Sunday, September 11, 2011

Nỗi đau và niềm an ủi

Ngày 11/9/2011, đài CNN của Mỹ đã truyền trình trực tiếp Lễ kỷ niệm 10 năm, ngày tòa tháp đôi - Trung tâm thương mại lớn nhất của Mỹ cũng như thế giới bị không tặc tấn công, phá hủy và cướp đi gần 3000 sinh mạng của công dân nhiều nước. Lần lượt, các thân nhân đến trước công chúng đọc tên của những nạn nhân trong vụ tấn công và bày tỏ lòng yêu thương và tiếc nhớ cũng như cầu nguyện Chúa phù hộ cho các nạn nhân và đất nước Mỹ.

Hầu như mọi người trên toàn thế giới, trừ những người khủng bố, bất kể là tôn giáo, màu da, sắc tộc, nam nữ…đều bày tỏ niềm cảm thông và chia sẻ nỗi đau mất mát đối với các nạn nhân và gia đình của họ. Đó là một thứ tình cảm thiêng liêng vượt qua mọi rào cản chủ nghĩa, giáo điều, rất cần thiết cho cuộc sống đầy bất ổn, chia rẽ ngày nay. Tình cảm thiêng liêng ấy có thể ví như là chất liệu an ủi cho con người nói chung và gia đình nạn nhân nói riêng.

Sự kiện thương tâm và chấn động thế giới xảy ra cách đây 10 năm, khi những đứa con ngỗ nghịch của Chúa vì lòng thù hận sâu nặng; vì ý chí trả thù bị nhồi sọ ngay từ khi còn thơ bé;…và đặc biệt vì lòng tin ngây ngô, mù quáng sẽ mau về với Chúa sau khi hoàn thành phi vụ thảm sát, đã không ngần ngại sát hại những người anh em cùng Cha – những đứa con của Chúa không thương tiếc.

Trong lịch sử, người Cha này đã đau khổ nhiều vì cảnh anh em chém giết lẫn nhau và ngày hôm ấy (11/9) mãi đến hôm nay lại tiếp tục chứng kiến nhiều ảnh tượng tương tự như thế. Tuy nhiên, có lẽ cảnh tượng ngày 11/9 là đau thương nhất trong thời hiện tại vì gần 3000 sinh mạng vô tội đã bị chết oan, chết mà không biết tại sao và cũng chưa kịp nói lời từ biệt với người thân. Trong khi những đứa con khóc lóc và cầu xin người Cha phù hộ, chắc chắn người Cha cũng đau khổ không kém nhưng không biết làm cách nào để ngăn cản những đứa con ngỗ nghịch mù quáng bớt gây thêm tội ác vì đã lỡ hứa.

Có nhiều người hỏi, nếu Cha đã là toàn năng có quyền quyết định tất cả thì tại sao Cha lại sinh ra những đứa con ngỗ nghịch làm gì để anh em tương tàn, tương sát. Đã có rất rất nhiều lời giải thích nhưng không sao lý giải thỏa đáng câu hỏi hóc búa ấy. Và có giải thích cách nào đi nữa thì sự thật vẫn cứ xảy ra, cảnh tang thương vẫn cứ tiếp tục, và chính các con của Cha mới là người đau khổ.

Giờ này mọi người đang đau khổ và đang cầu nguyện Chúa ban phước lành. Những đứa con lành và những đứa con hư đều tin Chúa và cầu nguyện như nhau. Lẽ nào người Cha lại thiên vị ban phước bên này, ghét bỏ bên kia. Nếu phe của những đứa con nghịch thắng (tức giết được nhiều người) thì có phải Cha đang ban phước cho họ đó chăng? Những đứa con lành sẽ đau lòng lắm nếu mà biết đó là sự thật. Còn ngược lại thì cũng không vui vẻ gì, phải không Cha?!

Những đứa con lâu nay tin Cha và luôn quy mọi thứ vào Cha; luôn cầu nguyện và mong được Cha ban phước. Đó là niềm an ủi của tụi chúng con.

Cha nếu thật sự tồn tại sẽ nghĩ gì đây. Cha có dám nói với các con rằng Cha luôn là chỗ dựa vững chắc của các con nhưng mọi thứ không phải là Cha quyết định mà là ‘luật nhân quả’ quyết định không?! Ngày nào Cha nói được câu ấy là ngày hạnh phúc lớn nhất đối với Cha và niềm an ủi thật sự ý nghĩa nhất đối với các con. Ngày ấy, những đứa con của Cha sẽ không lợi dụng danh nghĩa của Cha mà gây đau thương cho những người anh em vì ánh sáng chân lý đã mở bày, niềm tin mù quáng lên thiên đàng sẽ không còn chỗ bám víu. Chân lý ấy chính là nhân quả báo ứng, nhân lành quả lành, nhân ác quả ác. Rất mong thay!

Phát triển Tông An Nam ở Thái Lan: Cơ hội và thử thách

Tông An Nam là tông phái Phật giáo Bắc truyền ở Thái Lan có nguồn gốc từ Việt Nam và từ An Nam là tên gọi trước đây của Việt Nam. Theo các sử liệu nghiêu cứu, tông này được hình thành vào thời kỳ khởi nghĩa Tây Sơn – Nguyễn Ánh, tức hơn 200 năm trước. Lúc bấy giờ, ở Việt Nam do tình hình chính trị và xã hội bất ổn, nhiều người Việt đã chạy sang Thái Lan (tức nước Xiêm lúc bấy giờ) để lánh nạn và tìm cuộc sống mới. Được sự ưu ái của các vua Thái, cộng đồng người Việt được phép thành lập, được cấp đất cho làm ăn sinh sống, và từ đó những ngôi chùa Việt cũng dần dần được xây dựng để phục vụ cho nhu cầu đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt và cả người địa phương. Tông An Nam khởi thủy từ đời vua Rama IV, nhưng chính thức được công nhận và cho phép sinh hoạt từ đời vua Rama V đến ngày nay.

Trải qua thời gian hơn 200 năm, tông An Nam đã phát triển được 19 ngôi chùa trên nước Thái trong đó Bangkok chiếm 7 ngôi. Số lượng chư tăng thuộc tông An Nam hiện nay khoảng 400 vị. Sự thành tựu Phật sự của chư tổ tại ngoại quốc như thế là một thành công đáng trân trọng. Tiếp nối sự nghiệp của chư tổ, các thế hệ sau không ngừng nỗ lực để duy trì và phát huy tông phái. Trong bối cảnh hiện nay, khi nền khoa học kỹ thuật phát triển, nhu cầu hưởng thụ vật chất của con người tăng cao, cộng với việc giao thương giữa Việt Nam và Thái Lan trở nên bình thường, thì tông An Nam cần phải có chiến lược để thích ứng và phát triển lâu dài. Đó là cơ hội và cũng là thử thách của tông này. Ta thử tìm hiểu những yếu tố là cơ hội và đâu là thử thách để định ra hướng đi thích hợp.

Cơ hội:

Thái Lan là nước có số tín đồ Phật giáo chiếm khoảng 95 phần trăm. Điều đó cho thấy số người thuần thành và tôn kính đạo Phật chiếm tỉ lệ rất cao so với các nước khác. Đây là một lợi thế lớn để Phật giáo nói chung và tông An Nam nói riêng có thể đóng góp vai trò của mình cho xã hội trong nhiều lĩnh vực như sau:

Giáo dục:

Hiện nay tông An Nam chỉ có hai trường Phật học, một trường phổ thông ở Bangkok đào tạo chư tăng thuộc tông phái và một trường thuộc chi nhánh của Đại học Mahachulalongkorn ở Hatyai. Cùng với sự phát triển xã hội, nhu cầu giáo dục đang ngày càng tăng. Do đó, nếu đủ nhân sự tông An Nam có thể xin phép mở trường đào tạo cho cả chư tăng và cư sĩ nhằm phục vụ nhu cầu học tập và xây dựng vị thế của tông phái trong lòng xã hội.

Từ thiện xã hội:

Đặc điểm nổi bậc của Phật giáo Bắc truyền là “Phật pháp bất ly thế gian giác” nhằm nói tinh thần nhập thế của đạo Phật. Cho nên, tông An Nam có thể phát huy nhiều hơn vai trò của mình thông qua công tác từ thiện. Công việc này có thể thực hiện tốt vì khả năng tài chánh các chùa tại Bangkok tương đối dồi dào. Thông qua sự bố thí, chia sẻ lòng từ bi, chư tăng có thể khơi dậy trong tâm những người nghèo khó hình ảnh tích cực của Phật giáo và tông phái.

Hướng dẫn tu học:

Xã hội ngày càng phát triển nhưng đồng thời khủng hoảng tinh thần cũng tăng theo. Cho nên, nhu cầu tu học của hàng Phật tử là rất lớn. Việc mở các khóa tu học hàng tuần cho cư sĩ là điều hoàn toàn có thể thực hiện được. Cộng với các kênh phát thanh hiện có, các chùa có thể giảng dạy Phật pháp cho tín đồ để tạo sự liên hệ gắn bó và trợ giúp họ trong sự tu học. Ở đây, vì đa số là người Hoa nên pháp môn Tịnh Độ kết hợp với Thiền sẽ thích hợp.

Thách thức:

Tuy nhiên để thực hiện được những cơ hội trên đòi hỏi tông phái phải phấn đấu, nỗ lực, kiên trì mới có đủ khả năng vượt qua những thử thách có thể nói là rất lớn hiện nay.

Ngôn ngữ:

Trước khi nói về vấn đề khó khăn này thiết nghĩ ta cũng nên khâm phục và kính trọng chư vị tổ sư, những bậc thầy đã giữ gìn và truyền thừa đến ngày hôm nay. Trải qua hơn 200 năm, đọc tụng kinh điển bằng âm tiếng Việt vẫn được hành trì hằng ngày. Đó là một điều đáng được ghi nhận và suy nghĩ. Đối với Phật giáo Nam tông, tuy đọc tụng kinh tiếng Pali nhưng họ có thể hiểu ý kinh qua ngôn ngữ chuyển dịch, giải nghĩa. Trong khi đó, các bản kinh tông An Nam hành trì toàn chép bằng chữ Hán (như vài chục năm trước chư tăng Việt Nam thường dùng), và hiện tại có thêm các bản phiên âm bằng chữ Thái. Ở bản chữ Hán, nếu vị thầy nào giỏi tiếng Hoa thì có thể hiểu ý nghĩa kinh điển để giảng dạy và hành trì đúng tinh thần kinh dạy nhưng xem ra rất hiếm có những vị có thể hiểu ý kinh. Còn ở bản chữ Thái thì việc tìm hiểu ý nghĩa thật là khó khăn. Lý do thứ nhất là chưa có bản dịch và giải thích nào bằng tiếng Thái (chẳng hạn như quyển Nhị Khóa Hiệp Giải ở Việt Nam) để chư tăng tìm đọc. Thứ hai, khi phiên âm tiếng Việt ghi bằng chữ Thái có nhiều âm trại hoặc sai làm cho cơ hội hiểu trở nên khó khăn thêm. Do đó, hầu như chư tăng tông An Nam chỉ biết đọc tụng chứ không hiểu ý nghĩa kinh dạy điều gì mặc dù thuộc không thiếu một chữ. Một số vị có xu hướng tụng pha lẫn giữa âm Việt và Hán.

Nặng nghi thức cúng bái:

Có thể nói tông An Nam sống chủ yếu phụ thuộc vào cộng đồng người Hoa vì các chùa An Nam đa số nằm ở khu người Hoa và thường xuyên phục vụ nhu cầu cúng bái của họ. Người Hoa thì rất nặng hình thức cúng kiến nhất là tang ma nên khi phục vụ nhu cầu của họ sự sinh hoạt Phật giáo trở thành tôn giáo hữu thần, tín ngưỡng hơn là bản chất vốn có của đạo Phật. Đáng tiếc rằng đây lại là sinh hoạt chính và là nguồn sống chính của chư tăng thuộc tông này. Một mặt do ảnh hưởng của Phật giáo Nam truyền, một mặt vì không ai có đủ khả năng cải tiến bớt những điều không phù hợp nên hình thức sinh hoạt này vẫn còn duy trì đến ngày nay. Đây là một thách thức lớn của tông An Nam trong sự phát triển lâu dài.

Nhân sự:

Theo phong tục Thái, việc xuất gia rồi hoàn tục trở thành một Phật tử, một công dân tốt là chuyện bình thường. Sự hoàn tục diễn ra trong nhiều trường hơp, có khi là vài tháng, vài năm hay thậm chí hai ba chục năm sau khi xuất gia. Do ảnh hưởng của truyền thống tu tập mang nặng hình thức tự độ, khép kín nên khi vị nào càng lớn tuổi trừ vị trụ trì thì càng đơn độc thiếu người giúp đỡ nhất là khi bịnh tật. Cho nên, có nhiều vị sau một thời gian lâu ở chùa, chuẩn bị đủ điều kiện rồi thì hoàn tục về gia đình. Đề cập việc này để nói lên tính thừa kế trở nên khó khăn vì thiếu nhân sự nhất là những vị có khả năng có thể hiểu và giảng dạy Phật pháp. Đây là vấn đề lớn mà chư tôn đức tông An Nam có tâm huyết luôn trăn trở nhưng đến nay cũng chưa thực hiện được.

Thời gian đầu, cộng đồng người Việt đông cộng với sự qua lại từ Việt Nam tương đối dễ nên tông An Nam có người Việt trụ trì. Tuy nhiên, kể từ sau năm 1945 do tình hình chính trị phức tạp, dòng người Việt chạy qua lánh nạn quá đông khiến chính quyền Thái có nhiều chính sách hạn chế và kiểm soát. Do đó, từ năm 1964 về sau không còn người gốc Việt nào trụ trì ở chùa An Nam. Đó cũng là một khó khăn dẫn đến thiếu nhân sự biết tiếng Việt trong tông phái. Đồng thời, một khó khăn khác là các vị trụ trì hiện nay không biết tiếng Việt như đã đề cập, nhưng khi người Việt đến xin ở thì họ cũng e ngại vì sợ rằng sẽ bị chiếm chùa, mặc dù việc nhập tịch và xin visa vào không dễ chút nào.

Một số ý đóng góp:

Ta biết rằng bất cứ sự nghiệp gì muốn thành tựu thì yếu tố con người phải là yếu tố quyết định. Ở đây nhân sự thừa kế là yếu tố sống còn của tông phái này. Chính con người mới có thể giải quyết tất cả những thử thách và tận dụng cơ hội trên để phát triển tông phái. Vậy thì nhân sự ở đâu?

Người Thái:

Mở chương trình dạy tiếng Việt nhất là phương diện kinh điển tông phái hành trì cho chư tăng người Thái để họ có thể hiểu khi kế thừa sự nghiệp trong tương lai. Trong trường hợp những vị ấy không tiếp tục tu nữa thì cũng nên sử dụng cho việc giảng dạy cho các lớp sau.

Người Việt:

Mạnh dạn cung thỉnh chư tăng người Việt có khả năng thông hiểu Phật pháp và thông thạo tiếng Thái qua giảng dạy theo định kỳ.

Để đạt được mục đích này thì việc hợp tác trao đổi sinh viên là việc cấp bách và nên xúc tiến nhanh. Cần thành lập ban phụ trách để giới thiệu và hướng dẫn các thủ tục cho sinh viên theo học.

Khi nhân sự đủ thì tiến hành phát triển giáo dục và các hoạt động xã hội. Cải cách bớt những nghi thức mang đậm nét bản địa Trung Hoa, xây dựng môi trường tu học cho chư tăng và Phật tử.

Dịch nghĩa và giải thích các nghi thức hành trì để giảng dạy cho chư tăng và làm tài liệu cho tông phái.

Trở ngại hiện nay

Tuy nhiên, thách thức và cũng là trở ngại chính hiện nay là không có cộng đồng người Việt sinh sống quanh chùa hay chí ít đến chùa sinh hoạt. Chùa tồn tại và sinh hoạt được đều nhờ vào cộng đồng người Hoa. Do vậy, chư tăng dù có biết tiếng Việt cũng không sử dụng được vì không mấy ai đến chùa ngoại trừ thi thoảng có khách hành hương, du lịch từ Việt Nam đến tham quan, lễ bái ở một vài chùa.

Chính quyền và Phật giáo Thái quản lý Giáo hội, tông phái, chùa chiền rất chặt chẽ. Không một tu sĩ ngoại quốc nào được phép xây chùa trên đất Thái vì tất cả các chùa đều do Giáo hội và nhà nước quản lý. Để một ngôi chùa mới được hình thành và sinh hoạt, nó phải được đưa vào trong hệ thống quản lý Giáo hội và sinh hoạt theo sư quản lý ấy.

Đã có một số người Việt có nhã ý thành lập một ngôi chùa nơi đất Thái để bà con Việt kiều và người Việt khi đến Thái Lan có nơi sinh hoạt ấm cúng nhưng đó chỉ là ước mơ. Hiện tại, chưa có một chính sách nào cho phép việc này xảy ra. Thái Lan không cho tu sĩ ngoại quốc nhập tịch (chưa biết có ngoại trừ đặc biệt nào không) và chỉ cấp visa dài nhất là 1 năm cho các trường hợp du học sinh và sinh hoạt tôn giáo (có giấy bảo lãnh). Do vậy, không có tu sĩ Việt nào có đủ tư cách pháp nhân để đứng ra xây dựng và quản lý, sinh hoạt một ngôi chùa trên đất Thái. Trừ khi có sự hợp tác giữa chính phủ hai nước, may ra trường hợp trên có thể thành hiện thực.

Monday, September 5, 2011

Hoạt động giáo dục Phật giáo: đôi điều suy nghĩ

Đã 30 năm trôi qua, kể từ khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, một khoảng thời gian không quá ngắn nhưng cũng không quá dài cho sự củng cố và phát triển PGVN nói chung và ngành giáo dục Phật giáo nói riêng. Nói là 30 năm nhưng thực chất chỉ hơn phân nửa thời gian ấy Phật giáo hoạt động tương đối chính thức. Do vậy, việc hoàn thiện hệ thống giáo dục Phật giáo là một thách thức lớn. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không phải nằm ở thời gian mà là chính sách phát triển và phương thức đổi mới giáo dục Phật giáo. Đến nay, ngành giáo dục Phật giáo vẫn chưa có mô hình giáo dục phù hợp với sự phát triển của thời đại. Đó là một trăn trở lớn của Giáo hội, của Ban giáo dục và cả những người học Phật. Những trở lực nào đã làm trì trệ nền giáo dục và hướng đi nào để đáp ứng sự đổi mới?

Tình hình chung và vai trò giới hạn

Sau khi đất nước thống nhất, nền chính trị nước nhà quy về một mối và chi phối mọi sinh hoạt trong xã hội. Phật giáo cũng không phải là ngoại lệ. Ngành giáo dục Phật giáo tạm thời ngừng nghỉ và những thành tựu của nó trước năm 1975 bị gác lại hay chuyển mục đích sử dụng. Đến khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập thì các ban ngành mới được chính thức hoạt động dưới sự quản lý của Ban tôn giáo và sự giám sát của các ban ngành khác. Nhiệm vụ của giáo dục Phật giáo được trao cho một ban gọi là Ban giáo dục tăng ni. Tên của ban này đã xác định rõ là đối tượng của giáo dục Phật giáo chỉ gồm tăng ni, tức là giới hạn vai trò vốn có của Phật giáo là giáo dục mọi đối tượng có nhu cầu học Phật. Cái tên của ban này cũng làm nhiều người hiểu là chỉ có tăng ni mới cần được giáo dục, còn những đối tượng khác thì đã hoàn thiện. Từ đó đến nay, ban này nỗ lực hoạt động trong giới hạn của mình nhằm cung cấp nhân sự tài đức để đưa con thuyền Giáo hội đi lên. Những nỗ lực ấy đã đem đến những kết quả đáng kể, nhất là con số trường lớp được thành lập và tăng ni tốt nghiệp ra trường. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo và nguồn nhân lực có thể sử dụng được sau khi đào tạo thì dường như chưa có số liệu thống kê đánh giá. Ta hãy nhìn lại hệ thống tổ chức giáo dục để suy luận thành quả của nó ra sao.

Những bất cập của hệ thống giáo dục

Hệ thống trường lớp

Ngành giáo dục Phật giáo nếu nhìn từ sơ đồ, cơ cấu tổ chức trường lớp thì ta thấy rất bài bản gồm các cấp bậc từ thấp đến cao. Thấp nhất là Lớp sơ cấp, đến Trường trung cấp (cơ bản), Lớp cao đẳng, và Học viện (hay đại học) Phật giáo. Tuy nhiên, khi đi sâu vào tìm hiểu, ta lại thấy có những điều bất ổn (nhưng lại phản ảnh sự linh hoạt của chư tôn đức ngành giáo dục nhằm đối phó với cơ chế). Theo quy định trên thì hệ thống trường lớp phải được áp dụng đồng bộ trên toàn quốc. Thế nhưng, thực tế thì chỉ có một số tỉnh thành có lớp sơ cấp được mở với lý do đào tạo như lớp gia giáo tại chùa nhằm bồi dưỡng kiến thức cho tăng ni trong khi chờ đợi vào trung cấp. Khi tốt nghiệp trung cấp, tăng ni muốn tiếp tục học cao hơn thì hoặc là thi tuyển vào Học viện hoặc vào thẳng Lớp cao đẳng. Nói là Lớp cao đẳng mà không phải là Trường cao đẳng vì nó thực chất là trung cấp nối dài, trực thuộc Trường trung cấp. Ý tưởng này là do chư tôn đức thương tưởng tạo điều kiện cho tăng ni có cơ hội trau dồi thêm kiến thức chuyên môn Phật pháp. Đến cấp cao nhất trong Phật giáo là đại học thì nó cũng bị giới hạn ở mức cử nhân. Hiện tại đại học Phật giáo mới bắt đầu đào tạo sau đại học nhưng mang tính chất nội bộ. Dẫu sao cũng đáng khích lệ.

Chương trình đào tạo

Vì hệ thống trường lớp không đồng bộ nên chương trình giảng dạy ắt hẳn là không thể thống nhất về nội dung. Mỗi trường đưa ra chương trình đào tạo riêng và sự phân chia nội dung tất nhiên theo quan điểm của bổn trường. Khi hết trung cấp, tăng ni muốn đậu trong kỳ thi tuyển vào đại học Phật giáo thì phải nắm bắt thông tin, và tìm hiểu nội dung ôn thi thì mới có hy vọng cao. Lý do là nội dung đề thi tuyển sinh có khi chẳng ăn nhập gì với nội dung đã từng học dưới các Trường trung cấp nhất là môn việt văn và ngoại ngữ.

Thời gian tuyển sinh đào tạo

Theo quy định hiện nay, thời gian học sơ cấp là 2 năm, trung cấp 4 năm, cao đẳng 3 năm, học viện 4 năm. Một tăng ni sinh muốn hoàn tất chương trình cử nhân phải mất 10 năm liên tục, và hoàn tất cao đẳng phải mất 9 năm. Nếu tăng ni là ấu niên xuất gia, sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học vào học ngay chương trình Phật học thì chí ít 28 tuổi mới có cử nhân Phật học. Trường hợp tăng ni vừa học hai chương trình Phật học và thế học thì thời gian hoàn tất cử nhân có thể ngắn hơn nhưng chắc chắn không bảo đảm chất lượng, phần lớn xem nhẹ Phật học. Nếu những vị xuất gia muộn thì cứ như thế tính ra sẽ biết tuổi tốt nghiệp.

Điều đáng nói là các trường Phật học không chiêu sinh hàng năm mà cách 2 hay 4 năm một lần, cụ thể là 2 năm đối với sơ cấp, 4 năm hay hiện tại có nơi 2, 3 năm đối với trung cấp, 4 năm hay hiện tại là 2 năm đối với đại học. Nếu tăng ni học xong sơ cấp mà trung cấp đã khai giảng rồi thì phải chờ 4 năm sau hay hiện tại là 2 năm; đại học cũng tương tự. Thế thì thời gian cho một tăng ni tốt nghiệp cử nhân Phật học theo quy định hiện nay chí ít cũng phải trên dưới 30 – một độ tuổi quá già đối với trình độ ấy so với sinh viên bên ngoài chỉ khoảng 22 – 23.

Nhân sự điều hành, giảng dạy

Do đặc thù của Phật giáo nên nhân sự Phật giáo thường kiêm nhiệm nhiều chức vụ. Tuy nhiên, một vị hiệu trưởng mà không làm việc toàn thời gian cho trường lớp là điều đáng quan ngại cho sự giáo dục. Nếu vì lý do tế nhị là cơ chế thì chí ít vị phó hiệu trưởng thường trực phải là người làm việc toàn thời gian cho trường lớp. Nhìn vào quỹ thời gian làm việc người ta có thể thấy được phần nào chất lượng giáo dục. Đối với giáo thọ, họ phải có giáo án và kinh nghiệm giảng dạy nhất định. Nên có hợp đồng và trả lương phù hợp cho họ thì họ mới làm tốt. Nếu áp dụng chế độ công quả thì rất khó điều hành hiệu quả trường lớp. Rất tiếc, đây là cách làm hiện nay của giáo dục Phật giáo.

Chỉ tiêu tuyển sinh

Một trong những điều trường lớp quan tâm là số lượng tăng ni đăng ký học. Chưa có một quy định nào về chỉ tiêu tuyển sinh của các trường Phật học. Những thành phố lớn thì sĩ số vài trăm tăng ni trong khi các tỉnh xa thì chỉ chưa đầy 30 vị. Một lớp học với sĩ số gần 200 cùng học chung tại giảng đường và một lớp học chỉ hơn 20 vị thì được cho là đủ tiêu chuẩn trường lớp không!? Một số tỉnh cũng thích mở trường nhưng tăng ni không đủ nên phải vận động mọi lứa tuổi cho đông. Đây thực sự là gánh nặng cho các vị giáo thọ và chất lượng giáo dục.

Tiêu chuẩn đánh giá

Nói về đánh giá học tập thì thật nhiêu khuê vì chưa có tiêu chí đánh giá nào được áp dụng chung. Hầu hết đều do trường và cụ thể là do chính vị giáo thọ đánh giá. Không ai dám chắc là sự đánh giá của các vị là chính xác là đáng tin cậy trừ những bậc giáo thọ có kinh nghiệm về sư phạm. Trình độ trung cấp mà kiểm tra đánh giá chỉ bằng bài luận cuối khóa thì e rằng chưa ổn bởi họ cần kiểm tra thường xuyên và với hình thức trắc nghiệm kiến thức nữa. Trình độ cử nhân mà làm tiểu luận trên 4000 từ hay trên 10 trang A4 là quá giỏi. Một học kỳ làm khoảng 5 tiểu luận là bằng luận văn cử nhân rồi. Sau 4 năm học, họ sẽ rất giỏi nếu như đó là sản phẩm thật sự của họ. Chúng ta thật khâm phục các vị giáo thọ đã chịu khó hướng dẫn và đọc hết bài của sinh viên!?

Quản lý giáo dục

Có thể nói quản lý giáo dục Phật giáo là thiếu chuyên nghiệp, thiếu tầm nhìn hợp tác. Ở xã hội, ngành giáo dục quản lý từ bộ, xuống sở, rồi phòng sau đó là các cơ sở trường lớp. Từ đó, các chức vụ được bổ nhiệm như bộ trưởng, giám đốc sở, trưởng phòng, hiệu trưởng…để quản lý hoạt động giáo dục. Ở cấp tỉnh, do có nhiều trường học từ thấp đến cao nên mới có sở quản lý và sở chịu sự quản lý cấp cao hơn. Nếu như trong một tỉnh chỉ có một trường hay không có trường nào liệu các chức vụ ấy được đưa ra không. Chắc chắn là không. Thế mà trong Phật giáo lại có. Có nhiều tỉnh không có trường lớp Phật giáo nhưng vẫn có trưởng ban giáo dục tăng ni. Những nơi có trường Phật học thì đúng ra hiệu trưởng phải kiêm trưởng ban giáo dục tăng ni nhưng một số tỉnh thì không như vậy. Không biết các vị trưởng ban giáo dục tăng ni nơi không có trường Phật học và nơi có trường nhưng đã có hiệu trưởng, tiến hành giáo dục tăng ni bằng cách nào. Có cần cơ cấu đầy đủ các ban ngành cho tất cả các tỉnh thành không và cơ cấu để làm gì!?

Việc quản lý và lưu trữ hồ sơ của các trường Phật học cũng là điều đáng quan tâm. Ngoại trừ các trường đại học quản lý hồ sơ sinh viên tương đối tốt nhưng chưa có mã số sinh viên hay chỉ cấp cho các khóa học mới đây, hồ sơ tăng ni sinh ở các Lớp cao đẳng, và Trường trung cấp không ai biết được ngoại trừ chính trường ấy. Kết quả là tăng ni muốn chuyển trường khó mà chuyển được và bằng thật học giả là điều có thể đoán được. Hơn nữa, trong khi Giáo hội quy định tăng ni trụ trì phải đủ các điều kiện trong đó có yêu cầu văn bằng Phật học thì việc tiêu cực xảy ra là rất dễ hiểu. Muốn truy nguồn gốc bằng thật giả thì khó mà tìm được bởi cơ quan quản lý đâu có nắm hồ sơ lưu trữ.

Quan hệ hợp tác

Về nội bộ Phật giáo thì các trường không có sự liên kết nhau nên không thể trao đổi sinh viên lẫu nhau hay sinh viên muốn chuyển trường cũng không được. Về đối ngoại thì các trường đại học bên ngoài không công nhận văn bằng của ta trong khi một số nước quanh ta thì họ chấp nhận. Đó là một nghịch lý và là một sự bất công mà Phật giáo cần phải tranh đấu đòi hỏi quyền lợi cho sinh viên của mình.

Đổi mới hệ thống giáo dục

Củng cố hệ thống giáo dục

Giáo dục Phật giáo mạnh trước hết hệ thống trường lớp phải đồng bộ và thống nhất từ trên xuống dưới trong cả nước. Khi đã phân chia rõ ràng từng cấp bậc cụ thể thì sẽ dễ dàng định hướng nội dung chương trình cho từng cấp. Trong khi định hướng nội dung đào tạo, các nhà soạn thảo sẽ đưa ra mô hình đào tạo sao cho thích hợp theo nhu cầu của Phật giáo và xã hội. Có 2 mô hình phổ biến:

Một là đào tạo theo mô hình truyền thống khép kín mang tính chuyên môn Phật giáo dành cho những ai chuyên nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Thời gian 10 năm là đủ, sau đó tăng ni vừa nghiên cứu vừa trau dồi thêm tùy điều kiện riêng.

Hai là đào tạo theo mô hình tương đương với đại học thế tục. Những ai đáp ứng đủ những điều kiện về tuyển sinh thì đều được tham gia thi tuyển. Thời gian đào tạo như các đại học thế tục. Mô hình này đang còn trong giai đoạn tranh luận, chưa thống nhất.

Trong khi tăng ni tốt nghiệp phổ thông trung học có quyền thi tuyển vào các trường đại học thế tục thì đại học Phật giáo lại không chấp nhận. Làm như thế, vô hình trung, giáo dục Phật giáo đẩy con em mình ra ngoài để họ hòa mình vào thế tục. Lý luận rằng họ chưa đủ trình độ Phật học thì cứ đánh giá trình độ họ một cách công bằng và khoa học. Còn cho rằng họ chưa trải qua thời gian học tập cấp dưới nên bản chất người tu chưa thuần, dễ ngã mạn thì không thuyết phục bởi đâu phải ai cũng như vậy và cũng chưa có nghiên cứu nào chứng minh như thế. Vả lại, để tăng ni học ở các đại học thế tục thì họ không ngã mạn và thuần thục sao!?

Khi đã xác định mô hình đào tạo rồi thì bước tiếp theo là quy định về điều kiện thành lập trường lớp, quy chế đào tạo. Nếu ta không đủ quyền quy hoạch trường lớp thành các cụm thì ta đưa ra các quy định về tiêu chí trường lớp, chỉ tiêu chiêu sinh. Tỉnh thành nào đáp ứng điều kiện thì mở trường lớp, không thì tự giải thể hay sáp nhập vào các tỉnh thành lân cận để tạo thành cụm.

Về chiêu sinh hay tuyển sinh, nên mạnh dạn thực hiện hàng năm. Có thể ta giảm chỉ tiêu tuyển sinh thấp xuống nhưng tuyển sinh hàng năm thì vẫn đảm bảo số lượng sinh viên. Ví dụ: thay vì Học viện 2 năm tuyển sinh một lần lấy số lượng 600 sinh viên thì cứ mỗi năm tuyển sinh 1 lần lấy 300 sinh viên. Làm như vậy vừa giúp tăng ni bớt chán ngán chờ đợi, giữ được đà hứng thú học tập; vừa tạo cơ hội cho sinh viên nợ môn học có thể trả nợ sớm bằng cách theo học với khóa mới. Các trường trung cấp cũng phải tương tự như vậy. Điều này sẽ rất khó khăn cho các trường trung cấp vì đụng chạm tới lợi ích riêng của họ nên khó thực hiện nhưng đó là con đường phải đi nếu muốn đổi mới.

Để quản lý và tạo điều kiện cho tăng ni học tập thật sự thì các trường phải lưu trữ hồ sơ và trình lên ban giáo dục quản lý. Mỗi sinh viên phải có mã số, khóa học. Khi cần thiết tra cứu thì chỉ cần gõ vào địa chỉ của ban giáo dục là có thể biết thông tin cần thiết. Quản lý tốt sẽ hạn chế tình trạng không đáng có trong ngành giáo dục.

Biên soạn chương trình đào tạo khung

Sau khi đã có mô hình thì việc tiếp theo là biên soạn giáo án theo mô hình ấy. Điều này đã có nhiều ý kiến cụ thể rồi nên ở đây không bàn thêm.

Một điều cần lưu tâm khi soạn thảo là phải có chương trình thực hành bắt buộc với chuyên ngành đào tạo thường gọi là thực tập, khảo sát thực tế…Học lý thuyết mà không hướng dẫn thực hành thì trái với tôn chỉ Phật giáo là ‘tri hành hợp nhất’.

Chọn lựa nhân sự điều hành, giảng dạy

Nhân sự là nhân tố quyết định sự thất bại hay thành công của mọi tổ chức và trường lớp Phật giáo cũng không ngoài quy luật ấy. Nhân sự điều hành trường lớp phải là những người trực tiếp làm việc toàn thời gian cho giáo dục và có khả năng chuyên môn. Nếu nhân sự không chuyên môn và chỉ làm việc bán thời gian cho giáo dục thì sự thành công của trường lớp khó có hy vọng. Thành công ở đây là thực sự chứ không phải hình thức.

Về giáo thọ giảng dạy, Phật giáo chưa có cơ chế biên chế như nhà nước nên ta cứ hợp đồng rõ ràng, thời gian phục vụ và mức lương cụ thể. Có như thế mới đủ pháp lý để ràng buộc trách nhiệm các vị giáo thọ đối với sự nghiệp giáo dục, và tạo điều kiện cho họ nghiên cứu.

Mở rộng đào tạo

Như trên đã đề cập, trong khi tăng ni được phép học tại các trường thế tục thì người cư sĩ lại không được cho phép vào học tại các trường Phật học. Một số trường thế tục có khoa tôn giáo, khoa Phật học và mọi công dân đều có quyền theo học thì tại sao họ không được quyền học Phật học hay các ngành khác tại trường Phật học. Chúng ta phải kiên trì đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình để mở rộng, phát triển đại học Phật giáo. Đồng thời, chúng ta cũng phải đòi quyền lợi chính đáng về sự tôn trọng công bằng với các đại học thế tục vì hiện tại các đại học thế tục không chấp nhận bằng cấp của ta trong khi ta thì chấp nhận của họ. Muốn vậy, đại học Phật giáo phải đáp ứng các quy định của bộ giáo dục và không ngừng củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo. Tất cả phụ thuộc vào chính chúng ta.

Kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN là dịp chúng ta ôn lại chặng đường đã đi qua với những thành công và tồn tại. Từ đó, xây dựng chính sách mới phù hợp với thời đại nhằm khắc phục những bất cập và phát huy các giá trị thành công. Đây là cách thức xã hội đang làm. Liệu rằng sau khi kỷ niệm GHPGVN nói chung và giáo dục Phật giáo sẽ đổi mới! Thành quả tương lai sẽ trả lời thắc mắc ấy!

Saturday, September 3, 2011

Mối liên hệ giữa Nhà sư và Phật tử

Ngay khi còn tại thế, đức Phật đã xác lập vai trò của bốn chúng hay gọn hơn là hai chúng gồm xuất gia và tại gia. Chúng xuất gia (thường gọi là nhà sư) và chúng tại gia (thường gọi là Phật tử) được ví như đôi cánh không thể thiếu để nhấc đạo Phật bay lên, tiến lên, lan rộng ra vì sự lợi ích của số đông. Nếu một trong hai giới (chúng) bất an hay không có sự phối hợp nhịp nhàng và hỗ trợ nhau thì Phật giáo khó có thể vững mạnh và lan tỏa rộng khắp. Do vậy, xây dựng mối liên hệ tốt đẹp giữa hai giới ắt hẳn là điều những người con Phật chân chánh mong muốn và ủng hộ. Mối liên hệ ấy sẽ bền vững khi nó dựa trên những nguyên tắc Phật dạy và thích nghi với điều kiện văn hóa địa phương cụ thể.

Vai trò và bổn phận

Những nguyên tắc Phật chế về vai trò và bổn phận của mỗi giới được đề cập trong các bản kinh. Đối với hàng xuất gia hay nhà sư, vai trò của các vị ấy là hành trì lời Phật dạy để trở thành bậc đạo sư hướng dẫn Phật tử đi đúng con đường chân chánh. Để làm tốt vai trò ấy, nhà sư phải không ngừng trau dồi trí tuệ thông qua văn, tư, tu (tức nghe hay đọc rồi tư duy đúng đắn để áp dụng vào cuộc sống) và giới, định, tuệ (tức giữ giới, phát nguyện làm điều thiện, tu tập thiền định còn gọi là huấn luyện tâm thuần thục và phát triển trí tuệ); đồng thời, vun bồi phước đức thông qua việc dấn thân từ lời nói đến việc làm vì lợi ích cho tha nhân. Nhà sư thực hành hai đức tính trên một cách trọn vẹn thì xứng đáng là bậc đáng cung kính và nương theo.

Với hàng tại gia hay Phật tử, vai trò của các vị ấy là bảo vệ Phật pháp bằng cách hỗ trợ các nhà sư thông qua việc cúng dường thực phẩm; đồng thời, can ngăn hay không ủng hộ các nhà sư không hành đúng chánh pháp. Thực hiện vai trò ấy, Phật tử phải siêng năng trong công việc để tạo ra của cải vật chất nhằm xây dựng cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc và để thực hành cúng dường, bố thí. Ngoài bổn phận tự thân hộ trì, Phật tử còn phải tu tập và hướng các thành viên trong gia đình đi theo con đường chánh pháp, tạo nền tảng đạo đức vững chắc trong gia đình và cộng đồng.

Như vậy, vai trò và bổn phận của hàng xuất gia và tại gia được phân định rõ ràng, nhất là hàng xuất gia. Đức Phật chưa từng chủ trương hàng xuất gia trực tiếp hay gián tiếp làm ra của cải vật chất hay nói cách khác là làm kinh tế. Ngài chỉ khuyến khích các nhà sư trau dồi giới đức thông qua việc tu tập thiền định, phát triển đời sống giải thoát để trở thành bậc đạo sư tâm linh thực thụ, đáng được cung kính. Đời sống của đức Phật và thánh chúng thời Phật là sự minh chứng cho chủ trương này.

Theo dòng lịch sử, tuy có sự thay đổi về phương cách sinh hoạt của nhà sư do điều kiện lịch sử và phong tục tập quán địa phương khác nhau nhưng chủ trương của đức Phật vẫn là kim chỉ nam có giá trị. Điều đó có nghĩa là một khi nhà sư chưa phải là một bồ tát hay thánh tăng thực thụ thì vấn đề trực tiếp làm kinh tế dù với mục đích thiện vẫn là một thách thức lớn cho việc tu tập ‘vô ngã’, và nói theo thế gian là ‘lợi bất cập hại’. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng nếu nhà sư gián tiếp làm kinh tế thông qua vai trò cố vấn hay bậc thầy tư vấn cho hàng Phật tử thực hiện thì không phải là không chấp nhận được. Trong trường hợp như thế, hàng Phật tử cũng vẫn là người trực tiếp làm ra của cải và đóng vai trò quyết định đời sống vật chất của nhà sư. Nói cách khác, nhà sư hoàn toàn phụ thuộc vào hàng Phật tử về đời sống vật chất.

Việc xác định như thế có nhiều ý nghĩa và một trong những ý nghĩa quan trọng là buộc nhà sư phải luôn tiếp cận với Phật tử. Khi mà sự liên hệ với Phật tử được xem hay thực chất là sự sống còn của nhà sư thì nhà sư sẽ phải tinh tấn để làm tròn vai trò của mình.

Mối liên hệ giữa nhà sư và Phật tử

Có thể nói hình ảnh tăng đoàn đi khất thực hàng ngày, được đức Phật xác định là truyền thống ba đời của chư Phật, là một biểu tượng đẹp và cũng là biểu hiện dễ nhận thấy về sự liên hệ giữa nhà sư và Phật tử. Các nhà sư hàng ngày phải tiếp xúc với Phật tử để nhận phẩm vật cúng dường và chú nguyện cầu phước cho gia đình họ. Ngược lại, Phật tử phải chuẩn bị tâm thế tiếp đón nhà sư bằng việc chuẩn bị sẵn vật thực với lòng hoan hỉ và đầy trách nhiệm. Nói hoan hỉ và trách nhiệm bởi đây là việc làm tự nguyện, phát tâm và ý thức được giá trị cao đẹp của nó chứ không phải là sự ép buộc. Mối liên hệ này vẫn được duy trì ở các nước nam truyền.

Hình ảnh nhà sư khất thực và hình ảnh Phật tử dâng phẩm vật cúng dường đã trở thành nét văn hóa Phật giáo nam truyền. Nét văn hóa ấy phản ảnh sự gắn bó và hỗ tương giữa hai chúng. Chính sự gắn bó mật thiết này đã tạo nên sự ổn định trong cộng đồng Phật giáo nam truyền và cũng là biện pháp hữu hiệu nhất bảo vệ và phát triển cộng đồng Phật tử trước sự xâm nhập của các hình thái tôn giáo khác.

Bên cạnh sự liên hệ trực tiếp giữa nhà sư và Phật tử thông qua hình thức khất thực, họ còn sinh hoạt với nhau nơi ngôi chùa và thi thoảng tại tư gia. Ngôi chùa vừa là nơi nhà sư hướng dẫn Phật tử tu tập tâm linh, đạo đức; vừa là nơi diễn ra các lễ hội, nghi lễ cúng bái, đặc biệt là các lễ cầu phước và tang ma. Các nhu cầu này đã trở thành truyền thống không thể thiếu trong cuộc đời người Phật tử nên họ gắn bó với ngôi chùa, với các nhà sư một cách tự nhiên. Một khi đạo đức và văn hóa Phật giáo trở thành một phần cuộc sống không thể thiếu của người dân, hay nói rộng hơn, trở thành văn hóa dân tộc thì mối liên hệ hữu cơ giữa nhà sư và Phật tử được củng cố và có điều kiện phát triển bền vững. Sự lợi lạc của nó có thể nhìn thấy qua đời sống bình an của dân chúng. Đây là một bài học đáng lưu tâm.

Không như các nhà sư nam truyền, nhà sư thuộc Phật giáo bắc truyền do thích ứng với văn hóa bản địa nên không thể theo truyền thống khất thực và do đó, họ thiết lập mối liên hệ với Phật tử bằng những con đường mới. Để Phật tử đến chùa, các nhà sư phải đáp ứng những nhu cầu tu tập tâm linh và tín ngưỡng của Phật tử. Ngôi chùa – nơi các nhà sư ở trở thành trung tâm sinh hoạt vừa văn hóa, giáo dục, giải trí; vừa là nơi lễ bái, tín ngưỡng cầu nguyện.

Tuy nhiên, các vai trò văn hóa, giáo dục từng là thế mạnh của nhà chùa xem ra không còn phát huy hiệu quả do quá trình xã hội hóa và do tổ chức nhà chùa yếu kém. Điều mà nhà sư có thể và nên phát huy thế mạnh của mình là giáo dục đạo đức thông qua lời Phật dạy và đặc biệt là chính thân giáo của các nhà sư. Đây là yếu tố quan trọng tạo cơ duyên để nhà sư và Phật tử liên hệ, hỗ trợ lẫu nhau một cách chính đáng.

Ngược lại, các vai trò phục vụ tín ngưỡng, nghi lễ là phượng tiện lại trở nên thịnh hành nơi các ngôi chùa ở xứ Á đông. Đa số Phật tử ngày nay đến chùa và liên hệ với nhà sư đều có liên quan đến mục đích phục vụ nhu cầu này. Nhà sư dù muốn hay không cũng phải đáp ứng nhu cầu ấy trước khi nghĩ đến vấn đề chính là hướng dẫn tu tập tâm linh. Bằng sự thích nghi này, nhà sư và Phật tử có thể tạo mối liên hệ và hỗ tương nhau trong cuộc sống hằng ngày.

Từ sự khát quát trên, ta thấy rằng chủ yếu mối liên hệ giữa nhà sư và Phật tử hiện nay là dựa trên nhu cầu tu tập đạo đức, phước báo và lễ nghi, tín ngưỡng. Trong đó, nhu cầu cầu nguyện phước báo, tín ngưỡng trở nên phổ biến hơn hết. Do vậy, việc tìm các giải pháp thích hợp để làm mới, làm mạnh sinh hoạt Phật giáo để tạo sự liên hệ giữa nhà sư và Phật tử gần gũi hơn, gắn bó hơn là nỗi ưu tư chung của những người con Phật. Nhân đây, người viết đưa ra một số ý đề nghị để tham khảo như sau:

Tiếp tục củng cố vai trò của nhà sư và Phật tử như đã trình bày

Ngôi chùa và nhà sư cần thay đổi cách quản lý sinh hoạt cho hiệu quả, tránh tình trạng thao túng cá nhân, mạnh ai nấy sống.

Ngôi chùa nên hoạt động như là trung gian điều phối các vấn đề như từ thiện (tiếp nhận tài vật và chia sẻ cho người nghèo thiếu), giới thiệu công việc cho Phật tử (trong cộng đồng Phật tử nên tạo công việc cho nhau thông qua kênh tư vấn, giới thiệu là ngôi chùa), làm công tác hòa giải các bất hòa trong cộng đồng Phật tử, là nơi chia sẻ và an ủi những mất mát của Phật tử, và đặc biệt là nơi tạo điều kiện cho con em Phật tử học tập. Ngôi chùa và nhà sư chỉ cần làm một trong những này là đã xây dựng mối liên hệ trên rồi.

Tạo mối sự gắn bó giữa nhà sư và Phật tử thông qua các hình thức xây dựng cộng đồng Phật tử vững mạnh (mỗi ngôi chùa phải có một cộng đồng Phật tử ổn định), tổ chức sinh hoạt cộng đồng Phật tử thường niên, phân chia khu vực để thường xuyên quan tâm thăm hỏi và hỗ trợ lẫn nhau khi trong cộng đồng Phật tử có hữu sự.

Sự phát triển bền vững của một ngôi chùa (cơ sở Phật giáo) có thể được đánh giá qua mối liên hệ giữa nhà sư và Phật tử. Khi mối liên hệ ấy mạnh thì ngôi chùa sẽ mạnh, và do đó Phật giáo thịnh. Ngược lại, mọi người đều hiểu.