăng bảo là thành phần cốt yếu trong hàng đệ tử đức Phật. Bài biết này sẽ trình bày về sự thừa hưởng gia tài Phật giáo và trách nhiệm tự nguyện trong việc duy trì và bảo vệ gia tài ấy. Bài viết sẽ đề cập bốn vấn đề có liên quan với nhau.
Gia tài Phật giáo không phải của riêng ai
Như phần giới thiệu đã đề cập, Phật giáo không phải là tài sản độc quyền của riêng cá nhân nào. Chân lý Phật giáo được chứng đạt và truyền bá cho tất cả những ai hữu duyên. Đức Phật chưa từng tuyên bố Ngài độc quyền chân lý về mặt thể nghiệm và tận hưởng. Giáo pháp Tứ Diệu Đế và các giáo pháp cốt lõi khác được Phật thể nghiệm phát minh ra và truyền dạy cho các đệ tử. Nếu bất cứ ai thực hành đúng các giáo pháp ấy thì đều có thể trải nghiệm sự an lạc hạnh phúc như chính đức Phật. Hạnh phúc tối hậu trong Phật giáo được gọi là cứu cánh Niết bàn được đức Phật đề cập trong rất nhiều bài kinh.[2] Tất cả những vị A-la-hán được xác định trong kinh điển đều trải nghiệm được hạnh phúc Niết bàn, tức sự an lạc khi đã dập tắt hết tham, sân, si.[3]
Ở mức độ phàm phu, việc nương tựa tam bảo, thực hành năm điều đạo đức, thập thiện, giáo lý nhân quả có thể đem lại lợi ích, an lạc thiết thực hiện tại và tương lai. Đó là sự bình an trong cuộc sống hiện tại và sau khi chết được tái sanh cõi lành.[4] Không ai có thể ngăn cản kết quả đạt được khi chúng ta tu tập các giáo pháp trên một cách đúng đắn. Đặc biệt, phương pháp thiền định ở mức độ căn bản có thể giúp làm điều hòa thân tâm, cứu lành sự đau của thân và nỗi khổ của tâm. Thực tập thiền làm giảm căng thẳng, lo âu, phiền muộn, … và giúp điều phục tâm. Từ đó, con người có thể đối thoại nhau bằng ngôn ngữ dễ nghe, thương yêu và chia sẻ. Những phương pháp như thế ai cũng có thể thực tập được bất luận là theo tôn giáo nào, chủng tộc nào, già hay trẻ, nam hay nữ, và cả giới thứ ba.
Đức Phật nhập diệt nhưng giáo pháp vẫn còn giá trị nguyên vẹn và xứng đáng làm thầy dẫn đường cho hàng hậu thế.[5] Tăng bảo tuy có lúc thịnh lúc suy, cá nhân Tăng Ni có lúc thực tập thành công, có khi thất bại nhưng gia tài Phật giáo không phải thế mà giảm giá trị về bản chất. Bởi vì Phật giáo không phải của riêng ai, bản chất của giáo pháp không hề phụ thuộc vào một tổ chức hay cá nhân nào, mặc dù tổ chức hay cá nhân là hình ảnh minh họa sống động của giáo pháp. Do đó, hãy cẩn trọng và không nên đánh đồng Phật giáo với một số cá nhân Tăng Ni để rồi mất niềm tin vào chánh pháp. Hậu quả của nó sẽ là sự thất bại chung: tăng đoàn mất tín đồ ủng hộ nên việc tu tập đóng góp trí đức cho đời bị ảnh hưởng, cư sĩ tại gia mất cơ hội thực tập giáo pháp vì bất mãn từ bỏ, không thân cận học hỏi các vị minh sư khác, Phật giáo suy yếu vì mất đồng thuận giữa các chúng, và xã hội ít nhiều bị ảnh hưởng xấu bởi thiếu người tu tập. Do vậy, đừng để bị đánh lừa vì thiên kiến ấy và trách nhiệm trước hết thuộc về tăng bảo.
Trách nhiệm hàng tăng bảo
Tăng bảo là biểu hiện sống động của chánh pháp. Đó là trách nhiệm trước tiên và trên hết của hàng xuất gia. Hoàn thành trách nhiệm ấy không gì khác hơn là thực hành chánh pháp đúng đắn. Sự chứng ngộ của hàng xuất gia là lý tưởng để giữ gìn chánh pháp tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, khi sự chứng đắc trở nên khó đạt hoặc khó nhận biết thì ít nhất hàng xuất gia cũng phải là biểu tượng của đạo đức. Bởi vì, hình ảnh Tăng Ni có ảnh hưởng nhất định đến niềm tin của tín đồ Phật tử nhất là những vị đến với đạo Phật vì tín ngưỡng.
Hàng xuất gia còn có trách nhiệm quan trọng nữa là hoằng pháp. Đây là nhiệm vụ được xác định ngay khi tăng đoàn được thành lập.[6] Đúng ra, chánh pháp được truyền bá phải giống nhau về cơ bản. Tuy nhiên, thực tế lại có các quan niệm khác nhau về đạo Phật. Khi nghe hàng cư sĩ thường khen tặng quý Tăng Ni tụng kinh, đọc sớ hay; cúng kiến thật kỹ lưỡng; giỏi về phong thủy, ngày giờ thì chúng ta có thể biết là Tăng Ni đang phổ biến đạo Phật tín ngưỡng. Hàng cư sĩ phải đáng được hướng dẫn về giá trị của chánh pháp bên cạnh phục vụ tín ngưỡng. Sự hứa hẹn dùng phương tiện để giáo hóa lâu nay vẫn còn bỏ ngõ nên hàng cư sĩ chưa thấy được giá trị đích thực của chánh pháp. Do đó, họ trở nên thích cúng bái, cầu xin, thần tượng Tăng Ni thay vì Phật và chánh pháp. Điều nguy hại của nó là nếu nhỡ thần tượng sụp đổ thì họ không biết chánh pháp để nương tựa và vì vậy xa lìa sự tu tập. Đó là điều đáng tiếc xảy ra đây đó hiện nay.
Một Tăng Ni nào đó phạm giới hay nội quy thì tất yếu bị xử theo giáo luật. Họ có thể bị phạt sám hối hay cao nhất là buộc hoàn tục. Đó là bản án thích ứng họ phải chịu. Tăng đoàn, tất nhiên, cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng vì thiếu nghiêm khắc, nhưng nhân đó, tăng đoàn điều chỉnh tốt hơn. Đây là quá trình giáo dục được thực hiện từ thời đức Phật đến nay. Tăng Ni phải truyền bá cho hàng cư sĩ hiểu nguyên tắc Phật dạy này để họ thấy được giá trị của giáo dục, và biết thể hiện tâm khoan dung khi thực hiện giáo dục. Hàng cư sĩ có quyền chỉ trích Tăng Ni khi họ phạm giới nhưng mục đích của nó phải nên là để chỉnh đốn và xây dựng. Khi vụ án đã xử lý đúng luật thì sự chỉ trích nên khép lại. Đó là cách hành xử của những người hộ pháp đích thực. Nhân cơ hội một vị Tăng Ni nào đó phạm lỗi để công kích Phật giáo và từ bỏ thực hành chánh pháp thì thật là không nên. Nhiệm vụ này thuộc về hàng cư sĩ.
Vai trò hàng cư sĩ
Hàng cư sĩ là thành phần không thể thiếu trong ngôi nhà Phật pháp. Người cư sĩ ngoài việc hộ trì cho Tăng Ni đời sống vật chất còn có trách vụ bảo vệ tăng đoàn. Cúng dường vật chất thì hầu như cư sĩ ở đâu cũng sốt sắng nhưng bảo vệ tăng đoàn thì chỉ có ở các nước Phật giáo Nam tông như Thái Lan, Lào…Hàng cư sĩ trở nên thờ ơ với việc bảo vệ tăng đoàn như vậy là một điều không tốt cho Phật giáo và đó là biểu hiện của sự chưa đồng thuận trong các chúng của đức Phật. Tình trạng này có thể giải quyết khi có sự phân định rõ ràng vai trò của Tăng Ni và cư sĩ, cũng như thẩm định và công nhận rõ ràng tinh thần Bồ tát nhập thế.
Duy trì cộng đồng Phật giáo cần vai trò của hàng cư sĩ. Trước nay, hàng cư sĩ đều cho rằng trách vụ duy trì Phật pháp là ở Tăng Ni. Điều đó đúng nhưng chưa đủ bởi nếu hàng cư sĩ không thực hành bổn phận người cư sĩ thì nhân sự đâu kế thừa. Hàng cư sĩ trước hết là duy trì nồi giống và tiếp nối đạo truyền thống của cha ông. Một gia đình mà từ trên xuống dưới đều là Phật tử thì gia đình ấy đang duy trì cộng đồng Phật giáo. Tiếc thay, rất nhiều gia đình tự xưng là Phật tử nhưng không làm được điều này. Ông bà, cha mẹ tự xưng là Phật tử nhưng không dám quy y, không dám thừa nhận tư cách Phật tử thì làm sao con cháu noi gương. Đây là sự mất mát của Phật giáo nói chung và của chính bản thân các gia đình nói riêng. Không là Phật tử nên không hiểu giáo pháp, không biết tu tập để chuyển hóa khổ đau. Đó không phải là gánh nặng cho gia đình, cho xã hội hay sao?! Nếu cho rằng làm Phật tử hiểu và hành trì chánh pháp không đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình thì chí ít cũng không ảnh hưởng xấu nào đến đời sống người cư sĩ. Huống chi, sự thật minh chứng rõ ràng là rất có lợi ích. Vậy thì tại sao rất nhiều Phật tử không dám thừa nhận tư cách của mình?! Có lẽ một phần là do Phật giáo chủ quan, thụ động và thiếu nhân sự có năng lực để truyền thụ chánh pháp. Cộng đồng Phật giáo suy giảm bắt nguồn từ đây.
Hàng cư sĩ góp phần duy trì chánh pháp. Phật giáo tại Ấn Độ bị diệt vong nhiều thế kỷ vì không có tăng đoàn và hàng cư sĩ không duy trì Phật giáo. Nếu như hàng cư sĩ tiếp tục hành trì lời Phật dạy và biết hộ trì chánh pháp như tín đồ các tôn giáo khác thì có lẽ Phật giáo không đến nỗi mất hết dấu tích nơi đất Ấn nhiều thế kỷ. Tăng đoàn có thể bị giết chết nhưng hàng cư sĩ thì không. Họ có thể giữ đạo bằng nhiều cách mà không ai có thể cấm được. Đáng tiếc là không mấy ai có tinh thần ấy. Ở Việt Nam, Phật giáo trải qua nhiều thăng trầm nhưng chưa mất vì suốt chiều dài lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có thể sống chung, dù cũng có lúc cạnh tranh. Thế nhưng, khi các tôn giáo độc tôn bắt đầu tấn công để cải đạo thì sự tồn vong của Phật giáo đáng được đặt ra. Trách nhiệm của Tăng Ni là tất yếu vì họ đã phát nguyện dấn thân. Tuy nhiên, nếu không có hàng cư sĩ vì đạo Phật, biết giữ gìn truyền thống gia đình theo đạo Phật, biết hướng dẫn con cháu theo đạo gốc, thì dù Tăng Ni có nỗ lực kết quả cũng khó đạt được như ý. Phật giáo là tài sản chung lẽ nào chỉ phó thác cho một chúng.
Điều kiện phát triển Phật giáo bền vững
Như vậy, giải phảp đặt ra là phải tìm cách phát triển Phật giáo bền vững. Thăng bằng là điều kiện để duy trì và phát triển một tổ chức như Phật giáo. Con chim muốn bay cao, bay xa cần phải có đôi cánh cân bằng và khỏe. Phật giáo muốn phát triển thì hai chúng phải đồng thuận nhau, cùng chia nhau trách nhiệm chung. Để đạt được mục đích ấy thì không gì khác hơn là hãy làm đúng chức năng của mỗi giới (tu sĩ và cư sĩ).
Tăng Ni phải quay về công việc thực hành và truyền bá chánh pháp thay vì chỉ phục vụ tín ngưỡng. Trong khi một vị Tăng hay Ni có thể thuyết một thời pháp để giáo hóa cho vài chục, vài trăm, vài ngàn người và nhiều hơn thì nghịch lý lại xảy ra là nhiều Tăng Ni tập trung lại chỉ để độ một người chết mà không ai dám chắc kết quả ra sao. Một người nói nhiều người có thể nghe chứ nhiều người nói làm sao một người nghe. Có ai từng đặt câu hỏi hương linh ấy nghe ai và nghe như thế nào không!? Thật sự tín ngưỡng đã ăn sâu và vô hình trung biến Phật giáo thành đạo tín ngưỡng. Có lẽ, Tăng Ni phải nên quay về độ người sống, giúp họ hiểu rõ tinh thần nhân quả của Phật giáo và thực hành đúng giáo lý ấy thì khi họ ra đi không cầu họ vẫn siêu.
Phật giáo rất cần sự hy sinh của chư tôn đức Tăng Ni. Phật giáo xưa nay mạnh là nhờ sự tu tập nhất là từ hàng xuất gia. Một hội chúng xuất gia làm biểu tượng đạo đức rất cần thiết trong thời đại ngày này. Nên chăng, các trụ sở giáo hội từ trung ương đến địa phương phải được đưa về đúng vị trí và chức năng của nó. Chư tôn đức trưởng lão hãy hy sinh chùa chiền riêng của mình để cùng tụ hội về sống chung trong các cơ sở giáo hội ấy dưới bậc thầy chánh pháp. Ở đó, mọi Phật sự đều thực hiện theo tinh thần yết ma thay vì cá nhân như ở chùa. Một mặt, chư tôn đức dễ dàng tập trung cho công tác Phật sự; mặt khác, làm biểu tượng cho hàng tứ chúng quay về nương tựa tu học. Làm được như thế thì lý nào hàng cư sĩ mất niềm tin nơi tăng bảo.
Hàng cư sĩ cần củng cố vai trò hộ pháp của mình. Trước hết, hàng cư sĩ nên tham vấn Tăng Ni để xác định rõ đâu là tín ngưỡng, đâu là đạo Phật nguyên chất để từ đó hạn chế dần niềm tin tín ngưỡng cầu xin và tu tập đúng pháp. Thứ hai, khẳng định tư cách Phật tử của mình và hướng cả gia đình theo truyền thống Phật giáo. Có như vậy vai trò cư sĩ của mình mới phát huy hiệu quả, bằng không thì cũng như ‘gió chiều nào ngã theo chiều đó’. Thứ ba, không đánh đồng Phật giáo với Tăng Ni hay giáo hội. Bởi vì, Tăng Ni hay giáo hội có thể thay đổi còn Phật giáo hay chánh pháp thì không hề đổi thay về giá trị cứu khổ của nó. Hãy thừa hưởng gia tài Phật giáo vì nó nào phải của riêng ai!


[1] Kinh Tương Ưng I, tr.128.

[2] Kinh Tứ Niệm Xứ, Trung Bộ I; Kinh Bất Động Lợi Ích, Trung Bộ III;

[3] Nyanatiloka, Từ điển Phật học, tr. 106.
[4] Kinh Tăng Chi V, số 33,145,171.
[5] Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ 16.
[6] Tạng Luật, Đại Phẩm I, chương 1.

Sunday, March 17, 2013

PHÁP ẤN PHẢI CÓ NIẾT BÀN

Điều thứ hai đại chúng được học là trong ba Pháp ấn của đạo Bụt phải có Pháp ấn Niết bàn. Nhiều vị kinh sư của Thượng tọa bộ đã bị ám ảnh bởi ý niệm về khổ cho nên đã thay thế Pháp ấn Niết bàn bằng Pháp ấn Khổ. Kinh Chiên Đà (Channa), kinh 262 của bộ Tạp A Hàm, còn giữ lại được nguyên vẹn công thức của ba Pháp ấn: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh (anityāh sarvasamskārāh, nirātmānah sarvadharmāh, santam nirvānam). Công thức này được lặp lại tới năm lần trong kinh này. Kinh Channa của tạng Pāli cũng nói tới chuyện thầy Channa đi cầu Pháp, nhưng đã bỏ mất Pháp ấn thứ ba là Niết bàn, tuy nhiên không dám thêm vào pháp ấn Khổ, sợ nói nếu tất cả các pháp đều là Khổ thì như thế là vơ đũa cả nắm, cho các pháp Tứ diệu đế, Bát chánh đạo v.v... của Bụt cũng là Khổ. Đó là lời giải thích về sau của các tổ Thượng tọa bộ.
Tam Pháp ấn là ba dấu ấn rất quan trọng trong Phật pháp. Thiếu Pháp ấn thứ ba là Niết bàn thì giáo lý không thể đích thực là giáo lý của Bụt.
Trên bình diện Tích môn ta thấy có sinh diệt, không, có người tạo nghiệp người thọ báo, có pháp hữu vi pháp vô vi, nhưng trên bình diện Bản môn thì ta phải thấy được tự tính của các pháp là không sinh không diệt, không có, không không, không tác giả không thọ giả, không hữu vi cũng không vô vi. Đó là lời Bụt dạy trong các kinh Ưu Đà Na và Như Thị Ngữ: có cái vô sinh, vô hữu, vô tác và vô hành. Thật tướng của các pháp là vô thường và vô ngã nhưng thật tướng của các pháp cũng là Niết bàn, do đó Niết bàn có thể tìm thấy trong sinh tử chứ không phải ngoài sinh tử. Truyền thống Bắc tông còn giữ lại được ba pháp ấn nguyên vẹn, và chính bộ Đại Trí Độ Luận của thầy Long Thọ cũng xác nhận ba pháp ấn là vô thường, vô ngã và Niết bàn. Chính công phu quán chiếu về Vô thường và Vô ngã đưa tới sự tiếp cận Niết bàn tức là thể tính bất sinh bất diệt của vạn pháp.
Vô thường không làm ra khổ
Tứ diệu đế bắt đầu bằng xác nhận sự có mặt của khổ đau, nhưng không phải Tứ diệu đế chỉ nói về khổ đau. Sự thực (đế) thứ ba là Diệt, có nghĩa là sự vắng mặt của khổ đau (nirodha) cũng có nghĩa là sự có mặt của sự lắng dịu và của hạnh phúc, kể cả hạnh phúc của Niết bàn. Nhưng cái ám ảnh về Khổ đã làm khuất lấp sự thực ấy, cho đến nỗi người ta có khuynh hướng cho tất cả là Khổ, quên mất trong cái tất cả ấy có Bụt, có Pháp, có Tăng, có con đường đi về Niết bàn an lạc. Những cái ấy đâu phải là khổ cho nên nói tất cả là vô thường vô ngã thì đúng mà nói tất cả là Khổ là không đúng. Cái ám ảnh này do thái độ giáo điều cố chấp mà có. Nó đi cả vào trong kinh văn và trong phép hành trì. “Đạo nhân thanh cố khởi” nghĩa là nếu thành đạo được cũng do mình lặp đi lặp lại cái công thức “idam dukkhan ti”, “cái này là khổ, cái này là khổ.” Phải than khổ như thế nhiều lần trong ngày thì mới mong thấy được con đường Bát chánh đạo. Vì vậy khổ là thức ăn nuôi Bát chánh đạo (dukkhāhāro maggangam maggapariyantanti).
Đoạn kinh sau đây, được lặp lại cả mấy trăm lần trong các bộ Nikaya và A hàm, là một chứng tích của cái ám ảnh đó được đưa vào trong kinh tạng, chỉ một vài trăm năm sau khi Bụt nhập diệt:
- Này các thầy Khất sĩ! Các thầy nghĩ sao? Sắc là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Thọ, tưởng, hành và thức là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Vậy thì những gì vô thường là khổ hay là lạc?
- Bạch đức Thế Tôn, khổ.
- Vậy thì những gì vô thường, khổ, luôn luôn biến dịch ấy, mình có thể nói rằng: cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là cái ngã của tôi không?
- Bạch đức Thế Tôn, không.
(Tương Ưng Bộ, 22.59)
Theo tinh thần của đoạn kinh văn này, vô thường là nguyên do của khổ đau. Sự thực không phải như vậy. Vô thường có thể là nguyên do của giải thoát, của an lạc, của hạnh phúc. Thử hỏi: nếu không có vô thường thì hạt bắp làm sao trở thành được cây bắp cho ta có trái ăn? Nếu không vô thường thì một người có bệnh không bao giờ được chữa lành, một chế độ độc tài không bao giờ được trở nên dân chủ, một phiền não không bao giờ được chuyển hóa để trở thành một bồ đề.
Nguyên do của cái khổ không phải là vô thường mà là cái tri giác sai lầm của ta về sự vật: sự vật vô thường mà ta cứ cho chúng là thường cho nên ta khổ. Uẩn, xứ và giới là vô thường và vô ngã, nhưng vì chúng ta cho chúng là thường, vì chúng ta vướng mắc vào chúng cho nên chúng ta khổ. Nói vô thường là nguyên do của khổ đau là vu oan cho Bụt. Vô thường là một cái thấy giúp ta tiếp cận được với vô ngã, với duyên sinh và sau đó với Niết bàn. Vô thường rất mầu nhiệm. Đó là một ngón tay chỉ cho ta thấy mặt trăng. Nó là cứu tinh của ta.
Thấy được như thế, ta có thể phục hồi được nguyên ý của Bụt, bằng đoạn kinh văn sau đây:
- Này các vị khất sĩ! Các thầy nghĩ sao? Sắc là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Thọ, tưởng, hành và thức là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn, vô thường.
- Vậy thì những gì vô thường ấy, luôn luôn biến diệt trong từng sát na ấy, ta có thể gọi chúng là những cái ngã không? Ta có thể nói rằng: “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi” không?
- Bạch đức Thế Tôn, không.
- Này các vị khất sĩ! Quán chiếu về vô thường, về vô ngã, người hành giả sẽ đạt tới cái thấy duyên sinh, trung đạo, không sinh diệt, không có không, không tới đi, không thường đoạn, đó là Niết bàn, là sự lắng dịu, là giải thoát mọi niềm đau, là niềm vui cứu cánh.
Đọc đoạn kinh văn tân tu này ta thấy mọi chữ mọi câu đều có tính liễu nghĩa, không đưa lại cảm giác tiêu cực, bi quan và sự hiểu lầm như khi ta đọc đoạn trước. Vì vậy phục hồi được tam Pháp ấn rất quan trọng. Với sàng lọc tam Pháp ấn ta có thể tóm bắt được rất nhiều con sâu rọm từ bên ngoài đưa vào và từ sự bất cẩn trong quá trình truyền thừa đưa xuống. Hễ trùng tụng sai lầm một lần là sự sai lầm trở thành đồng bộ, giống như trong máy tính. Cho nên có không biết bao nhiêu là sai lầm và mâu thuẫn trong đại tạng. Vì thế chư tổ đã căn dặn: y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan. Bụt đã bị oan nhiều rồi, ta phải sử dụng những phương pháp khoa học như khảo cổ học và văn bản học để minh oan bớt cho Ngài.
 TS Thích Nhất Hạnh
(Trích Lá Thư Làng Mai 36- 2013)

Monday, March 4, 2013

Thiếu trí tuệ, con người nhìn nhận méo mó về lễ hội

Lễ hội không phải để vui chơi hay cầu xin, cúng bái

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền, lễ hội ngày nay đã bị biến tướng, mất đi nhiều giá trị tốt đẹp vốn có.

“Con người đang nhìn nhận sai lầm về lễ hội, dẫn đến những ứng xử sai lầm” – ông khẳng định.

Theo phân tích của ông, lễ hội gồm hai phần: Phần lễ và phần hội. Cái lễ mà rất nhiều người đang hiểu, thực sự không phải là lễ mà là cúng bái. Thực tế lễ hội không phải hướng đến cúng bái. Cúng bái chỉ là thuộc tính của một lĩnh vực thuộc lễ chứ không phải chiếm toàn bộ của lễ. Vì lễ hội đã bị người ta hiểu lầm giữa “lễ” là cúng bái” và “hội” là vui chơi nên dẫn đến hành xử sai lầm.

Không có một nghĩa nào của chữ “hội” là vui chơi cả. Chữ hội chỉ mang một nghĩa “là tập hợp một cộng đồng nhất định nào đó”. Lễ hội là tập hợp một cộng đồng để thực hiện những điều về lễ. Vậy thì “lễ” là vấn đề chính trong “lễ hội” chứ không phải là cái “hội”.

“Suy cho cùng, lễ hội là giáo dục con người đi đến đích là yêu thiên nhiên đồng nội, yêu cộng đồng và đỉnh cao là tinh thần yêu. Lễ hội kéo con người ra khỏi tính cá nhân để trở về với cộng đồng, cho nên mới có câu “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc nhà…. “Thánh” ở đây là văn hóa, là tinh thần chung chứ không phải là một ông thần vu vơ ban lộc theo cách nhìn hèn hạ bây giờ” – ông chia sẻ.

Chứng kiến việc người dân lên chùa, đi lễ hội để cầu cúng, ông khẳng định tất cả đều do họ không hiểu được bản chất của lễ hội, không tìm hiểu về những thứ mà mình đang tin, đang hướng đến.

Ông giải thích: “Rõ ràng, lễ hội không phải là dịp để con người cúng bái, cầu xin. Chính vì không hiểu được bản chất lễ hội nên người ta còn coi hội là trò chơi. Ít ai chịu tìm để hiểu được, thực ra những trò diễn trong lễ hội đều gắn với thiên nhiên vũ trụ bảo vệ con người. Sự thiếu hiểu biết khiến nhiều lễ hội biến tướng, méo mó như hội trọi trâu, trọi gà đều nhuốm màu trần tục.

Cái lễ, ít nhất trong lễ hội, nổi bật lên 4 ứng xử cơ bản: Một là ứng xử với thần linh, theo nhận thức rõ ràng của người Việt: Thần linh là một thứ công cụ tinh thần cao cả, vì con người mà tồn tại, là điển hình của Chân – Thiện – Mỹ. Hai là ứng xử với cộng đồng. Ba là ứng xử với tông tộc họ hàng và thứ Tư, là ứng xử với chính mình.

Qua lễ hội, con người tự nguyện thoát thân phận cố hữu của mình là tính cá nhân, đi làm việc làng, tìm lấy chỗ đứng của mình trong cộng đồng, tìm vinh quang ở làng xã. Không có vinh quang ấy, ko có hoạt động ấy thì cuộc sống của con người trở nên tẻ lạnh vô cùng. Con người sẽ cô đơn giữa rừng người, trở thành bơ vơ trong một tế bào lớn là cộng đồng làng xã. Ngoài ra còn có những mối quan hệ khác như là quan hệ với thiên nhiên, vũ trụ và nhiều lĩnh vực văn hóa khác nữa…”

Đừng “đem rác rưởi của trần gian ùa vào cõi thiêng liêng”

Cho rằng, bằng những hành xử thiếu hiểu biết của mình, một bộ phận người dân đang “đem rác rưởi của trần gian vào cõi thiêng liêng”, nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền khẳng định: “Nếu không dùng trí tuệ để hiểu thì con người chỉ nhìn thấy trong lễ hội những trò chơi và gắn với mê tín dị đoan, mọi ước vọng đều gắn với cá nhân, tầm thường. Những giá trị tinh thần trong lễ hội bị méo mó dẫn đến nhiều sai trái, tai họa”.

Sai trái, tai họa này chủ yếu đến từ những bộ óc thực dụng, hèn kém vật chất hóa lễ hội, làm mất đi tinh thần cao đẹp vốn có của lễ hội.

Nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền nhấn mạnh, những bộ óc thực dụng kiểu này thường phổ biến ở những thành phần có tiền, “phất” lên nhờ khủng hoảng tất yếu trên con đường phát triển của xã hội. Chính những kẻ có tiền, với niềm tin mê muội, hèn kém và không có trí tuệ làm bệ đỡ đã đua nhau bôi nhọ thần linh bởi sự mù quáng của họ.

“Người ta lấy cúng bài để cầu xin làm trọng, dẫn đến nảy sinh, phát triển ý thức “trần sao âm vậy”, “tốt lễ dễ thưa”, cúng đồ mặn, thắp hương vô tội vạ, gài cả tiền vào tay, nhét cả tiền vào mồm Phật, bẻ tay bụt, cướp đồ lễ làm của riêng cầu những điều xấu xa, ẩn thiện của riêng mình.

Suy cho cùng, đó chính là việc đem rác rưởi của trần gian ùa vào cõi thiêng liêng. Thần linh nào chịu được hàng trăm bài khấn của hàng trăm gia đình đều giống nhau? Thần linh nào chịu được cả bó hương đốt sặc sụa, nghi ngút?”
Theo vietnamnet.vn

Friday, February 1, 2013

Vị đắng cô đơn?

Từ hai tháng gần đây, xuất hiện làn sóng dư luận về quan điểm của ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Cà phê Trung Nguyên về Starbucks cùng với việc chính thức có mặt tại Việt Nam của tập đoàn này.
Cách trích dẫn cắt đoạn, giật “tít” của người viết về các phát biểu của ông Vũ về Starbucks tạo nên những luồng ý kiến trái chiều khá sôi nổi nhưng nếu chỉ có thế thì người ta chưa thấy toàn thể về nhân vật nổi tiếng này.
Nếu theo dõi ngôn hành của ông Vũ từ gần mười năm qua – nghĩa là trước rất lâu hành động xâm nhập thị trường Việt Nam của Starbucks- người ta sẽ thấy liền mạch các quan điểm chính của ông mà từ lâu đã vượt qua chuyện mua bán cà phê bình thường.
Qua khá nhiều diễn đàn, nhiều sự kiện trong và ngoài nước, với nhiều lần phát biểu, nhiều bài tham luận về các đề tài khác nhau nhưng tựu chung ông Vũ nêu bốn ý kiến chính yếu có tính liên kết có thể tóm tắt: một hoài bão – ba tinh thần.
Một là hoài bão về nước Việt hùng mạnh, thịnh vượng có thể ảnh hưởng đến thế giới. Ông Vũ bằng những lập luận đã nỗ lực chứng minh người Việt hoàn toàn có đủ điều kiện để làm được chuyện to tát ấy và bước đầu là phải có khát vọng mãnh liệt.
Ông khơi dậy hoài bão của mình thông qua các diễn đàn “nước Việt ta lớn hay bé”, “Người Việt sử dụng hàng Việt”, “ Sáng tạo vì khát vọng Việt”… Ông ta và cộng sự bày tỏ hoài bão của mình cụ thể bằng các chiến lược kinh tế, mô hình công nghệ mới có thể thúc đẩy phát triển đột phá, đưa đất nước phú cường.
Hai là tinh thần sáng tạo, ông Vũ và cộng sự luôn cổ động cho tinh thần sáng tạo mà ông gọi là sáng tạo có trách nhiệm, xem sáng tạo là phương thế giúp cho người Việt có thể xóa bỏ những khoảng cách đang có về thành tựu khoa học công nghệ đối với các cường quốc. Gần đây, nghe nói Trung Nguyên đang chủ xướng chương trình “sáng tạo – khởi nghiệp” hướng về thanh niên, phải chăng cũng là ước muốn xây dựng thế hệ thanh niên sáng tạo để kiến tạo đất nước thịnh vượng.
Ba là tinh thần doanh nhân, theo ông Vũ các quốc gia cường thịnh trên thế giới nhờ xây đắp tinh thần doanh nhân, đó là ý chí làm giàu cho bản thân góp phần làm giàu cho xã hội, đó tư duy lấy kinh tế làm trọng tâm để kiến tạo phồn vinh.
Cuối cùng, cũng là quan điểm mà dư luận hay trích dẫn các phát biểu của ông Vũ, là tinh thần chiến binh, đó là tinh thần tranh đua không ngán ngại trước mọi đối thủ dù có sức mạnh vật chất to lớn, ý chí kiên định đến ngày thắng lợi mà ông và cộng sự đã thể hiện qua cuộc chiến với Nestle.
Mặc dù, có một hệ thống lý luận, những lý lẽ khá đầy đặn, sở hữu một công ty cà phê số một tại Việt Nam, có những thành tựu đáng kể trên thương trường, có được đây đó sự ủng hộ trong nước và cả quốc tế. Nhưng chuyến này, khi đối đầu với Đế chế Starbucks thì ông Vũ và cộng sự sẽ không thể nào chiến thắng. Có thể đưa ra kết luận này từ các lý do hiển nhiên sau đây.
Sức mạnh vật chất của Đế chế toàn cầu
Doanh số ròng hàng năm của Starbuck gấp bốn lần doanh số toàn ngành cà phê của của quốc gia số một cà phê thế giới là Việt nam, với 16,863 quán cà phê mang tên Starbucks trên toàn cầu (chưa kể các thương hiệu khác thuộc tập đoàn này).
Có lẽ tất cả doanh nghiệp kinh doanh trong ngành F&B (thực phẩm – ăn uống), đặc biệt ngành cà phê Việt Nam đều nhận thức rõ sức mạnh khủng khiếp này, nên có thể họ đã kinh hồn bạt vía im bặt tăm tiếng hoặc giả họ đang lặng lẻ để tìm cách thỏa hiệp “chung sống hòa bình” với Đế quốc Mông Cổ trên lĩnh vực kinh doanh F&B?
Ngó quanh chỉ còn đơn độc một người, ông Đặng Lê Nguyên Vũ, khi ông ngang nhiên thách thức Starbucks bằng những luận điểm có thể thắng được Starbucks được báo giới “trích ngang” thành những câu nói trứ danh gây nhiều tranh cãi. Nếu chú ý xâu chuỗi lại các bài nói chuyện, bài viết của ông ta thấy hệ thống quan điểm của ông đối với các tập đoàn cà phê đa quốc gia đã vượt tầm tương tranh trên thị trường đối với một đối thủ cụ thể. Ông Vũ nêu rõ ràng, sau hơn một thế kỷ cà phê có mặt tại Việt Nam, cho đến nay khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu số một về sản lượng thì ngành cà phê Việt vẫn ở vị trí tệ hại nhất trong phân đoạn thấp kém nhất của chuỗi giá trị toàn cầu với doanh số tạo của ngành cà phê Việt Nam với hàng triệu con người không bằng 1/4, 1/5 doanh số một tập đoàn như Starbucks, Nestle.
Quá thương cho ông Vũ và đồng đội dù nhận chân mặt thật của các đế chế kinh doanh và đã nỗ lực rất nhiều để kêu gọi mọi người nhận diện để tìm ra kế sách kinh tế - văn hóa cho đất nước để có thể nhập cuộc chơi toàn cầu mà vẫn bảo đảm vị thế nhưng hình như là không có kết quả hồi đáp.
Nay chỉ còn đơn độc Trung Nguyên đối diện với sức mạnh toàn cầu của một Đế chế đầy quyền thế, ông Vũ và cộng sự sẽ ra sao?
Sự quy phục của giới tinh hoa
Từ hơn 10 ngày nay (tháng 1/2013), tại ngã sáu trung tâm Sài Gòn, nàng tiên cá Starbucks chói lọi, mỉm cười ngạo nghễ đối diện với bức tượng Phù Đổng Thiên Vương cũ kỹ. Hình ảnh Starbucks tại Sài gòn khiến ta liên tưởng hình tượng người thực dân đã chinh phục các bộ lạc thổ dân bán khai mấy thế kỷ trước bằng công thức “da trắng – súng hỏa mai – sự cộng tác của thầy mo bản địa” đã khiến hàng hàng lớp lớp thổ dân cúi mình thần phục vì cho rằng “người trời đã xuống”.
Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hóa, Starbucks còn có lợi thế hơn người thực dân ngày xưa, với công thức “ biểu tượng Mỹ - sức mạnh tài chính – sự ngưỡng mộ cư dân bản địa” họ đã khuất phục được ngay từ trong não phần của giới được xem tinh hoa, có trình độ học thức, có dịp đi đây đó, tiếp xúc để biết đại danh “Starbucks”, được có dịp nếm thử Starbucks và đã sùng kính Starbucks ngay khi Starbucks chưa kịp đặt bước chân chinh phạt đến nước sở tại.
Do đó, giới tinh hoa, tầng lớp có ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng, vốn đã tôn thờ những thương hiệu mang tính biểu tượng cho giá trị ngoại thì nay chắc chắn rất sẵn lòng quy phục khi Starbucks chính thức xuất hiện tựa như “thần tử thấy long nhan”. Họ sẽ rất sẵn lòng biểu thị sự thần phục tự động này một cách uyên bác thậm chí đầy thuyết phục nhằm dẫn dụ các tầng lớp quần chúng như ta thấy qua các bài viết có vẻ khách quan nhưng đầy minh chứng cho sự sùng bái thế lực hùng mạnh của Starbucks.
Sự quy phục tự giác đối với đế chế Starbucks của tầng lớp tinh hoa vốn có ảnh hưởng tâm lý quần chúng sẽ là chiếc gậy thần thông giúp Starbucks dẹp bỏ những giá trị biểu tượng nội lực, khỏa lấp tiếng nói trái chiều mà không tốn một viên đạn. Thêm vào đó là sự “độ lượng” của giới tinh hoa bản địa với kẻ chinh phục. Họ rất dễ quên cho câu chuyện chuyển giá để trốn thuế, câu chuyện nước thải phá hỏng môi sinh cả dòng sông, câu chuyện độc chiếm vùng nguyên liệu ép giá cà phê của các tập đoàn biểu tượng cho giá trị văn minh …
Người tiêu dùng thành con tin
Tại Việt Nam, chắc không mấy khó hình dung cảnh tượng khách hàng đủ mọi lứa tuổi xếp hàng dài dọc theo tường khách sạn New World tại Sài Gòn hoặc con đường sang trọng nào đó tại Hà Nội dưới trời nắng gắt của phương Nam hay mưa phùn buốt giá miền Bắc để có được cốc Starbucks. Nhưng quan trọng hơn Starbucks bán cho người tiêu dùng các nước đang phát triển biểu tượng “sành điệu”, “quốc tế”, “sang”.
Vậy Starbucks đâu phải chỉ bán sản phẩm thuần, họ cung cấp những giá trị ảo ẩn tàng đằng sau sản phẩm đó chứ. Người tiêu dùng Việt liệu có thể tránh trở thành con tin của Đế chế Starbucks để đổi lấy những giá trị huyễn hoặc xuất phát từ tâm lý sính ngoại cộng với tâm thế nhược tiểu vốn ăn sâu trong huyết quản không?
Hình như lại chỉ có ông Vũ – Trung Nguyên. Ông không nói với người tiêu dùng “hãy uống cà phê Trung Nguyên đi” mà ông luôn nói về những điều vượt qua kích cỡ bình thường của marketing. Ông nói về nghĩa vụ của mỗi người trong bảo vệ và mở rộng “biên giới mềm” của hàng hóa, của biên cương văn hóa quốc gia trong cuộc chiến toàn cầu hóa hiện nay.
Ông thường nhấn mạnh đó là cuộc đấu tranh giữa tự cường kinh tế và nô lệ tiêu dùng, giữa tự chủ tư tưởng và nô dịch văn hóa ngay trên đất nhà. Bên cạnh lời nói, ông cùng cộng sự đã cố gắng phát động các chương trình như “ Thanh niên sáng tạo- khởi nghiệp- xây dựng đất nước” với mộng ước xây đắp phồn vinh cho cộng đồng.
Trong lúc ông Vũ và cộng sự đang lao tâm khổ tứ bồi đắp những giá trị vượt tầm quá xa so với các loại chiến lược marketing nhằm gia tăng thị phần, doanh số mà báo giới thường đề cập, thường so sánh giữa Trung Nguyên- Starbucks. Thì Starbucks hình như đang rảnh tay để thủ thắng bằng việc quảng bá những giá trị ảo tưởng để chiếm hữu doanh số ròng và chế ngự toàn phần tâm thức của người tiêu dùng xứ nhược tiểu.
Tóm lại, viễn cảnh thua thiệt đang bày ra rõ rệt với ông Vũ và cộng sự trước Starbucks. Vì ông không thể chỉ tập trung vào cuộc đấu với tập đoàn Starbucks khổng lồ. Nhưng, ông và đồng đội lại phải đơn độc đối đầu với sự quy hàng tự giác những giá trị ảo giác đến từ phương Tây, sự vô cảm trước những giá trị quốc hồn-quốc túy do tinh thần nhược tiểu đã thấm sâu trong tâm thức cộng đồng. Và càng thương thay khi ông Vũ và cộng sự lại không tỏ dấu hiệu từ bỏ những khát vọng và con đường phụng sự cộng đồng mà ông đã chọn từ rất lâu trước khi cái tên Starbucks được nói đến tại Việt Nam.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Phan Gi đang sống ở Pháp. nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese

Monday, January 14, 2013

Buồn vui chuyện tặng quà



Ngày xưa khi còn bé ở quê nghèo, tôi cũng như bao trẻ thơ khác háo hức chờ đợi ngày Tết đến. Đối với trẻ nghèo chúng tôi, món quà Tết chỉ là một bộ đồ mới thậm chí có khi là đồ sửa lại từ đồ cũ của anh, một cái nón (mũ), và đôi dép mới. Quà Tết của chúng tôi thường chỉ có thế. Về việc ăn uống, mặc dù gia đình cũng sắm sửa đủ món theo phong tục gồm bánh, mức đủ loại, đồ kho mặn lạt…nhưng có lẽ chúng tôi còn nhỏ nên không quan tâm lắm. Với riêng tôi, niềm vui Tết là được nghe tiếng pháo và được đốt pháo, và tất nhiên được nhận bao lì xì nhưng thật ra cũng chẳng mấy ai lì xì. Quê nghèo là thế.

Nói về pháo tôi lại nhớ về nó và cũng nhớ về cách sống . Khi pháo chưa bị cấm, cận Tết là tha hồ nghe tiếng pháo nổ phát đi từ các đám cưới, đám tất niên. Và rồi, nhà nào cũng cố gắng tìm mua một phanh pháo đốt cho vui nhà, vui cửa lúc giao thừa hay sáng mồng một Tết. Nhà tôi thì có năm có pháo có năm không có vì pháo không phải do mua mà do người ta biếu. Ba tôi làm nhân viên hợp tác xã nông nghiệp, lương không đủ sống có đâu mà dư ra để mua pháo. Má tôi thì tiết kiệm nên không bao giờ chi tiền cho khoảng chi phí này. Thế nên, tôi chỉ biết trông đợi vào quà biếu của người khác mà thôi.

Ba tôi không giàu tiền bạc nhưng lại giàu tình cảm. Ông có thể bỏ bê gia đình thiếu thốn nhưng lại rất ‘xộp’ với bạn bè và người xóm giềng. Chơi với bạn bè, ông không bao giờ tính toán so đo. Những lúc không có đồng nào trong túi ông cũng cố gắng mượn hay chịu nợ để vui vẻ với bạn bè rồi sau đó kiếm trả lại cho người ta. Sự vui vẻ với bạn bè của ông chỉ là lai rai vài xị rượu đế giải sầu, rồi tán dóc chứ không phải ăn chơi gì ghê gớm. Ông có cái tật là không bao giờ uống rượu bia một mình. Rượu bia để trong tủ cả năm ông cũng không đụng tới nếu không có bạn bè đến thăm. Vì tính hòa đồng với bạn bè nên ông được nhiều người quý mến. Do đó, quà biếu mà tôi nói trên là xuất phát từ tình cảm này. Và từ khi ấy, tôi biết đến món qùa biếu Tết. Nó là phẩm vật thể hiện tình cảm con người với nhau trong mối quan hệ bạn bè, làng xóm.

Sau này lớn lên, tôi sống trong một môi trường khác và tôi lại có dịp cảm nhận lại sự biếu quà. Sự biếu qùa lúc này không chỉ đơn thuần là phẩm vật để sử ngay trong dịp Tết mà còn có thêm kim tiền, và mục đích của nó không chỉ là tình nghĩa con người với nhau mà còn là sự mưu tính, đổi chát. Do đó, bên ngoài chúc tụng cười vui hớn hở mà trong lòng không biết rằng mỗi bên đang suy nghĩ gì. Sự biếu quà, vì thế, trở nên biến tướng và làm mất ý nghĩa cao đẹp của nó. Đó là lý do nhà nước nhiều lần ra văn bản ‘cấm biếu quà’ dịp Tết nhưng mà làm sao hết được tình trạng này khi cơ chế xã hội không chịu thay đổi. Cấm kiểu này thì nó biến thành kiểu khác, tinh vi hơn mà thôi. Vả lại, biếu quà theo cách như tôi kể ở trên là nét văn hóa đẹp trong cách cư xử thì sao lại bị cấm. Như vậy, cái gốc của vấn đề là phải làm sao tạo ra cơ chế xã hội tốt để con người sống tốt với nhau, tin tưởng nhau, và biết thể hiện ân nghĩa lẫn nhau.

Thời phong kiến ở nước ta, người dân thường mang quà biếu các quan, hay quan nhỏ biếu quà cho quan lớn. Dụng ý của họ có thể là để tưởng nhớ đến công ơn của những bậc được xem là ‘dân chi phụ mẫu’, nhưng cũng không tránh khỏi trường hợp là để mua chức tước hay lấy lòng quan để thực hiện mục tiêu nào đó. Lịch sử hiếm khi ghi lại hình ảnh quan trên biếu quà cho các quan nhỏ hay các lính phục vụ.

Nếu như các quan hết lòng vì nước vì dân, không có của dư nhiều thì sự biếu quà thật sự là vì tình nghĩa và các quan đáng nhận phẩm vật ấy. Tuy nhiên, khi các quan giàu có, tiền của quá nhiều mà luôn nhận quà biếu của kẻ dưới nhưng lại không hề quan tâm tặng lại họ thì sự biếu tặng này không thể hiện tình nghĩa con người. Hiện tượng này rất phổ biến trong xã hội ta ngày nay.

Năm nào cũng vậy, cứ Tết đến là Thầy tôi tất bật chạy tiền để sắm phẩm vật đi tặng biếu các cơ quan, thầy bạn, và không quên nhân viên, đệ tử. Tôi kính trọng tấm lòng bao la của Thầy nhưng cũng không khỏi đượm buồn cho thời thế. Lễ nghĩa hình thức nặng nề đã làm nhạt nhòa ý nghĩa nhân văn vốn có của sự tặng biếu. Vì đâu nên nỗi?!

Lùm xùm Tết ta, Tết tây



Tết dương lịch theo truyền thống lịch Tây. Người Tây chỉ có Tết này nên họ được nghỉ nhiều ngày (tùy theo quốc gia) để người dân đón Tết, du lịch, v.v là đương nhiên. Nhưng thật ra, ở Mỹ, người ta chỉ được nghỉ 1 ngày lễ Tết thôi. Những người muốn nghĩ nhiều ngày thì xin phép và bị trừ vào thời gian nghỉ được cho phép theo quy định. Riêng, học sinh, sinh viên được nghỉ nhiều ngày vì thời gian này trùng với thời gian nghỉ sau 1 học kỳ (semester).

Việt Nam cũng như nhiều nước khác hội nhập với thế giới để hợp tác làm ăn nên ta cũng nghỉ vào Tết này cũng là dễ hiểu. Vấn đề là tại sao ta không nghỉ chỉ 1 ngày mà phải nghỉ lâu như thế. Lý do chỉ vì chúng ta ăn theo để được du lịch, kích thích mua sắm là chính. Hãy tự hỏi bao nhiêu phần trăm dân số Việt Nam có làm ăn với nước ngoài và bị ảnh hưởng bởi Tết này. Tại sao Tết của họ mà họ chỉ nghỉ có 1 ngày, còn ta thì đòi nghỉ nhiều ngày?

Về hội nhập, tại sao người Tây không lấy ngày Tết âm lịch là một ngày nghỉ cho tất cả người dân để thể hiện sự tôn trọng và giao lưu văn hóa lẫn nhau giữa Đông và Tây. Số người ăn Tết âm lịch cũng gần bằng 1/3 dân số thế giới. Tôi tin rằng khi Châu Á mạnh lên về kinh tế, điều này sẽ xảy ra thôi.

Như vậy, thay vì nghỉ Tết dương lịch nhiều ngày thì ta nên chỉ nghỉ 1 ngày (học theo đúng cách người Tây) và bù lại nghỉ Tết ta nhiều ngày hơn (nếu cho là hợp lý). Nếu cho rằng nghỉ Tết ta nhiều ngày làm nghèo đất nước thì cứ làm một cuộc điều tra xem có đúng không rồi mới quyết định thay đổi. Tất nhiên, có quy định cũng chỉ với các công chức nhà nước, và các cơ quan chứ nông dân thì ai có thể quy định ngày nghỉ đối với họ. Ngay cả ở Mỹ, các công ty cũng có quyền quyết định ngày nghỉ riêng của họ cơ mà.

Dân tộc Việt Nam hội nhập nhanh nhưng rồi hòa tan vào văn hóa của người khác lúc nào không hay biết. Hãy nhìn cách ăn, mặc, hưởng thụ thì đủ thấy ta mất bản sắc của ta thế nào. Đáng tiếc nhất là, cái hay của họ thì ta không học. Sự ý thức, lịch sự văn minh của người Tây rất đáng để chúng ta học hỏi thì chúng ta phớt lờ làm ngơ và chẳng thèm để ý. Hãy đòi hỏi thay đổi những thứ này hơn là đòi hỏi thay đổi về bề ngoài.

Nói tóm lại, Người Việt nên suy nghĩ cách đón Tết, ăn Tết, chơi Tết của ta như thế nào cho phù hợp, đẹp và có ý nghĩa hơn là cứ chạy theo người Ta hoài để rồi rốt cuộc chẳng còn gì để mất.

Nếu so sánh với người Nhật thì ta hãy so sánh tinh thần dân tộc của họ trước. Tinh thần dân tộc của người Việt, theo thiển ý của tôi,  không bằng 1/100 của họ. Đố có 1 nhà hàng Việt Nam nào có thể tồn tại trên đất Nhật và được người Nhật ủng hộ. Tôi không ủng hộ thái độ cực đoan này nhưng đó chính là một trong những biểu hiện tinh thần dân tộc của họ. Từ đó, chúng ta suy nghĩ tinh thần dân tộc của họ thế nào ở những lĩnh vực khác.

Nhân đây, Tôi nghĩ người Việt nên suy nghĩ lại về văn hóa dân tộc của mình. Chúng ta nên nghiên cứu đánh giá đúng mức các loại hình văn hóa hiện có để xem loại nào đáng kế thừa và phát huy, loại nào cần phải từ bỏ. Lễ hội giết mỗ…mà gọi là văn hóa thì thật là phi văn hóa, phi nhân đạo. Mong thay!

Wednesday, January 9, 2013